Thứ Bảy, 15 tháng 11, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương 23)

 

“Thạch Bi Sơn” hay “Thạch Đầu Ký”?

Ngắm Tháp Chàm, ngẫm về lẽ thịnh suy

Bữa ấy, đang đi trên đường thì chợt Tam Văn đưa tay chỉ về phía xa xa, nói:

- Trên ngọn núi kia có một tấm bia kìa thầy!

Thầy Thất Sách đưa mắt nhìn theo. Thấy trên đỉnh núi ấy có một tảng đá rất to, nom giống hệt như là một tấm bia vậy. Quanh tảng đá ấy, mây trắng là là bay, thấp thoáng, ẩn hiện như tiên cảnh.

- Đó là núi đá bia, hay còn gọi là “Thạch Bi Sơn”. Tam Văn! – Thầy Thất Sách nói – Tảng đá ấy cao những 80 mét cơ đấy!

- Vậy là cao bằng một toà nhà hai mươi tầng rồi còn gì?!

- Phải! Nếu tính từ mặt đất lên, ngọn núi ấy phải cao đến 706 mét.

- Chà!...Chà! Cao thật là cao! – Tam Văn lẩm nhẩm.

– Con có biết vì sao người ta lại gọi là “Thạch Bi Sơn” không? – Thầy Thất Sách hỏi.

- Vì tảng đá ấy nom giống như tấm bia chứ gì?! – Tam Văn nhanh nhảu đáp.

Thầy Thất Sách gật đầu:

- Cũng một phần như vậy. Nhưng ở đây ý trời và lòng người đã hoà hợp với nhau. Tạo hoá đã tạo ra tảng đá, còn con người thì lại sử dụng nó như là một tấm bia để khẳng định chủ quyền đất nước vậy. Con có muốn ta kể về sự tích ấy chăng?

- Thầy kể đi! – Tam Văn háo hức.

Thầy Thất Sách vuốt râu:

- Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã cất quân Nam chinh qua đây. Khi nhìn lên đỉnh núi, thấy có tảng đá giống như hình một tấm bia, ông liền nảy ra một ý tưởng tuyệt vời mà sau này đã trở thành sự tích bất hủ. Thế là nhà vua liền sai quân lính leo lên núi và khắc chữ vào tảng đá ấy, coi như đó là một tấm bia khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Đại Việt ta. Từ đó, ngọn núi kia mới có cái tên như ta đã biết vậy!

- Câu chuyện hay quá! – Tam Văn xuýt xoa. Rồi như sực nhớ điều gì, chú vỗ tay vào trán, nói – Nếu như con nhớ không lầm, lúc đi qua Hải Vân Quan, thầy cũng đã từng nhắc đến tên vị vua này rồi thì phải. Bây giờ lại có thêm một ông vua Lê Thánh Tông nữa. Vậy là có hai ông vua trùng tên với nhau hay sao?

- Con nói đúng. Tam Văn! Hai ông vua ấy không chỉ trùng tên với nhau, mà còn là cùng một người nữa – Thầy Thất Sách mỉm cười, nói - Lê Thánh Tông là một vị minh quân. Với tài văn thao võ lược của mình, ông đã tạo ra một triều đại thái bình, thịnh trị trong lịch sử nước nhà. Và cũng chính ông đã cho biên soạn bộ luật Hồng Đức nổi tiếng, một bộ luật được giới sử gia sau này đánh giá là tiến bộ và quan trọng bậc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta vậy.

Vậy là đã rõ rồi, vì thế mà Tam Văn cũng không hỏi gì thêm nữa. Câu chuyện của thầy khiến chú nhìn ngọn núi kia với một ánh mắt khác hẳn. Đối với chú, giờ này nó đã trở nên linh thiêng và đậm chất huyền sử chứ không còn là một tảng đá vô tri vô giác nữa.

Đi thêm được một thôi đường, thầy Thất Sách lại cất tiếng:

- Nhìn tấm bia đá này, ta lại nhớ đến “Thạch Đầu Ký”, hay còn gọi là “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần. Đó là một tác phẩm trong tứ đại danh tác của nền văn học Trung Hoa vậy. Tác giả đã mượn sự tích “Nữ Oa vá trời” để mở đầu cho câu chuyện của mình. Nữ Oa luyện được tất cả năm vạn lẻ một viên đá. Viên linh thạch còn thừa này được đưa xuống hạ dưới và đặt nằm chênh vênh trên một ngọn núi. Tảng đá đó sau này đầu thai thành Giả Bảo Ngọc, một nhân vật chính trong tác phẩm. Giả Bảo Ngọc yêu Lâm Đại Ngọc (Vốn là một cây tiên trên trời đầu thai hoá thành). Mối tình ngang trái và tươi đẹp ấy đã lấy hết nước mắt của người đương thời cũng như của cả đời sau. Nội dung tác phẩm nói về cuộc sống xa hoa của một đại gia đình quý tộc trong xã hội phong kiến Trung Hoa xưa. Từ chỗ vinh hoa phú quý tột đỉnh, tới chỗ sa sút lụi tàn trong phút chốc. Sự biến đổi ấy đã làm đảo lộn cuộc sống và số phận tất cả những con người sống trong đó. Qua tác phẩm bất hủ ấy, tác giả muốn nhắn nhủ tới người đọc rằng, cuộc sống vật chất con người, tuy giàu sang phú quý thật đấy, nhưng cũng chỉ giống như một giấc mộng phù du nơi trần thế mà thôi.

o0o

Con đường dài và rợp bóng cây. Xe cộ lúc nào cũng lưu thông ồn ào, không ngớt. Tiếng lốp ô tô chà trên mặt đường ràn rạt, mùi của cao su nung nóng và của nhựa đường quyện vào nhau khét lẹt, gây nên một cảm giác vội vã, gấp gáp. Hai thầy trò Tam Văn đi sát vào lề đường, vừa để tránh xe cộ vừa tận dụng bóng râm của những thân cây cao lớn bên đường. Mới khoảng 9 giờ sáng, vậy mà trời đã nóng như nung, như đốt lên thịt da người ta.

Về lý thuyết mà nói, bộ quần áo rằn ri và chiếc mũ sắt của Tam Văn rất nóng khi diện vào mùa hè. Hậu quả là mồ hôi mồ kê chú lúc nào cũng tuôn ra ròng ròng, đến nỗi vừa đi chú vừa phải đưa tay lên vuốt mặt liên tục. Thêm vào đó, đôi giày bốt cao cổ cũng là nguyên nhân khiến chú cảm thấy bức bối, khó chịu khi phải đối mặt với cái nắng nóng phương Nam. Nếu như trước đây chú tự hào về bộ quân phục rằn ri bao nhiêu, thì giờ đây nó đang làm khổ làm sở chú bấy nhiêu. Bộ đồ ấy diện vào thì oách thật, nhưng lại nóng ơi là nóng. Thế mới biết, cái gì cũng có tính hai mặt của nó cả. Một tờ giấy cũng có hai mặt, đồng tiền cũng có mặt trước mặt sau, ngay đến cả tấm huân chương cũng có mặt phải, mặt trái kia mà. Vậy nên, về trang phục thì Tam Văn bất lợi hơn thầy mình rất nhiều. Trang phục của thầy Thất Sách tuy giản dị, nhưng xét cho cùng, nó lại phù hợp với mọi điều kiện thời tiết. Này nhé, cái mũ lá rộng vành rất hợp để đi nắng, cái áo Ba đờ xuy khoác hờ cũng vậy, nó có tác dụng như là một lớp giáp chống nóng rất hữu hiệu. Đôi giày vải của thầy thì khỏi phải nói, nhẹ nhàng và mát về mùa hè, nhưng lại ấm áp vào mùa đông. Nói chung, về việc lựa chọn trang phục, thầy Thất Sách đã đi trước chú một bước rất dài và rất xa vậy. Điều đó cũng dễ hiểu thôi, bởi đâu phải tự nhiên mà người ta lại đi gọi thầy là sư phụ kia chứ. Đã là sư phụ thì đầu óc dĩ nhiên là phải thông minh và vượt trội hơn hẳn đệ tử là điều tất nhiên rồi.

Từ nãy đến giờ, Tam Văn đã để ý và đếm được là họ đã đi qua ba cái quán cà phê võng bên đường tất cả. Những quán cà phê ấy, lúc nào cũng có những cô gái trẻ trung, xinh đẹp đi lại phục vụ tận tình. Ngoài ra, nếu có mệt, đã có những chiếc võng để cho khách đường xa đặt lưng nghỉ ngơi. Chú ước gì lúc này ghé vào một ngôi quán như thế, vừa uống li cà phê đá hoặc nước mát, vừa tán chuyện gẫu với mấy cô phục vụ xinh đẹp thì thú biết mấy. Nhưng khổ nỗi, thầy của chú lại kỷ luật rất nghiêm. Thầy chỉ thị rằng, đi đường khát thì đã có nước mang theo trong túi, cứ việc lấy ra mà uống. Không phải ghé quán sá làm gì cho tốn kém và mất thời gian cả. Chỉ khi nào có sự đồng ý của thầy thì họ mới được ghé vào. Thường thì những ngôi quán ấy đều có nét phong cảnh và bài trí hao hao như miêu tả trong các tiểu thuyết kiếm hiệp vậy. Có điều, nếu là vào quán rượu thì thầy Thất Sách lại gọi người phục vụ là “Tửu Bảo”, còn với quán cà phê thì gọi cô nhân viên là cô nương. Mỗi lần như thế, Tam Văn lại phải đứng ra giải thích với họ, rằng thầy chú là người vùng khác mới đến, vậy nên mới có sự khác biệt trong ngôn ngữ và cách xưng hô như thế. Dĩ nhiên là khi nghe xong, người ta đều cười xoà mà thông cảm cho thầy. Vì cái chuyện bất đồng ngôn ngữ giữa các vùng miền vốn là điều rất bình thường, chẳng có gì đáng để mà chê trách và phàn nàn cả.

Đương lúc mơ màng, bất giác Tam Văn nghe có tiếng thầy Thất Sách cất lên:

- Này, Tam Văn! Con có biết là chúng ta đang ở trên đất nước nào không?

- Chẳng phải đây là đất nước Việt Nam của chúng ta hay sao? Thầy hỏi gì mà lạ vậy? - Tam Văn mở to mắt, ngạc nhiên.

Thầy Thất Sách vuốt râu:

- Phải! Đây là Việt Nam. Nhưng nếu là cách đây hơn ba trăm năm, chúng ta đang bước đi trên một đất nước khác đấy. Đó chính là vương quốc Chăm Pa hùng mạnh và vang bóng một thời vậy.

- Đây là lần đầu tiên con nghe nói đến đất nước này đấy! – Tam Văn thú thật.

- Đó là một quốc gia láng giềng với Đại Việt ta về phía nam. Cương vực lãnh thổ từ đèo Ngang trở vào đến cực nam Trung Bộ. Về văn hoá thì họ chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ cổ đại với các tôn giáo lớn như: Đạo Hindu, đạo Phật, đạo Hồi…

Thấy Tam Văn vẫn tỏ ra ngơ ngác, chưa hiểu, thầy nói thêm:

- Để lát nữa ta sẽ đưa con đến thăm một kiến trúc độc đáo của người Chăm. Đó chính là “Tháp Chàm”. Nó là tất cả những gì còn sót lại của vương quốc Chăm Pa vĩ đại, là biểu trưng cho nền văn hoá rực rỡ đã bị lụi tàn ấy. Đến khi đó, con sẽ hiểu được những gì ta nói!

Đến một nơi phong cảnh thoáng đãng, thầy Thất Sách chỉ tay lên ngọn đồi trước mặt, nói:

- Trên kia là Tháp Chàm! Bây giờ chúng ta sẽ đi lên đó để tìm hiểu và tham quan!

Đó là một toà tháp hình tứ giác, màu đỏ sậm và cao đến bốn tầng. Càng lên cao, tháp ấy càng thon nhỏ dần, nom như một búp hoa đang nở chúm chím trên cành vậy.

Sau khi đã leo lên những bậc đá dốc thoải, hai thầy trò Tam Văn đứng trước ngôi tháp cao sừng sững trên đỉnh đồi gió lộng.

Toạ lạc trên một địa thế bằng phẳng, ngôi tháp quay mặt về hướng đông, uy nghiêm và vững chãi. Cửa tháp hình vòm, trên đó có đẽo khắc hình hoa lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh…một cách sinh động và rất mực công phu.

- Tháp này thờ thần Shiva, một vị thần có quyền uy tối thượng trong văn hoá người Chăm. Công trình này đã đứng đây hàng ngàn năm, là biểu tượng của nền văn hoá cổ Chăm Pa còn sót lại. – Thầy Thất Sách nói.

- Chà! Đã hàng ngàn năm! – Tam Văn xoa tay, xuýt xoa.

- Văn hoá là những gì còn lại khi mà tất cả những thứ khác đều đã mất đi vậy! – Thầy Thất Sách nói thêm.

Vương quốc Chăm Pa được hình thành từ năm 192 và kết thúc vào năm 1832. Họ từng phát triển cường thịnh và có một nền văn minh chói sáng rực rỡ, đáng để tự hào. Minh chứng là những toà tháp còn tồn tại mãi đến ngày nay, mà khoa học hiện đại vẫn chưa thể giải mã được. Khi quan sát những ngọn tháp này, người ta không thể nhìn thấy vữa, nhưng lại có độ kết dính vô cùng bền chắc, vượt qua cả nắng gió thời gian. Các nhà khoa học và khảo cổ cho rằng, cư dân Chăm vốn đến từ Nam Đảo (tức là indonesia ngày nay). Họ đã vượt biển để tới đây, vì vậy mà kỹ năng đóng thuyền và hoạt động đánh bắt thuỷ sản của họ rất phát triển. Cư dân Chăm cũng là những thuỷ thủ giỏi, thiện nghệ trong việc đi thuyền và làm chủ biển khơi vậy.

Hai thầy trò bỏ gậy, hành lý và ngồi xuống một bậc đá, cùng hướng mắt nhìn xuống phía dưới. Cách đó không xa, họ nhìn thấy những ngôi làng chăm sống quần tụ, trù phú và bình yên. Nhà cửa, cây cối đan xen, tựa như một bức tranh thiên nhiên cẩm tú.

- Ta như nhìn thấy, trong những ngôi làng kia, những cô gái chăm xinh đẹp đang nhảy múa và uốn lượn tấm thân mềm mại bên ánh lửa bập bùng. Những bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Chăm đang chế tác những đồ gốm giá trị và tinh xảo. Cũng chính từ nơi đây, những chàng trai Chăm khoẻ mạnh từ biệt người yêu để lên đường tòng quân, đóng góp cho quân đội những chiến binh dũng cảm và thiện chiến. Ôi, sinh – diệt, thịnh - suy, đó vốn là quy luật xưa nay của tạo hoá vậy!...

- Thầy lại đang nhìn đời bằng tâm tưởng rồi?! – Tam Văn bụm miệng, nói.

- Phải! Ta đang nhìn bằng tâm tưởng! – Thầy Thất Sách nói – Tam Văn! Con có biết vì sao hầu hết các tháp Chăm đều được xây dựng trên những đỉnh đồi không?

- Vì sao hở thầy?

- Như ta đã nói. Tháp Chăm được xây dựng để thờ thần linh, đôi khi còn thờ cả những vị vua tài giỏi đã có công lao to lớn đối với đất nước nữa. Vì vậy mà họ chọn nơi cao ráo, phong thuỷ đẹp, là nơi giao hoà giữa trời và đất. Hơn nữa, cảnh trí nơi đây hết sức hùng vĩ và xinh đẹp. Từ đây, có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng lớn phía dưới, thật xứng đáng là nơi để cho các thần linh sinh sống và cư ngụ vậy.

Thấy Tam Văn gật gù, thầy Thất Sách nói tiếp:

- Về cuộc giao tranh giữa Chăm Pa và Đại Việt ta. Đó là những cuộc chiến giằng co, khốc liệt, kéo dài qua các triều đại và thời kỳ khác nhau. Đời nhà Trần, vua Po Binasuor (Còn có tên gọi khác là Chế Bồng Nga) là một vị vua kiệt xuất và có tài năng quân sự, đã từng 12 lần đem quân chinh phạt Đại Việt. Trong đó 3 lần đánh thẳng vào Thăng Long, tức là kinh thành nước ta lúc bấy giờ. Nhưng rồi thời gian sau đó, vương quốc Chăm Pa ngày một suy yếu và mất dần lãnh thổ về tay Đại Việt, khiến cho họ nhiều lần phải thiên đô. Đến năm 1832, vương quốc Chăm Pa chính thức bị diệt vong, khi vua Minh Mạng cho sát nhập hẳn “Thuận Thành Trấn” (vùng đất tự trị cuối cùng của người Chăm Pa về phía nam) vào nước ta.

- Hai quốc gia Chăm Pa và Đại Việt đánh nhau qua lại như thế. Việc hành quân vượt qua đèo Hải Vân cũng khó khăn và vất vả đấy thầy nhỉ?

- Phần lớn những cuộc hành quân ấy thường đi bằng đường biển. Tam Văn! Các chiến thuyền sẽ chở quân đội vượt biển, sau đó đổ bộ lên đất liền. Cách ấy thuận tiện và nhanh chóng hơn là vượt qua đèo Hải Vân rất nhiều.

- À! Ra vậy! – Tam Văn xoa cằm, thú vị. Có được kiến thức ấy, đối với chú mà nói, cũng chẳng khác nào việc nhà bác học Archimedes khám phá ra nguyên lý về lực đẩy cả.

Thầy Thất Sách cho rằng, vạn vật trên đời đều có sinh có diệt. Các quốc gia cũng không phải là ngoại lệ, cũng có hình thành, phát triển và diệt vong. Suốt chiều dài lịch sử, nhiều quốc gia đã từng tồn tại và cũng đã biến mất hoàn toàn khỏi bản đồ thế giới. Một quốc gia, cũng như một triều đại, tất cả đều phải tuân theo quy luật vận động tự nhiên ấy của tạo hoá.

Cùng với thời gian, có những quốc gia mới ra đời và cũng có những quốc gia biến mất. Những vùng đất có thể bị sát nhập hoặc chia tách. Có những quốc gia bị thu hẹp về diện tích, cũng có những quốc gia bành trướng và mở rộng lãnh thổ. Thịnh – suy, sinh – diệt, quá trình ấy không bao giờ kết thúc, và cũng là quy luật tất yếu của thời gian vậy. 

Thứ Ba, 11 tháng 11, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương 22)

 

Nghe kể sử, bồi hồi nhớ về “Tây Sơn Tam Kiệt”

Côn quyền đua sức, thầy Thất Sách được truyền thụ võ công

Thầy Thất Sách chắp tay, đáp:

- Tại hạ là hiệp sĩ Thất Sách. Trên đường kinh lý qua đây, vô tình nhìn thấy sư phụ biểu diễn thương pháp hay quá, vì không cầm lòng đặng nên mới buộc miệng thốt lên như vậy. Nếu có điều chi mạo muội, xin lão sư phụ hãy rộng lòng bỏ quá cho!

Võ sư nói:

- Không hề chi! Nếu ngài đã lĩnh hội được tinh hoa thương pháp của ta như thế, ắt hẳn phải là người trong giới võ lâm. Vậy xin mời hãy ghé qua đây để cùng diện kiến!

Hai thầy trò Tam Văn men theo một con ngõ dài với hai bờ mạn hảo được cắt xén ngay ngắn để đi vào bên trong. Võ đường là một khoảng sân rộng nằm trong khuôn viên tư gia của lão võ sư. Phía trước có một vườn cây ăn trái xanh tốt. Một bên giáp với cánh đồng lúa mênh mông. Cạnh sân, có một cái giếng cổ, loại có ròng rọc để kéo nước lên. Lùi sâu vào trong một chút là ngôi nhà ngói khang trang, tường xanh, thềm được lát gạch hoa sáng bóng. Phía trước thềm đặt một hàng chậu cảnh với đủ các thế bonsai như: Tùng phụ tử, trúc quân tử, Tam Đa, thác đổ, văn nhân…được chủ nhân chăm sóc cầu kỳ và đẹp mắt. Ở đầu hồi có một cây Mai cao lớn, trên cành vẫn còn những nụ hoa nở chúm chím như để đón chào xuân muộn.

Võ sư đứng đón khách ngay trước võ đường.

- Xin chào nhị vị khách quý!

- Chào lão võ sư! – Thầy Thất Sách cũng chắp tay, cung kính.

Tiền lễ hậu đấu, vừa dứt lời, võ sư liền cắp ngang ngọn giáo, nói:

- Xin được tiếp chiêu để mở rộng tầm mắt!

Thầy Thất Sách cũng vểnh râu, vung thanh trường côn, đáp:

- Được!

Bất ngờ, lão võ sư hét lên một tiếng, rồi hướng ngọn thương về phía hiệp sĩ mà đâm thẳng ngay vào. Lập tức, thầy Thất Sách cũng múa tít trường côn, xoay người đón đỡ. Hai người, một thương, một côn cùng múa vun vút, vun vút. Khi đâm, khi đỡ, lúc tiến, lúc lùi, nhịp nhàng như khiêu vũ. Vừa dũng mãnh vừa mãn nhãn, thật chẳng khác nào hai mãnh hổ đang quần nhau trên đỉnh núi vậy.

Tam Văn đứng lùi vào tận góc tường, cạnh gốc cây Mai, vừa để xem, vừa để không ảnh hưởng đến cuộc tỉ thí đang diễn ra. Các đệ tử ngồi phía dưới thì ai nấy đều trố mắt ra để xem. Thi thoảng, hễ đến chỗ hay là họ lại vỗ tay tán thưởng, cùng những tiếng “Ồ! À!” vang lên đầy thán phục.

Được chừng ba hiệp, cả hai võ sĩ cùng dừng tay rồi chào nhau theo kiểu võ thuật. Cuộc tỉ thí võ công kết thúc. Thật là một màn ra mắt đầy hứng khởi và đậm chất kiếm hiệp vậy.

Lão võ sư trao ngọn thương cho một đệ tử, rồi vỗ tay, nói:

- Tốt lắm! Giỏi lắm! Thật không hổ danh là hiệp sĩ trứ danh!

Thầy Thất Sách thu ngọn côn, rồi cúi đầu đa tạ võ sư và các đệ tử đang ngồi xem phía dưới.

Lão võ sư nói tiếp:

- Trường côn vốn không phải là thứ binh khí sát thương. Nhưng nếu nằm trong tay một người lão luyện thì cũng rất chi là lợi hại. Ngài đây sử dụng trường côn hay và điêu luyện lắm!

Thầy Thất Sách chắp tay, khiêm nhường:

- Được giao đấu với lão võ sư đây cũng thật là mở rộng tầm mắt. Hân hạnh!...Hân hạnh!....

Võ sư quay ra nói với học trò:

- Các đệ tử hãy tiếp tục luyện tập đối kháng. Ta đây còn phải bận tiếp khách quý một lúc!

Đệ tử dạ ran, ồn ào đứng lên, bắt đầu cùng nhau luyện tập. Kẻ đánh, người đỡ, kẻ ôm, người kéo. Tiếng nhào lộn, tiếng quăng quật huỳnh huỵch cứ thế vang lên ồn ả khắp võ đường.

Chủ và khách cùng ngồi xuống bộ bàn ghế được kê dưới gốc cây Mai chỗ đầu hồi. Tam Văn cũng bỏ túi, đứng hầu bên cạnh chủ.

- Đi đường vất vả. Trang phục chưa được tề chỉnh. Mong lão sư phụ hãy rộng lòng bỏ quá cho! - Thầy Thất Sách vắt cái áo Ba đờ xuy lên thành ghế, nói.

- Không sao! Những bậc chân nhân thường ẩn tàng trong lớp vỏ bọc sơ sài. Họ chỉ chú trọng tu luyện chứ đâu để ý đến hình thức bên ngoài. Đúng như câu “Chân nhân bất lộ tướng” vậy! – Võ sư đáp.

Thầy Thất Sách nói:

- Lão võ sư đây quả là cao thủ thoái ẩn nơi thôn dã. Nhìn qua chỉ giống như lão nông quê mùa, nhưng lại nắm trong tay cả một kho tàng tinh hoa võ thuật. Nếu như gặp thời, ắt hẳn phải là một đại tướng quân tài ba nơi trận tiền vậy!

- Luyện võ là để giữ mình và rèn luyện sức khoẻ. Hằng ngày, lúc nhàn rỗi, tôi truyền dạy võ công cho lớp trẻ để khỏi bị thất truyền về sau. Như vậy là thấy vui rồi, cũng không mong muốn gì hơn nữa! Đại trượng phu, gặp vận thì ra giúp đời, nếu không thì cũng an vui với cuộc sống điền viên. Tuỳ duyên mà đón nhận, cũng như cây cối nương theo mùa mà tồn tại, phát triển vậy.

- Người luyện võ công, dù là bất kỳ môn phái nào. Nếu đạt đến đỉnh cao tinh tuý như sư phụ đây thì cũng đều là tuyệt kỹ công phu cả! – Thầy Thất Sách nói.

Một đồ đệ mang nước ra, rót mời hai người.

Lát sau, lại có một tiểu đồ đệ khác mang trái cây ra mời khách.

Thầy Thất Sách hỏi:

- Xin được hỏi lão sư phụ: Chẳng hay môn phái mà ngài đang truyền dạy đây là gì vậy?

- Lò võ chúng tôi đây chính là Tây Sơn phái! – Lão sư phụ đáp.

Thầy Thất Sách nghe xong thì tỏ ra vô cùng quan tâm. Từ lâu, ông đã rất ngưỡng mộ phong trào Tây Sơn khởi nghĩa. Một triều đại tuy ngắn ngủi nhưng đã lập được vô số những võ công hiển hách. Bởi vậy mà thầy chắp tay, nói:

- Nhắc đến Tây Sơn phái, lại khiến tôi nhớ đến “Tây Sơn Tam Kiệt”. Họ là võ tướng, đồng thời cũng là những lãnh tụ tài giỏi của phong trào khởi nghĩa lừng lẫy một thời!

- Đúng vậy! Họ đều là những anh tài võ học, vậy nên được thiên hạ gọi là “Tam Kiệt”. Trong đó hoàng đế Nguyễn Nhạc sử dụng song kiếm rất tài tình, Đông Định Vương Nguyễn Lữ thì sử thương pháp tuyệt luân, còn Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ thì lại vô cùng nổi tiếng với thanh đại đao của mình – Võ sư vuốt râu, nói.

- “Loạn thế xuất anh hùng” vậy! – Thầy Thất Sách nhận xét.

Võ sư nhấp một ngụm trà, rồi ngồi trầm ngâm. Dường như ông đang suy nghĩ về một điều gì đó rất lung. Lát sau, ông bắt đầu kể, giọng đều đều:

- Chẳng dấu gì ngài đây! Tổ tiên chúng tôi vốn khi xưa theo tiên chúa Nguyễn Hoàng vào Nam để mở mang bờ cõi và sinh cơ lập nghiệp. Dòng họ tôi cũng có nhiều người làm tướng lắm, từng lập được nhiều công trạng cho đất nước…

- Dòng dõi lão võ sư đây thật là vẻ vang! – Thầy Thất Sách nói.

Võ sư nói tiếp:

- Nửa cuối thế kỷ 16, rồi đến thế kỷ 17, 18 là giai đoạn lịch sử phức tạp và rối ren nhất trong lịch sử nước nhà. Đàng Ngoài thì có vua Lê Chúa Trịnh. Rồi chiến tranh Lê – Mạc. Đàng Trong thì có chúa Nguyễn hùng cứ. Sau đó là Trịnh – Nguyễn phân tranh, nồi da xáo thịt. Đến khi đàng trong suy yếu, lại nổi lên phong trào Tây Sơn khởi nghĩa…

Thầy Thất Sách ngồi chống cằm, chăm chú lắng nghe. Lịch sử quân sự, chiến tranh luôn là một chủ đề mà thầy vô cùng tâm đắc. Vì nó liên quan đến võ thuật và ngành hiệp sĩ trứ danh của thầy.

Võ sư vuốt râu, tiếp lời:

- Lịch sử thú vị ở chỗ nhiều khi ta không thể đoán định được. Trịnh – Nguyễn phân tranh hàng trăm năm không phân định được thắng thua. Nhưng giữa lúc ấy lại nổi lên một phong trào Tây Sơn như tiếng sét ngang trời, dẹp tan mây mù, khiến cho trời quang mây tạnh. Tây Sơn là một đội quân thiện chiến và kỷ luật. Họ đã lật đổ chúa Nguyễn ở đàng trong, rồi ra bắc dẹp tan vua Lê chúa Trịnh chỉ trong chớp mắt. Mấy năm sau thì đánh tan 5 vạn quân Xiêm. Vang dội nhất là chiến thắng Kỷ Dậu 1789, đánh tan 20 vạn quân Thanh chỉ trong vòng mấy ngày. Tất cả đó đều là những võ công hiển hách trong lịch sử nước nhà cả.

Thầy Thất Sách vẫn chăm chú lắng nghe, thi thoảng lại tự tay rót nước, ân cần khuyên mời lão võ sư.

- Về cuộc đối đầu giữa chúa Nguyễn Ánh và vua Quang Trung cũng là một điển tích lịch sử đầy tính huyền thoại - Lão võ sư tiếp tục kể - Khi ấy, chúa Nguyễn Ánh mỗi lần cầm quân đánh nhau với Tây Sơn đều bại cả. Vì vậy mà hễ gặp quân Tây Sơn là chạy, đến nổi phải trôi dạt ra tận đảo Phú Quốc, đảo Thổ Châu. Rồi sau đó còn phải sang Xiêm La (tức Thái Lan ngày nay) để xin cầu viện. Xiêm La bại, ông lại cầu cứu Tây Phương. Nhưng tất cả đều thất bại. Mãi cho đến sau này, khi vua Quang Trung mất, Nguyễn Ánh mới bắt đầu giành lại được thế chủ động. Đến năm 1802, Nguyễn Ánh đánh bại quân Tây Sơn và giành được toàn thắng. Cuộc đối đầu kinh điển giữa Nguyễn Ánh và Nguyễn Huệ là minh chứng sống động nhất cho câu nói: “Giỏi đánh không bằng giỏi chạy” vậy. Nguyễn Huệ là một thiên tài quân sự, đánh đâu thắng đấy. Thế nhưng kết quả thì Nguyễn Ánh lại là người giành được thắng lợi sau cùng.

Lão võ sư kể đến đây thì kết thúc. Cả chủ và khách đều im lặng, như để suy tưởng và bồi hồi nhớ về một thời quá khứ xa xăm.

Lát sau, thầy Thất Sách lên tiếng:

- Ngài đã từng nghe nói đến “Tây Sơn thất hổ tướng” bao giờ chăng?

- “Tây Sơn thất hổ tướng”  gồm có Võ Văn Dũng, Trần Quang Diệu, Võ Đình Tú, Nguyễn Văn Tuyết, Lý Văn Bưu, Lê Văn Hưng và Nguyễn Văn Lộc…đều là những người có võ công thượng thừa và cầm quân đánh trận tài ba cả! – Lão võ sư đáp.

- Quả vậy! Họ đúng là những trang hảo hán thực thụ! – Thầy Thất Sách vuốt râu, thán phục.

Gió thổi xào xạc lên khu vườn phía trước sân. Bóng nắng mỗi lúc một lên cao, sáng loá. Tiếng tập võ của các võ sinh từ phía sân vẫn vọng đến đều đều bên tai. Không khí hào sảng và thượng võ, khiến thầy Thất Sách có cảm tưởng như được sống lại những ngày nghĩa quân Tây Sơn đang luyện quân, tập trận để chuẩn bị phất cờ khởi nghĩa vậy.

Thầy Thất Sách nhìn lão võ sư, hỏi:

- Tôi nghe nói môn phái Tây Sơn vẫn còn lưu truyền những bài quyền bất hủ. Phải vậy chăng?

- Đúng vậy! – Võ sư nói – Đó là các bài quyền như: Hùng Kê Quyền, Ngọc Trản Quyền, Bạch Điêu, Tứ Hải, Thái Sơn Côn, Lôi Phong Tuỳ Hình Kiếm, Song Phượng Kiếm, Lôi Long Đao…

Nghe nhắc đến “Thái Sơn côn”, thầy Thất Sách nhướng mày lên, thích thú:

- Tôi đây chuyên sử dụng trường côn. Vậy xin lão võ sư truyền dạy cho tôi  bài “Thái Sơn Côn” để làm giàu thêm vốn liếng võ học. Như vậy phỏng được chăng?

Võ sư nhíu mày, trầm ngâm suy nghĩ một lúc lâu. Sau cùng, ông nói:

- Xưa nay, tôi không dạy riêng binh khí, cũng không truyền dạy bí kíp ra bên ngoài bao giờ cả. Nhưng!...Nhận thấy ngài đây là người đam mê võ thuật, lại là một trang hảo hán hào hiệp cứu đời, giúp người. Vậy nên tôi đặc cách, coi như ngài là một ngoại lệ vậy!

Thầy Thất Sách mừng rỡ, chắp tay:

- Đa tạ lão sư phụ!

Võ sư im lặng một lúc, rồi nói thêm:

- Việc truyền dạy cũng cần phải có thời gian. Nếu không phiền, mời ngài ở lại võ đường chơi ít hôm. Vừa cùng tôi luận bàn thế sự, vừa để truyền thụ võ công vậy!

Thầy Thất Sách chắp tay:

- Cung kính không bằng tuân mệnh. Xin được làm theo ý lão sư phụ!

Vậy là hai thầy trò Tam Văn ở lại võ đường thêm ba hôm. Những ngày ấy, họ được người nhà đối đãi như khách quý. Tam Văn cùng các võ sinh dọn dẹp võ đường, còn thầy Thất Sách và lão võ sư thì ngày ngày đàm luận thế sự rất chi là thống khoái và tâm đắc.

Sau khi đã học thuần thục bài “Thái Sơn Côn” của môn phái Tây Sơn, thầy Thất Sách cùng học trò bùi ngùi từ biệt lão sư phụ và các môn sinh rồi rời khỏi võ đường để tiếp tục cuộc hành trình vạn dặm


Thứ Bảy, 8 tháng 11, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương 21)

 

“Hải Vân Quan”, vọng lời tuyên ngôn bất hủ

Đường xa khát nước, Tam Văn lén lút bẻ trộm dừa

Sau khi hai thầy trò bị trục xuất ra khỏi thành phố Huế, Tam Văn vừa đi vừa lầu bầu:

- Mấy cái người công an này cũng thật vô lý hết sức. Đang không đâu bổng dưng lại đi trục xuất người ta như vậy!

Thầy Thất Sách phẩy tay:

- Tam Văn! Con chớ nên oán trách người ta. Nếu như họ không trục xuất thì chúng ta cũng sẽ đi kia mà. Đằng nào thì thầy trò mình cũng đã tham quan thành phố xong rồi, còn có việc gì mà ở lại đó nữa kia chứ. Có chăng chỉ tiếc là ta đã không thể bắt được tên Nhạc Bất Quần đó để mà trừ hại cho bá tánh và võ lâm mà thôi!

- Vậy là thầy đã để tuột mất một chiến công hiển hách rồi còn gì?! – Tam Văn lại khích tướng.

- Không sao! Tam Văn! Dù để tuột mất chiến công ấy. Nhưng bây giờ chúng ta cũng đang chuẩn bị chinh phục một đỉnh cao khác, ấy chính là đèo Hải Vân. Cách đây hơn 5 thế kỷ,  vua Lê Thánh Tông cũng đã từng đi qua đây và gọi địa danh này là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” đấy.

Thế là, trong khi thiên hạ vượt đèo Hải Vân bằng ô tô, tàu hoả thì thầy trò Tam Văn lại đi bộ để leo lên. Thầy Thất Sách cho rằng, có như thế thì mới gọi là chinh phục thiên nhiên, mới xứng là đấng nam nhi đại trượng phu vậy.

- Nếu như dựa vào máy móc và phương tiện hiện đại thì còn gì là thú vị nữa! – Thầy Thất Sách nói – Ngày xưa, làm gì đã có những thứ ấy. Có đi bộ thế này thì mới hình dung được cái không khí xưa, rằng những con người thời ấy đã khó khăn, vất vả như thế nào để chiến đấu và chiến thắng thiên nhiên khắc nghiệt.

Cung đèo dài chừng vài chục cây số, quanh co, dốc đứng, trời mây hoà quyện vào nhau. Cây cối mọc chen chúc, nhìn xuống phía dưới, biển cả bao la và xanh ngắt một màu. Thực là nơi gặp gỡ của rừng, của mây và biển cả. Khung cảnh ấy không chỉ hùng vĩ mà còn đẹp và lãng mạn, nên thơ. Đó cũng chính là lý do vì sao đèo Hải Vân được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” vậy.

Khi lên đến đỉnh đèo, thầy Thất Sách chỉ vào một cái cổng cao lớn, nói.

- Đây chính là Hải Vân Quan!

“Hải Vân Quan” là một cửa ải nằm trên đỉnh đèo. Cổng được xây bằng gạch nung, hình vòm, bên trên có ô cửa để làm đài quan sát. Kỹ thuật thẩm mĩ, lớp vữa giữa các hàng gạch phẳng phiu, cho thấy cái tài kiến trúc và xây dựng của người xưa. Đứng từ đây, người ta có thể nhìn thấy toàn bộ cảnh tượng hùng vĩ phía dưới, tận hưởng trọn vẹn ngọn gió biển lồng lộng thổi vào mát rượi.

Tam Văn che mắt nhìn lên và ngắm nghía hồi lâu.

- Từ thời nhà Trần, cha ông ta đã đặt vọng gác ở đây. Đến năm 1826 thì vua Minh Mạng cho xây ải để kiểm soát việc đi lại trên con đèo này! – Thầy Thất Sách nói.

Sau khi đã xem xét kỹ càng, Tam Văn đi đến kết luận:

- Nom cũng giống mấy cái cổng làng ngoài Bắc. Chỉ có điều, cái cổng này lớn và được xây dựng trên núi mà thôi!

- Khác chứ! – Thầy Thất Sách nói – Những gì con nhìn thấy đây chỉ là phần sót lại của di tích này mà thôi. Xưa kia, ở đây còn có cả tường thành, doanh trại để cho quân lính đồn trú nữa. Đó là một công trình rộng lớn và quy mô, chứ không chỉ có mỗi cái cổng như thế này thôi đâu.

- Có thế chứ! – Tam Văn xoa xoa cằm, nói.

Rồi hai thầy trò lại quay ra ngắm nhìn cảnh trí xung quanh. Gió thổi lộng, cây cối rì rào, nghiêng ngả. Cung đèo quanh co nom như một con trăn cuộn dài uốn khúc. Từ phía dưới, những chiếc ô tô nối đuôi nhau đi lên, chậm rãi như rùa bò. Khoảng cách từ đây đến chân núi xa đến nỗi, những ngôi nhà nằm dưới ấy trông chẳng khác nào những bông hoa đang nở lấm tấm. Xa xa, bãi biển trãi dài và cong vút như hình một cánh cung. Ở một hướng khác, có một ngôi làng nhô ra biển, nhà cửa san sát và sáng loá dưới ánh nắng mặt trời.

Thầy Thất Sách vuốt râu, trầm trồ:

- Một bên là núi, một bên là biển cả. Vừa đẹp về cảnh quan, vừa có vị trí chiến lược quan trọng. Chỉ cần cho một đạo quân nhỏ trấn giữ ở đây, thì dù có thiên binh vạn mã cũng không tài nào vượt qua nổi. Khắp nước Việt ta, không có nơi nào vừa kỳ vĩ, vừa xinh đẹp và lãng mạn như chốn này cả!

Rồi trong niềm cảm khái vô biên, thầy vịn tay vào gậy, trịnh trọng đứng bên “Hải Vân Quan” mà cất tiếng sang sảng:

- “Bất đáo Hải Vân phi hảo hán” vậy!

Đó chính là lời tuyên ngôn bất hủ về đèo Hải Vân của hiệp sĩ Thất Sách. Đồng thời cũng là lời nhắn nhủ đến những lớp người đương thời và hậu thế mai sau rằng: Hãy đến với đèo Hải Vân bằng tất cả trái tim và lòng tự hào dân tộc. Để thưởng lãm cái đẹp, cái bao la, hùng vĩ mà tạo hoá đã hào phóng ban tặng cho con người. Nếu không, chẳng phải là ta đã thờ ơ, vô cảm với đất nước, với non sông gấm vóc này lắm hay sao?.

o0o

Qua khỏi đèo Hải Vân, cảnh vật ngập tràn trong nắng vàng, nhiệt độ cũng cao hơn khi còn ở phía bên kia. Tam Văn vừa đi vừa phải phanh cổ áo ra cho đỡ nóng. Chú thắc mắc:

- Khí hậu ở đây khác hẳn với cái se lạnh của Huế. Rõ ràng đây là khí hậu mùa hè chứ không còn là mùa xuân nữa!

- Con nói đúng đấy! Tam Văn! Bắt đầu từ đây, quanh năm nắng ấm. Chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô mà thôi, gọi là khí hậu “Nhiệt đới gió mùa”. Không có mùa đông lạnh giá như ở ngoài bắc. Bởi miền Bắc là khí hậu “Cận nhiệt đới ẩm”, có bốn mùa như con đã biết.

- Chỉ cách nhau có một con đèo mà khí hậu đã khác hẳn. Một bên lạnh, một bên thì nóng. Kỳ lạ thật! – Tam Văn nói.

- Khí hậu không chỉ dựa vào thời tiết, mà nhiều khi còn được quyết định bởi những vấn đề địa lý nữa! Những dãy núi cao chắn ngang, thường là nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu giữa các vùng, miền – Thầy Thất Sách vẫn kiên nhẫn giải thích cho học trò.

Khi đã quen với cái nắng nóng của phương Nam, họ cũng không còn bàn tán nhiều đến vấn đề thay đổi thời tiết nữa. Thầy Thất Sách muốn được chiêm ngưỡng phố thị cổ Hội An, vì vậy mà họ đã hỏi thăm đường và đi về hướng ấy. Đó là một phố thị mà thầy Thất Sách cho rằng, nó xứng đáng với các hiệp sĩ bởi sự cổ kính và nguyên sơ. Trên đường đi, vì trời nóng, mồ hôi ra nhiều, Tam Văn thường xuyên phải lấy chai nước mang theo ra, vừa uống vừa rửa mặt để giải nhiệt.

Chừng đầu giờ chiều thì họ đặt chân đến Hội An.

Đây là một phố thị cổ với những mái ngói rêu phong, san sát kề nhau. Các ngôi nhà thường được quét màu vàng, cửa chớp xanh, chạy dài thành những dãy phố. Phần lớn nhà cửa được xây dựng theo phong cách Trung Hoa, Nhật Bổn, kết hợp với lối kiến trúc âu châu. Có rất nhiều đèn lồng được treo phía trước, tạo thành một nét văn hoá đặc trưng của vùng đất nơi đây. Nhiều ngôi nhà được những giàn hoa giấy và dây leo che rợp cả khoảng không gian phía trước, tạo nên một vẻ kỳ bí và cổ kính nhờ sự đồng loã của thời gian. Cảnh tượng tấp nập, trên bến, dưới thuyền, cho thấy sự phồn thịnh và huy hoàng của một thời quá khứ vàng son.

- Khung cảnh ở đây đậm chất kiếm hiệp. Quả là không làm ta thất vọng! - Thầy Thất Sách tỏ vẻ hài lòng.

Tam Văn vừa rảo bước vừa ngửa cổ lên để quan sát. Chú đang hình dung ra những cảnh tượng, cố tìm ra những đường nét cổ kính hiện diện trên các toà nhà. Chẳng gì thì chú cũng đã từng xem phim kiếm hiệp, vì vậy mà cũng không khó gì để kiểm chứng những điều mà thầy mình đã nói.

- Này Tam Văn! Ta như đang nhìn thấy các thương thuyền từ Java, Nhật Bản, Âu châu…đang buông neo ghé bến. Trò biết không, trên mỗi chiếc thuyền như thế, bao giờ cũng có những hiệp sĩ võ công cái thế đi theo để hộ tống và bảo vệ thương đoàn đấy.

- Vì họ sợ gặp cướp hả thầy?

- Phải! Các thương đoàn thường mang theo khối lượng hàng hoá lớn và nhiều tài sản có giá trị. Vì vậy mà họ trở thành mục tiêu tấn công hàng đầu của bọn giặc cướp. Nếu như đi trên bộ thì gặp cướp núi, đi thuyền thì gặp cướp biển. Họ luôn phải đối mặt với những hiểm nguy rình rập trên suốt hành trình. Vì vậy mới cần phải có những hiệp sĩ đi theo để bảo vệ.

- Những hiệp sĩ kia sẽ được trả lương chứ thầy? – Tam Văn xốc lại cái túi nặng trĩu trên vai, hỏi.

- Dĩ nhiên rồi! Tam Văn! Họ được trả lương rất cao và hậu hĩnh, xứng đáng với công sức mà họ đã bỏ ra.

- Những hiệp sĩ kia thì có lương. Còn thầy trò ta cũng là hiệp sĩ, vậy mà chẳng được ai trả lương cho cả. Lại còn phải tự bỏ tiền túi ra để chi tiêu nữa chứ! – Tam Văn tỏ ra bất mãn.

- Không thể so sánh như vậy được. Tam Văn! Những hiệp sĩ kia lúc nào cũng phải bảo vệ thương đoàn, không một phút giây được ngơi nghỉ. Chứ làm gì có thời gian ngắm nhìn cảnh đẹp và đi thăm thú các nơi như thầy trò chúng ta.

Vào thế kỷ 17, 18, phố thị Hội An từng là một thương cảng sầm uất và nổi tiếng khắp nơi. Với những chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn đàng trong, nơi này đã thu hút thuyền buôn từ khắp nơi trên thế giới đổ về để giao thương, buôn bán. Hễ nơi đâu có thương mại thì ở đó kinh tế phát triển thịnh vượng, dân cư tập trung đông đúc. Hội An cũng là một nơi như vậy. “Phi thương bất phú”, một khi hàng hoá làm ra thì phải được trao đổi, buôn bán ở các thị trường khác nhau. Việc sản xuất, kinh doanh cũng nhờ thế mà ngày một được mở rộng và phát triển không ngừng. Và người ta gọi đó là thương mại vậy.

- Tam Văn! Nhà ngươi có nhìn thấy cái tửu điếm đằng kia không? Nó mới thanh nhã và ấm cúng làm sao. Ta như nhìn thấy các hảo hán và cao thủ võ lâm đang vừa uống rượu vừa bàn luận về bí kíp võ công trong đó! – Thầy Thất Sách hào hứng chỉ vào một ngôi hàng rượu có treo đèn lồng đỏ phía trước, nói.

Đi thêm một đoạn nữa, thầy lại nhìn lên một lầu gác rộng lớn và được trang hoàng khá sang trọng, giọng xúc động:

- Còn kia là hội quán. Ta như đang nhìn thấy các thương nhân cùng những ông chủ lớn đang họp bàn và thương thảo các hợp đồng kinh doanh trên đó vậy.

- Nhưng con thì có nhìn thấy ai đâu! – Tam Văn biết được cái tính mơ mộng của thầy, nên cố tình trêu.

- Ta đã nói rồi. Tam Văn! Con phải học cách nhìn nhận mọi thứ bằng tâm tưởng thì mới được! Có như vậy thì việc đánh giá mới có chiều sâu, sự vật mới trở nên đa tầng, đa nghĩa. Còn như chỉ nhìn theo lối tục nhãn thì có đáng kể gì!

- Nhưng mà phải công nhận là phong cảnh ở đây cổ kính thật! Cứ như là trong phim ấy! – Tam Văn gật gù.

- Đúng vậy! Thực là một phim trường cổ trang hoàn hảo, không cần phải dàn dựng hay tô vẽ gì thêm. Trò biết không? Ở những quốc gia có nền điện ảnh phát triển, họ đều phải xây dựng những phim trường rộng lớn để quay phim về chủ đề lịch sử cận đại, trung đại và cổ đại cả đấy. Vì những khung cảnh khi xưa đã không còn nữa, bây giờ người ta phải tái hiện. Nhưng ở đây, ngay Hội An này, mọi thứ vẫn còn lưu giữ được nét cổ kính nguyên sơ. Thật là đáng quý và đáng trân trọng biết bao! Chỉ cần nhìn vào đấy, không cần phải là người giàu trí tưởng tượng lắm, người ta cũng có thể hình dung được một cuộc sống xa xưa đang diễn ra sống động trước mắt, những con người ăn mặc theo lối xưa, những phương tiện, vật dụng xưa đã từng hiện diện và tồn tại nơi đây…

o0o

Vài ngày sau, hai thầy trò Tam Văn đi đến một vùng đất mới. Đây là một nơi có bạt ngàn những dừa là dừa. Bốn phương tám hướng, đâu cũng nhìn thấy dừa, cứ như là họ đang lạc vào một rừng dừa vậy.

Lần đầu tiên trong đời, Tam Văn nhìn thấy có nhiều dừa đến thế. Ở quê chú, chỗ nào trồng dừa nhiều lắm thì cũng chỉ được vài hàng là cùng. Còn ở đây thì dừa nhiều vô số kể, cứ gọi là như rừng. Vì vậy mà chú đã không khỏi ngỡ ngàng:

- Đây là đâu mà người ta lại trồng nhiều dừa thế thầy nhỉ?

- Có thể do người ta trồng, nhưng cũng có thể là dừa mọc tự nhiên?! – Thầy Thất Sách đưa tay lên trán, nói. Giống như đang tự vấn hơn là một câu trả lời.

Rồi nhớ đến câu ca dao:

Công đâu công uổng công thừa

Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

Thầy nói:

- Đây là vùng dừa Tam Quan chăng?

Đến khi thầy đem chuyện này hỏi một người đi đường, thì nhận được câu trả lời:

- Đúng thế! Thưa ngài! Đây chính là vùng dừa Tam Quan!

Người đó còn cho biết thêm:

- Ở đây có nhiều vùng trồng dừa như thế lắm. Không cứ gì là Tam Quan đâu.

Đến một đoạn vắng vẻ, Tam Văn nói:

- Nhiều dừa như thế, bây giờ mà có mấy trái để giải khát thì thú biết mấy. Trời thì lại đang nắng nóng thế này, khát khô cả cổ họng ra rồi!

Nắm được ý đồ của Tam Văn, thầy Thất Sách lập tức ngăn cản:

- Con không được nói bậy! “Chớ thấy việc ác nhỏ mà làm. Chớ thấy việc thiện nhỏ mà bỏ qua”. Cái việc sai quấy, dù là bé nhỏ đến đâu thì ta đây cũng sẽ nhất quyết không bao giờ làm đâu!

- Chỉ hái có mấy quả thôi mà thầy. Ở đây chỉ có hai thầy trò mình, có ai nhìn thấy đâu! – Tam Văn nài nỉ.

- Người quân tử tự quản thúc mình, không cần phải người khác biết. Tam Văn! Ta đã nói không được là không được! – Thầy Thất Sách bực mình, gắt lên.

Vì sợ thầy, Tam Văn không dám nhắc đến chuyện này nữa, nhưng trong bụng thì vẫn thèm uống nước dừa. Nghĩ đi nghĩ lại, chú thấy thầy mình thật là thậm vô lý. Người gì mà thật thà và máy móc đến dễ sợ. Vì vậy mà trong lòng chú âm thầm nảy sinh một tâm lý bất mãn. Có thể đây là dừa mọc hoang, nếu mình không hái thì có phải là uổng phí của trời không nào? Trong khi mình lại đang khát khổ, khát sở ra ấy chứ. Chính vì nghĩ vậy, nên cái ý tưởng muốn bẻ trộm dừa của chú mỗi lúc một tăng lên theo từng bước chân.

Tam Văn đưa cặp mắt thèm muốn nhìn những chùm dừa vàng óng treo lơ lửng trên cao, vừa cố nhịn khát vừa ngửa cổ nuốt nước bọt khan. Thật là uống phí! Bao nhiêu là bầu nước trong leo lẻo và ngọt lịm treo ngay trên đầu mình thế kia mà lại không được uống. Quá là vô lý! - Tam Văn tức tối nghĩ, rồi dần dà chú cố tình đi tụt lại phía sau.

Đến khi nhìn thấy thầy mình vừa khuất sau một khúc quanh, Tam Văn liền dừng lại và đặt nhanh cái túi xuống một bên vệ đường. Nhìn trước, ngó sau không thấy ai, nhanh như một con mèo, chú lập tức bám hai tay vào một thân dừa trĩu quả và bắt đầu leo lên thoăn thoắt.

Trong khi ấy, thầy Thất Sách vừa đi, vừa nói:

- Phía trước hình như có một cái ngã ba. Đến đó ta sẽ hỏi đường để đi tiếp. Tam Văn!

Không nghe tiếng trả lời. Thầy lại nói:

- Tam Văn! Con có nghe thấy ta nói không đấy?...

Đáp lại vẫn là sự im lặng. Thầy Thất Sách ngạc nhiên, quay đầu nhìn lại phía sau. Chỉ có con đường hun hút và bạt ngàn những cây dừa, nhưng bóng dáng Tam Văn thì tịnh không thấy đâu cả. “Kỳ lạ! Mới đây mà giờ đã đi đâu nhỉ?” – Thầy Thất Sách tự nhủ. Rồi lo sợ học trò gặp phải rủi ro gì chăng, thầy liền quày quả quay lại để tìm.

Kia rồi! Từ đằng xa thầy đã thấy Tam Văn đang giằng co với một người nào đó áng chừng gay gắt lắm. Người ấy đội nón lá, mặc một cái quần xà lỏn và áo phông đen. Bên cạnh họ, còn có mấy quả dừa vứt nằm lăn lóc.

- Dừa này là của tôi mua mà! – Tam Văn đỏ mặt tía tai, cãi.

- Rõ ràng là anh ăn trộm dừa. Tôi vừa nhìn thấy anh tụt từ trên cây này xuống mà! Cãi thế nào được! – Người kia nắm lấy áo Tam Văn, lớn tiếng nói.

Thầy Thất Sách vội tiến lại gần. Tuy chưa kịp hỏi, nhưng chỉ cần thoáng qua thầy cũng đã phần nào đoán ra sự tình.

- Tam Văn! Con đang làm gì ở đây vậy? – Thầy nhìn học trò, nghiêm giọng hỏi.

Nhìn thấy thầy, Tam Văn vừa xấu hổ vừa sợ.

- Thầy!...Người này…con!…- Tam Văn vừa lắp bắp vừa chỉ tay vào người kia.

Người mặc quần xà lỏn nhìn thầy Thất Sách, nói:

- Có người đây rồi. Xin ông hãy làm chứng cho! Người này bẻ trộm dừa của tôi!...

Thầy Thất Sách cũng nhìn ông ta, hỏi:

- Ông đây là?...

- Tôi là chủ của vườn dừa này! – Người kia buông áo Tam Văn ra, đáp.

- Vừa rồi ông nói là học trò tôi ăn trộm dừa của ông. Phải vậy chăng?

- Đúng vậy! Lúc tôi đến đây thì thấy anh ta vừa tụt từ trên cây xuống. Không sai được! Tôi đây không đổ oan cho người khác bao giờ cả!

Thầy Thất Sách nhăn mặt, khổ não:

- Quân kỷ không nghiêm, lỗi tại người làm tướng. Tôi đây xin nhận lỗi. Có gì mong ông hãy bỏ quá cho!

Rồi thầy dậm chân, quay sang Tam Văn, nghiêm giọng:

- Con hãy thành khẩn xin lỗi người ta đi!

Trên đe dưới búa, chẳng còn cách nào khác, Tam Văn đành phải khúm núm:

- Con xin lỗi thầy! Xin lỗi ông đây! Quả thực là con có trót hái mấy quả dừa. Nhưng cũng vì đi đường khát quá, vả lại thấy rừng dừa bạt ngàn, con cứ tưởng là dừa mọc hoang. Chứ cũng chẳng có ý định trộm cắp hay lấy gì của ai cả!…

- Nhận lỗi không chưa đủ. Con phải hứa với ta là từ nay không được gây ra những sự xấu hổ như vậy nữa! – Thầy Thất Sách vẫn chưa hết giận, nói.

Trước mặt người lạ, cực chẳng đã, Tam Văn đành phải chịu muối mặt, giơ tay:

- Con xin hứa!

- Thôi!...Thôi!...Được rồi! – Người chủ vườn vội nói – Tôi tin ông đây là một người dạy trò rất nghiêm. Nếu anh ấy đã thực sự hối lỗi như thế, tôi đây cũng sẽ không truy cứu nữa. Ở đây dừa nhiều vô kể, có hái mấy trái cũng có đáng gì. Coi như là chưa có chuyện gì xẩy ra vậy!

- Đa tạ ông! – Thầy Thất Sách cúi đầu, nói.

Lúc này người kia nhìn lại, thấy thầy trò Tam Văn nhếch nhác, cặp môi khô, nứt nẻ vì nắng gió, vì khát thì chợt hiểu ra vấn đề. Bất giác, trong lòng ông ta dâng lên một niềm thương cảm. Bởi vậy mà thay vì trách cứ, ông ta thân thiện vỗ vai Tam Văn, nói:

- Hẳn là hai vị đây đi đường vất vả lắm? Nếu quả khát nước, tôi đây xin biếu thêm mấy trái nữa để các vị giải khát vậy.

Thầy Thất Sách còn chưa kịp ngăn, nói xong, ông ta đã bám vào cây dừa và thoăn thoắt leo lên, còn nhanh hơn cả Tam Văn khi nãy nữa. Với những động tác thành thạo, chuyên nghiệp, ông ta vươn tay, vặn hết trái dừa này đến trái dừa khác rồi ném bình bịch xuống phía dưới.

- Thôi!...Thôi! Được rồi! Đừng hái nữa!... Nhiều lắm rồi! Chúng tôi không mang nổi đâu! – Tam Văn ngửa mặt lên, kêu to.

Nghe thấy vậy, người kia mới chịu dừng lại và bắt đầu từ từ tụt xuống khỏi ngọn cây. Đã có đến hơn chục quả dừa được người chủ vườn hái xuống. Có bao nhiêu, ông ta xin được biếu hai thầy trò Tam Văn cả.

Thầy Thất Sách chắp tay:

- Xin đa tạ tấm lòng quảng đại của ông đây! Chúng thôi thật không biết lấy gì để đền ơn cho được?!

- Không có chi! Gặp gỡ ắt có duyên. Giúp đỡ nhau chút xíu thì có hề chi! – Người chủ vườn vui vẻ nói.

o0o

Một bữa, vì đi đường mệt, hai thầy trò Tam Văn bèn ngồi xuống dưới một hàng rào nhà dân để nghỉ ngơi. Đang lúc ngắm nhìn cảnh trí, chợt họ nghe thấy phía sau có tiếng la hét, tiếng đấm đá huỳnh huỵch vang lên không ngớt. Chột dạ, thầy Thất Sách vội đứng lên và nhìn qua hàng rào để xem có chuyện gì xẩy ra. Ở chỗ khoảng sân phía dưới có một đám người mặc đồng phục đang cùng nhau miệt mài luyện võ. Họ xếp thành những hàng ngang và luyện tập đối kháng với nhau. Cạnh đó, có một lão sư phụ đang ngồi trên ghế, ánh mắt tinh anh chăm chú dõi theo từng động tác của các đệ tử. “Thì ra là một võ đường” – Thầy Thất Sách thở phào, nghĩ.

Tiếng đấm đá và la hét dưới kia chấm dứt. Đám đệ tử luyện đối kháng xong thì quay trở về chỗ, ngồi xếp bằng xuống sân thành hàng lối ngay ngắn. Vị sư phụ đứng lên, vuốt râu, nói:

- Tốt lắm! Bây giờ ta sẽ biểu diễn thương pháp để các con xem. Hãy chú tâm mà theo dõi cho kỹ nhé!

Đám đệ tử lập tức vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Người sư phụ đi đến bộ Bát Bửu dựng ở góc sân, lẹ làng rút ra một ngọn giáo và bắt đầu xuống tấn, biểu diễn.

Thân thủ người đó phi phàm, trong khi thương pháp lại vô cùng điêu luyện. Khi tung cánh hạc nhẹ nhàng, lúc dữ dội như gió táp mưa sa. Ngọn thương múa tít, vù vù, nghe như có tiếng gió thổi mạnh bên tai. Lúc đâm ngang, khi đỡ dọc, vun vút chẳng thể nào mà lường. Thực là tuyệt kỹ công phu vậy.

Khi bài biểu diễn vừa dứt, thầy Thất Sách không kìm được, quên cả việc mình đang xem trộm, liền vỗ tay, khen:

- Hay quá!

Người võ sư giật mình, vểnh râu nhìn lên,  lớn tiếng, hỏi:

- Người đứng trên kia là ai?