Giải cứu Nông Trại
Từ trên cầu
nhìn xuống, khung cảnh hiện ra thật đẹp và tráng lệ. Gió thổi lộng, dưới kia là
cửa biển Đông Hải, những bãi bờ xanh mướt, phố xá đủ sắc màu, lộng lẫy và xinh
đẹp như tranh. Dòng nước như một con rồng cuộn chảy, bọt tung trắng xoá, nhưng
khi đến cửa bể, nó thoáng ngần ngừ tiếc nuối, trước khi mang tất cả những gì là
trầm tích sâu lắng của đất liền để hoà vào lòng biển cả bao la. Cây cầu dài và
rộng, cong vút lên như một cánh cung, lặng lẽ vươn mình để kết nối trung tâm
thành phố với dãi đồng bằng màu mỡ phía nam bờ sông Dinh, con sông Cái của vùng
đất này.
Qua khỏi cầu
là đã ra khỏi thành phố. Từ đây, họ cho xe chạy dọc theo con đường nhựa ven biển
để đi đến trang trại nuôi Tôm. Đường đi mỗi lúc một thưa vắng dần. Hai bên đường
lúc này cũng không còn nhìn thấy những cảnh tượng phố xá, nhà cửa đông đúc như
khi còn ở trong thành phố nữa.
Chừng mươi
phút sau thì hiện ra một khu dân cư, nhưng chỉ thưa thớt một ít nhà dân và
quán sá buôn bán nhỏ nằm rải rác hai bên trục đường. Ở rìa ngoài, toạ lạc một công ty
xuất khẩu thuỷ sản. Toà nhà cao hơn hẳn xung quanh, lấp lánh gương kính và kim
loại, trở thành điểm nhấn cho toàn khu vực, giống như là một ngọn hải đăng định
vị vậy.
Người dẫn đường
tên Duy cho xe chạy chầm chậm, rồi dừng hẳn lại.
- Đã đến nơi
rồi sao? – Thầy Thất Sách nâng cao vành mũ, ngơ ngác hỏi.
- Phải! –
Duy đáp. Rồi anh ta nhìn sang tấm biển chỉ đường, nói thêm - Từ thành phố đến
đây đúng 5 cây số đấy nhé!
- Như vậy
thì cũng dễ nhận biết! – Tam Văn nói.
Duy gật đầu,
chỉ tay vào một nhánh rẽ nằm bên phía tay phải họ và nói:
- Bây giờ
thì chúng ta đi lối này!
Chiếc xe lại
chậm rãi lăn bánh vào con đường cát mịn và trắng loá. Cạnh đó, có một cái đầm bỏ
hoang, lũ cò trắng rủ nhau sà xuống để tìm bắt những giống tôm cá còn sót lại.
Những cẳng chân dài và khẳng khiu của chúng bước thoăn thoắt trên lớp nước sắp
cạn tới đáy, cái mỏ dài và sắc như dao găm thì liên tục thọc xuống cát sâu để sục
sạo con mồi. Dọc đường đi, cơ man nào là những cây phi lao cao vút mọc thành
bãi rậm rì. Nhìn trước, ngó sau, cũng chẳng có lấy một bóng người nào cả, chỉ
thấy con đường chạy dài hun hút như một sợi chỉ ngoằn ngoèo. Có cảm giác như
đang đi lạc vào một vùng đất hoang vu, xa lạ, chứ không phải là một nơi mà chỉ
cách thành phố sầm uất có mấy cây số đường nhựa nữa. Đi sâu vào chừng vài trăm
mét, họ bắt gặp một cái cổng sắt hoen rỉ nằm im ỉm bên đường.
Duy xuống
xe, thò tay mở lối cổng phụ rồi đi vào. Hai thầy trò cũng lách mình, cùng theo
vào bên trong. Trước mặt họ là một dãy nhà được xây dựng khá kiên cố, nằm trên
nền đất cao, có vẻ là nơi ở của công nhân thì phải. Trước thềm, trong những chiếc
bồn được xây thành ô vuông vức, có thấy trồng một ít hoa và cây cảnh. Họ bước
lên, cát mềm, sụt lún và như trơn trượt dưới chân.
Một người
đàn ông mặc bộ đồ xanh công nhân đang nằm thư giãn trên một chiếc ghế xếp dựa đặt
bên hông nhà. Thấy ba người đi vào, người đó ngẩng đầu nhìn lên, ánh mắt mở to
đầy vẻ tò mò, lạ lẫm. Rồi anh ta chống tay, từ từ đứng dậy và bắt đầu chỉnh đốn
lại trang phục một cách vụng về. Duy bước nhanh lên thềm, giơ tay và cất giọng
oang oang:
- Chào anh
Hùng!
- Chào các
anh! – Người đó đáp lại bằng một giọng lí nhí trong cổ họng. Một thoáng ngần ngừ,
rồi anh nhấc chân, khập khiễng tiến thêm vài bước về phía thềm.
- Chân anh bị
làm sao vậy? – Duy ngạc nhiên, chỉ vào chỗ băng trắng toát nơi cổ chân Hùng, hỏi.
- À! Bữa trước
bị tai nạn lao động. Còn chưa kịp khỏi!
- Cũng chẳng
sao! Trong lúc làm việc, gặp sự cố là sự thường. Những lần sau cố gắng cẩn thận
hơn – Rồi Duy vỗ bồm bộp vào vai Hùng, thân mật - Công ty mang lên cho các anh
hai người nữa đây. Lực lượng như vậy là đã hùng hậu hơn rồi. Bắt đầu từ giờ, mọi
người sẽ cùng làm việc với nhau nhé!
Hùng nhìn
hai thầy trò, gật đầu chào, trên đôi môi khô nứt nẻ vì nắng gió thoáng một nét
cười ngượng nghịu.
- Đây là bác
Thất Sách. Còn đây là Tam Văn! – Duy chỉ tay vào từng người, giới thiệu.
- Có quyết định
của giám đốc chứ? – Hùng nhìn Duy, hỏi.
- Thì chính
giám đốc bảo tôi dẫn họ lên đây mà lại. Có lẽ lát nữa ông ấy sẽ gọi điện lên
ngay bây giờ đấy!
- Nếu vậy
thì được rồi! Tôi cũng vì làm theo nguyên tắc thôi! – Hùng mỉm cười, phân bua.
Hùng cao lớn,
lực lưỡng, trạc ngoài ba mươi tuổi. Đặc biệt là cặp mắt to, rất sáng và càng trở
nên nổi bật hơn dưới làn da cháy nắng, đen sạm. Có vẻ như anh là người hiền
lành, sống tình cảm chứ không như cái vẻ xù xì và nom có phần dữ dằn khi mới tiếp
xúc lần đầu.
Duy còn nói
thêm một thôi một hồi nữa, rồi anh liếc nhìn đồng hồ, tỏ vẻ sốt ruột:
- Mọi người
cứ từ từ mà làm quen với nhau nhé! Bây giờ tôi còn phải trở lại công ty đây.
Trên ấy còn có mấy việc cần phải giải quyết ngay bây giờ!...
Họ chào Duy,
rồi nhìn theo chiếc xe máy chạy ngược trở ra với cái lưng gù gù và cặp vai hơi
nhô lên của anh, cho đến khi tất cả mất dạng sau cái cổng sắt cũ kĩ nằm tít ở
phía ngoài xa.
- Giờ thì
chúng ta vào trong đi. Đã đứng ở đây khá lâu rồi! - Hùng sực nhớ ra, nói. Rồi
anh khoác tay, vui vẻ dẫn hai thầy trò họ đi vào một căn phòng gần đó.
- Đây là
phòng khách! – Hùng nghiêng tay rót nước, nói - Thi thoảng giám đốc từ thành phố
lên làm việc và nghỉ lại ở đây.
Căn phòng được
trang bị khá lịch sự. Bộ sa lông đệm màu ghi sang trọng, chiếc bàn làm việc kê ở
góc, bên trên có đặt điện thoại bàn và những xấp tài liệu ngay ngắn. Sát tường
có dựng một chiếc tủ kiểu văn phòng, bên trong dựng đầy những cặp hồ sơ với
dòng chữ ghi chú trên gáy. Rồi còn những lọ gốm, bình hoa và vài ba đồ vật dùng
để trang trí khác được bày biện một cách khéo léo, thẩm mỹ. Mọi thứ hầu như còn
mới, chưa có cái vẻ gì là xa xăm, cũ kỹ hay nhuốm bụi của thời gian.
Câu chuyện
đang rôm rả thì lại thấy có một người nữa xuất hiện. Người đó hấp tấp bước vào,
anh ta hơi khựng lại và thoáng chút ngạc nhiên khi thấy hai người khách lạ đang
có mặt trong phòng. Người mới đến tên
Hà, cũng là người đang làm việc trong nông trại. Hà tác phong hoạt bát, người gầy,
nhỏ thó nhưng có giọng nói rất vang và giàu nội lực. Anh ta chào hỏi xong thì
ngồi xuống ghế, tự tay rót nước uống rồi nhìn sang hai thầy trò Tam Văn, thái độ
có vẻ dò hỏi.
Hùng hiểu ý,
bèn nói:
- À!...Đây
là hai người làm mới của chúng ta. Anh Duy vừa mới dẫn lên sáng nay đấy!
- Vậy sao? Ở
đây chúng tôi cũng đang cần người. Việc nhiều, người ít nên làm không xuể! Có
thêm người thì ổn rồi! – Hà nói.
- Nếu vậy
thì tốt quá! – Thầy Thất Sách cả mừng.
Cũng như lúc
đến, chuyện trò được một lúc, Hà đứng lên, chào mọi người rồi lại nhanh nhảu đi
ra.
- Anh đi đâu
vậy? – Hùng nhìn theo, hỏi.
- Tôi mang
cái máy nổ đi sửa, phòng những khi mất điện. Dạo này điện lưới cứ gặp sự cố suốt!
– Hà hơi ngoái đầu lại, đáp.
- Vậy để tôi
giúp anh một tay!
Hùng phụ Hà
khênh cái máy nổ cồng kềnh đặt lên chiếc xe máy cũ kĩ, rồi dùng sợi dây chun chằng
buộc lại một cách chắc chắn, cẩn thận.
- Bây giờ
thì đi được rồi. Nhưng chạy từ từ thôi đấy! – Hùng phủi phủi hai bàn tay vào
nhau, nói.
Chiếc xe máy
rời khỏi thềm rồi chạy đi, tiếng máy nổ giòn và rất to vẫn còn vọng lại trong
không khí một lúc lâu.
- Hai bác có
muốn đi tham quan một vòng cùng tôi cho biết không! – Hùng quay trở vào, nói.
- Vâng! Ý
tôi cũng đang định vậy. Phiền anh cho! – Thầy Thất Sách sửa áo, đứng lên, nói.
- Vậy thì
chúng ta đi thôi! – Hùng nói. Rồi vui vẻ bước lên phía trước.
Thầy trò Tam
Văn cảm thấy háo hức, và không khỏi có đôi chút tò mò với công việc mới này. Họ
sẽ ở lại đây làm việc một thời gian, cho đến khi kiếm đủ số tiền để trang trãi
cho những cuộc phiêu lưu sắp tới.
Dãy nhà của
nông trại gồm có bốn gian, mỗi gian như thế lại được chia thành hai phòng. Nhà
bếp nằm ở cuối dãy, gọn gàng và sạch sẽ. Là nơi để mọi người tập trung ăn uống
và sinh hoạt sau mỗi dịp cuối ngày. Giữa phòng kê một chiếc bàn gỗ lớn hình ô
van, những chiếc ghế dựa đánh sơn mài bóng lộn được dựng đều và sát vào quanh mép
bàn. Ngay phía trên đầu, chiếc quạt trần vẫn phần phật quay như một chiếc trực
thăng đang chuẩn bị cất cánh.
Rời khỏi nhà
bếp, họ đi về hướng bờ đầm.
- Hai cái đầm
này nuôi tôm. Còn đầm ở đằng kia thì để ươm cá giống! – Hùng chỉ tay, nói.
Thầy Thất
Sách đi cạnh Hùng, lắng nghe chăm chú, hễ gặp chuyện gì mà chưa hiểu, thầy đều
lên tiếng hỏi lại một cách cặn kẽ, tỉ mỉ. Nom thấy một cái chòi nằm vắt vẻo
phía xa, Tam Văn trỏ tay, hỏi:
- Đó là cái
gì mà nom giống như tháp canh vậy?
Hùng đáp:
- Kia là nơi
ở của bác Vương. Ban đêm, bác ấy ra đó ngủ để canh Tôm.
- Ở đây an
ninh không được tốt sao? – Thầy Thất Sách hỏi.
- Bác xem! –
Hùng nói - Cả khu vực rộng lớn như thế này mà chỉ có mấy người ở. Cổng thì tạm,
lại chưa xây tường bao, chưa có bảo vệ. Tất cả đang trong quá trình hoàn thiện
mà!…
- Cũng phải
rộng ngót ngét mấy héc ta chứ chẳng chơi! – Tam Văn vung tay và phóng tầm mắt,
ước lượng.
- Phải! Khoảng
ba héc ta! – Hùng gật đầu, đáp.
Có hai người
đàn ông đội mũ vải rộng vành đang chậm rãi đi dọc bờ đầm phía bên kia. Mỗi người
bưng theo một cái thau, cứ được một đoạn, họ lại dừng lại, dùng cái ca nhựa múc
thức ăn rồi vung tay rãi đều lên mặt nước. Những viên thức ăn tãi rộng ra như
hình rẽ quạt trước khi rơi xuống mặt đầm và phát ra những âm thanh rào rạt như
mưa rào.
Hùng nói:
- Họ đang
cho tôm ăn đấy!
Thầy Thất
Sách nhìn sang, để ý kỹ thao tác ném thức ăn cho đến cách thức hai người di
chuyển trên bờ đầm. Tất cả đều được thực hiện một cách thuần thục, tự nhiên,
cho thấy là họ đã thạo và quen với công việc này từ lâu.
Từ phía đầu
hồi có tiếng xe chạy, rồi một chiếc xe máy rẽ ngoặt và đi vòng vào bên trong.
Người đàn ông ngồi trên xe tóc đã muối tiêu, dáng hơi mập nhưng nom khoẻ và rắn
rỏi.Trên xe treo lủng lẳng nào những khóm và rau củ, cá, thịt. Chiếc xe chạy tà
tà dọc theo ngôi nhà, rồi dừng hẳn lại ở trước cửa gian bếp.
- Kia là bác
Vương! Bác ấy vừa là đầu bếp vừa làm chăn nuôi như chúng tôi. Thực là một công
đôi việc đấy! – Hùng nói, giọng đầy vẻ thán phục.
- Cái người
mà ở một mình trên chòi ấy ư? – Tam Văn tò mò, hỏi.
- Phải! –
Hùng đáp – Vừa rồi là bác ấy đi chợ về đấy.
Lúc này, người
đàn ông kia đã xuống xe, bắt đầu gỡ đồ xuống, rồi lom khom, khệ nệ xách mấy cái
túi ấy vào bên trong nhà bếp.
o0o
Buổi ăn trưa
hôm ấy, mọi người đều tập trung đầy đủ. Họ gồm có tất cả năm người, ấy là chưa
kể hai thầy trò Tam Văn. Ngoài Hùng, Hà còn có Thế, người kỹ sư thuỷ sản, bác
vương đầu bếp và một người công nhân nữa tên Tài.
Trong lúc
ăn, Hùng quay nhìn sang một người đàn ông trung niên có bộ ria màu hung hung
hơi vểnh lên, nói:
- Đây là anh
Thế kỹ sư! Phàm kỹ thuật chăn nuôi đều là do anh ấy cả. Còn thì tất cả chúng
tôi chỉ có mỗi việc là làm theo mà thôi.
- Vậy thì
anh đây chính là tướng quân rồi còn gì? - Thầy Thất Sách vui vẻ pha trò.
- Tướng với
tá gì. Chẳng qua tôi may mắn có được chút kiến thức chuyên môn, nên chỉ dẫn anh
em làm. Còn thì ở đây ai cũng làm việc như nhau cả. Chẳng phân biệt cấp trên, cấp
dưới gì đâu! – Người kỹ sư nhún vai, đáp.
Ông Vương vừa
tiếp thêm thức ăn ra đĩa, vừa nói:
- Chẳng dấu
gì bác Thất Sách. Tôi và giám đốc công ty vốn là bạn cọc chèo đấy!
- Ồ!...Vậy
ư? Hoá ra là người một nhà cả! – Thầy Thất Sách kêu lên một cách đầy thú vị.
- Phải! – Đầu
bếp Vương nói tiếp – Tôi lấy cô chị, còn ông ấy thì kết hôn với cô em.
- Bác Vương
đây là “Cọc chống”, chứ không đơn giản chỉ là “Cọc chèo” đâu – Hùng hóm hỉnh nhận
xét – Bác ấy chính là người đã kề vai sát cánh cùng với giám đốc trong những thời
điểm khó khăn nhất của sự nghiệp đấy. Có thể nói là đồng cam cộng khổ vậy.
Đầu bếp
Vương cười, rồi nói:
- Còn có
chuyện này nữa chắc bác Thất Sách cũng chưa biết. Ngày trước, tôi cũng từng là
anh nuôi phục vụ trong quân đội đấy nhé. Sau khi phục viên, tôi mới lại bắt đầu
về làm việc ở đây!
Thầy Thất
Sách lại à lên một tiếng và nói:
- Thảo nào
mà bác lại nấu ăn ngon như vậy! – Rồi thầy giơ ngón tay cái lên - Tôi đặc biệt
đánh giá cao những người trong quân ngũ. Họ có tinh thần trách nhiệm cao, sự kỷ
luật và chịu đựng gian khổ thì khỏi phải bàn.
Người kỹ sư chống
cằm, chăm chú nhìn thầy Thất Sách như thôi miên. Đoạn anh ta vuốt ria, rồi buông
một câu nhận xét mà có lẽ là đúng đắn và hay ho nhất trên đời:
- Cái nhà
bác Thất Sách này quả là một người hiểu biết và tinh tế!
Cuối buổi
cơm, họ bàn với nhau về công việc trong ngày và phân công nhiệm vụ cho ngày
mai. Do đặc thù công việc, ở đây giống như là một tổ đội sản xuất hơn là một bộ
máy hành chính đang vận hành. Mọi người cùng nhau bàn bạc, cùng nhau làm việc,
chứ không có chuyện phân cấp, phân tầng như ở công ty. Thành ra, không khí luôn
ấm cúng, thân tình như là ở trong một gia đình vậy.
Nông trại là
nơi chăn nuôi, bởi vậy mà công việc của họ chủ yếu là chăm sóc và cho tôm, cá
ăn. Thức ăn thì được cân theo định lượng và cho ăn thành nhiều lần trong ngày.
Mùi thức ăn khăm khắm, mằn mặn, đứng cách xa một đoạn hẵng còn nghe thấy. Lúc đầu
chưa quen, thầy Thất Sách cứ nghĩ đó là mùi nước mắm được gió đưa sang từ cái
công ty chế biến thuỷ sản gần đó. Khi nghe thầy Thất Sách hỏi thì bác Vương đầu
bếp đã cười ngất, rồi chỉ vào cái bao tải đựng thức ăn và nói:
- Không phải
nước mắm đâu. Đó chính là mùi thức ăn của cá đấy!
- À!...Ra thế!
– Thầy Thất Sách cúi đầu lẩm nhẩm, rồi lại tự cười chế diễu cho cái sự lố của
mình.
Thi thoảng người
ta lại làm vệ sinh ao, đầm. Nước được bơm, hút cạn, sau đó lại dùng vòi xả sạch
và phơi khô để khử trùng. Nói chung toàn là những công việc liên quan đến chăn
nuôi tôm, cá cả.
Nếp sinh hoạt
ở đây diễn ra đều đặn, thường ngày họ thức dậy từ 5 giờ sáng, cho tôm, cá ăn
xong rồi mới đi làm những việc khác. Họ cần phải tranh thủ thời gian mát mẻ vào
buổi sáng để làm việc. Vì thời tiết ở đây rất khắc nghiệt, nắng nóng từ sáng
cho tới mãi tới tận chiều muộn mới bắt đầu dịu bớt.
Tất cả những
người ở đây đều xa quê, và nông trại chính là nhà của họ, một ngôi nhà lớn để vừa
sinh sống vừa làm việc cùng nhau. Trước mặt là biển cả, sau lưng là những đụn
cát trắng quanh năm phơi mình dưới ánh nắng chói chang. Nhìn đâu cũng thấy những
rặng phi lao xanh rì, tít tắp. Một trong những loài cây hiếm hoi có thể thích
nghi được với cái khí hậu khắc nghiệt nơi đây, vùng đất của nắng và gió.
Thời tiết
tuy nóng, nhưng cứ độ ba giờ chiều, gió biển lại bắt đầu thổi lộng, mang theo
làn hơi nước mát lạnh thấm vào da thịt. Lúc này, ở trong phòng vẫn còn nóng như
lò thiêu, Hùng thường ra ngồi ở cái ghế trước thềm để hóng gió biển cho mát. Và
điều đó đã trở thành thói quen của anh. Anh ngã người trên ghế, vừa cảm nhận
làn gió mát, vừa lim dim mắt đọc báo. Anh cố lục lọi trong đấy những mẫu chuyện
ưa thích, những mô hình nông trại, cái công việc giống như anh vẫn làm ở đây. Những
thông tin ấy cũ rích đến nỗi, chính anh cũng chẳng nhớ là mình đã từng xem đi
xem lại chúng bao nhiêu lần rồi.
Nông trại nằm
ở một nơi vắng vẻ, tách biệt. Điểm gần nhất là cái công ty xuất khẩu thuỷ sản
cũng phải cách đến hàng trăm mét. Thành ra, quanh đi quẩn lại cũng chỉ có mấy
người với nhau. Để giải buồn, thi thoảng họ lại mang cái loa kẹo kéo âm thanh
rè rè ra sảnh, rồi vừa ngồi hát vừa tổ chức ăn nhậu vui vẻ. Mình hát mình nghe,
chứ xung quanh chả ai biết ai hay cả. Bữa nay, còn có thêm anh chàng Luyến bên
công ty thức ăn thuỷ sản nữa. Anh ta chở thức ăn đến trên một chiếc xe tải nhỏ.
Rồi sau khi đã bốc hàng xong xuôi, họ rủ Luyến ở lại nhậu. Vốn ham vui, anh chàng
vui vẻ nhận lời ngay. Dù gì thì ở trong thành phố cũng chẳng mấy khi được thoải
mái và tự do tự tại như ở đây. Thế là, chỉ một lúc sau, mặt mày ai nấy đều đã đỏ
gay đỏ gắt, rồi họ bá vai bá cổ nhau mà gào lên đủ giai điệu buồn vui, cứ y hệt
như là một ban nhạc tự phát đang biểu diễn trên đường phố vậy.
Thầy Thất
Sách thì ít khi tham gia vào những cuộc hát hò hay nhậu nhẹt. Những lúc như thế,
thầy thường chọn một góc vắng vẻ của nông trại, rồi một mình đứng chống tay,
ánh mắt xa xăm hướng về phía những ngọn đồi gấp khúc xanh mờ mà nhíu mày, nghĩ
ngợi mông lung.
o0o
Đã hơn 9 giờ
tối, nhưng bữa nay trời hãy còn nóng bức đến lạ. Hai thầy trò Tam Văn vẫn mở rộng
cửa phòng, vừa cho thoáng khí, vừa để ngồi trò chuyện cho mát mẻ. Dạo này Tam
Văn phát tướng, trời nóng thế này, chú cảm thấy bức bối, khó chịu lắm. Người ta
nói rằng, những người mập chịu lạnh tốt, nhưng lại chịu nóng kém. Chú ngồi dưới
nền nhà mà mồ hôi cứ rịn ra, tấm lưng cánh phản dưới ánh điện nom cứ loang
loáng và bóng nhẫy như được thoa lên một lớp dầu mỡ. Ngoài trời tối thui, tiếng
máy thổi khí từ phía đầm nuôi tôm vẫn vọng vào đều đều, ầm ì như tiếng xe chạy.
Vừa khi ấy thì Hùng sang chơi. Anh ta chào hỏi xong thì chống tay ngồi bệt xuống
cạnh Tam Văn.
- Vừa nãy
Giám đốc có gọi điện lên đấy! – Hùng nói, giọng oang oang.
- Vậy ư? Ông
ấy có nói gì không? – Tam Văn xoay cái quạt điện hướng về phía khách, hỏi.
- À!...Ông ấy
hỏi xem hai người mới đã kịp thích nghi với công việc chưa. Tôi nói là họ học
còn nhanh hơn cả học hát cơ. Ông ấy cười, rồi quay sang dặn dò thêm mấy việc
khác nữa!...
- Công việc
rồi sẽ quen thôi! – Tam Văn nói – Có điều ở đây vắng lặng quá. Buồn đến não cả
ruột ra chứ chẳng đùa. May mà tối nào anh cũng sang chơi. Cũng đỡ phần hiu quạnh!...
Phòng của hai
thầy trò Tam Văn ở phía đông, còn bốn người kia thì ở phía tây. Mỗi lần đến
chơi phòng nhau, họ đều phải đi từ đầu dãy tới cuối dãy, cứ như là đang bách bộ
tập thể dục vậy.
- Hồi tôi mới
đến đây cũng giống như anh. Buồn và nhớ nhà ghê lắm. Lúc ấy còn vắng hơn nữa
kia, chẳng có ti vi để xem, sách báo cũng không. Ban đêm mấy anh em chỉ loanh
quanh nói chuyện một lúc rồi ngủ. Ngày nào cũng vậy, công việc quần quật suốt
ngày, chẳng còn thời gian để mà biết đến buồn là gì nữa.
- Tình cảnh
này, nếu là những người trẻ tuổi thì chắc là chẳng thể chịu được lấy một ngày!
– Tam Văn rót nước uống, rồi nói.
- Phần vì
công việc phải chịu đựng, phần thì lâu dần cũng quen thôi. Tuy vậy, cũng nhờ
cái không khí trong lành và gió biển mặn mòi nơi đây mà chứng đau nhức xương khớp
của tôi cũng đỡ đi nhiều đấy! – Hùng mỉm cười, nói.
Thầy Thất
Sách lắng nghe hai người trẻ nói chuyện, lòng cứ bần thần, rồi buồn tình giở
thuốc lào ra hút. Nhưng gói thuốc đã sạch nhẵn, vừa nãy Tam Văn đã vét đến những
sợi cuối cùng để cho vào nỏ hút. Gì chứ cái món thuốc lào thì không thể thiếu
được. Có thể nhịn ăn chứ chẳng ai có thể nhịn được thuốc lào cả.
- Ở đây có
bán thuốc lào không nhỉ? – Thầy Thất Sách quay sáng nhìn Hùng, hỏi.
Hùng đáp:
- Bác vừa hỏi
gì ấy nhỉ?...Thuốc lào hả? Vậy thì bác thử ra ngoài đường nhựa xem. Quán đối diện
với nhà máy thủy sản ấy. Nếu ở đó mà không có thì phải vào thành phố thôi.
- Chẳng nhẽ
chỉ mua một gói thuốc lào mà cũng phải chạy xe máy vào tận trong thành phố hay
sao? – Thầy Thất Sách lầu bầu.
- Muốn có
thuốc hút thì phải đành vậy thôi. Ở đây quán sá ít, lại đóng cửa sớm bác
à!
- Hay là thầy
để con và Hùng đi mua cho! – Tam Văn nhìn thầy, nói.
- Hai anh em
cứ ở nhà nói chuyện. Để thầy đi được rồi. Dù có sục sạo hết cả cái khu này lên
thì đêm nay ta cũng phải nhất quyết tìm mua cho được mấy gói thuốc lào mới
nghe! – Thầy Thất Sách vừa đáp vừa cài cúc áo sơ mi, rồi thuận tay, thầy cầm luôn
cái đèn pin đang để trên bàn và bước nhanh ra phía cửa.
Ra khỏi nông trại, thầy Thất Sách cứ nhắm theo
con đường mòn dưới chân mà hăm hở bước đi. Chiếc đèn pin bật sáng trong tay cứ
lắc lư như nhảy múa trên tay. Không gian vắng lặng, chỉ còn nghe được tiếng
sóng và tiếng gió biển thổi ù ù bên tai. Từ bốn phương tám hướng, những ngọn
đèn điện từ các nông trại nuôi thuỷ sản hiện ra lung linh như sao trời. Khi không
còn cái cảm giác mềm mềm và trơn trượt của cát mịn dưới chân nữa, thầy Thất
Sách biết là mình đã ra đến đường nhựa. Con đường vắng vẻ, thi thoảng mới lại có
một, vài chiếc xe máy hoặc ô tô nhanh chóng chạy lướt qua. Trong cái bốt gác
trước cổng công tuy thuỷ sản, người bảo vệ mặc bộ đồng phục đang chăm chú xem
cái gì đó, dáng điệu im lìm và cứng đơ như một pho tượng.
Quán đối diện
với công ty thuỷ sản không có thuốc lào, vì vậy mà thầy Thất Sách phải đi bộ dọc
theo con đường nhựa để hỏi mua. Vừa đi, thầy vừa phải cố căng mắt ra để nhìn
xem có ngôi tạp hoá nào lúc này còn sáng đèn hay không. Đi được thêm mấy trăm
mét nữa, đường mỗi lúc một tối, nhà cửa cũng thưa thớt dần. Đang lúc cảm thấy
thất vọng thì may quá, hình như chỗ ngã tư phía trước có một ngôi quán nhỏ. Chủ
quán là một cụ bà đã lớn tuổi. Cụ ngồi chống cằm đăm chiêu, ánh mắt nhìn đăm
đăm vào khoảng không trước mặt, chẳng hiểu là cụ đang nghĩ ngợi hay hồi ức những
gì nữa. Thầy Thất Sách tiến lại gần, đứng ngay dưới cái mái dù sùm sụp, hỏi:
- Cụ ơi! Cụ
có thuốc lào bán không?
Cụ già ngểnh
tai lên, hỏi lại:
- Cái
gì?...Thuốc lào hả?...
- Vâng!
- Đợi chút
xem!...Có đấy!
Thầy Thất
Sách mừng quá, vội nói:
- Vậy thì cụ
bán cho mấy gói!
- Anh mua mấy
gói?
Thầy Thất
Sách muốn mua để dành hút dần, bèn nói:
- Cụ cho hẳn
chục gói đi!
Bà cụ cúi xuống,
bàn tay khô gầy, nhăn nheo bắt đầu lục tìm trong một cái hộp sắt tây hình vuông
vuông. Lát sau, cụ ngẩng lên, nói:
- Chỉ còn có
chín gói nữa thôi!
- Cũng được
cụ ơi!
Bà cụ cho tất
cả thuốc lào vào một cái túi ni lông rồi trao cho thầy Thất Sách.
- Của anh bốn
ngàn rưỡi!
Thầy Thất
Sách thanh toán tiền, chào bà cụ, rồi lại quay lưng, lầm lũi đi về.
Con đường
không có đèn chiếu sáng. Mặt đường nhựa kéo thành vệt đen mờ, phản chiếu lấp
loáng ánh đèn từ các nhà cửa ven đường toả ra.
Bắt đầu từ
chỗ rẽ thì không có ánh sáng đèn điện nữa. Chỉ còn là một khoảng không tối om với
âm thanh rì rào của những rặng phi lao bất tận. Nếu là người yếu bóng vía, hẳn
sẽ không dám đi qua đây một mình vào ban đêm. “Ma quỷ nào biết được, phía sau
những lùm cây đen kịt và giăng mắc như thành như luỹ kia ẩn chứa những hiểm
nguy nào đang rình rập kia chứ?” – Thầy Thất Sách nghĩ vậy rồi bất giác rảo bước
đi mau. Dưới ánh đèn pin loang loáng, cái cổng sắt nông trại đã hiện ra trước mặt.
Thầy đưa tay ẩy cánh cổng, lách mình vào trong rồi kéo cái chốt sắt để đóng lại.
Cửa phòng
phía tây hẵng còn sáng điện. Thầy Thất Sách muốn hỏi thăm mấy câu, nhân tiện
bàn chút công chuyện ngày mai, bèn tiện chân ghé vào. Nhưng ngay khi vừa bước
chân lên thềm, thầy đã linh cảm thấy có một sự khác lạ. Chuyện gì thế này? Qua
khung cửa kính, thầy nhìn thấy Hà, Thế, Tài đang bị trói bệt dưới nền nhà, ngồi
dựa lưng vào tường với một thái độ cam chịu, sợ hãi. Có những kẻ lạ mặt khác
cũng xuất hiện ở đó. Hai tên mặt mày bặm trợn, tay cầm dao nhọn, đang đi đi lại
lại trước mặt họ và nói những câu gì đó như để doạ dẫm. Một gã khác to béo, mặt
đầy râu quai nón ngồi bắt chân trên ghế, có vẻ như là hắn đang chủ trì một cuộc
tra khảo.
“Bị cướp rồi!
Nông trại bị tấn công rồi!” – Thầy Thất Sách kinh hãi nghĩ thầm, cảm thấy tim
mình đang đập loạn nhịp.
Phải làm gì
bây giờ? Phòng phía đông hiện còn an toàn không, hay cũng đã bị bọn cướp khống
chế? Bị những ý nghĩ đó thôi thúc, thầy Thất Sách bèn rón rén đi về căn phòng
phía đông, cố không để phát ra một tiếng động nào, dù là nhỏ nhất.
Nhưng ở căn
phòng phía đông, Tam Văn và Hùng cũng đã bị trói. Có đến hai tên cướp đang cầm
dao để canh gác và uy hiếp họ.
Vậy là toàn
bộ nông trại đã bị bọn cướp chiếm lĩnh và khống chế hoàn toàn. Mọi việc diễn ra
quá nhanh chóng và bất ngờ. Thầy chỉ vắng mặt có một lúc mà mọi thứ đã bị đảo lộn
hoàn toàn. Tình thế như ngàn cân treo sợi tóc. Nhìn thấy đồng nghiệp và học trò
của mình đang gặp nguy hiểm, thầy Thất Sách chỉ muốn đạp tung cửa xông vào để
giải cứu ngay tắp lự. Nhưng lý trí đã mách bảo và giữ thầy lại. Thầy vò đầu
nghĩ cách, đầu óc như muốn nổ tung vì những câu hỏi dồn dập cứ ùa đến nhưng chẳng
thể nào giải đáp. “Những người của mình đều đã bị trói cả rồi. Bọn cướp lại
đông và có vũ khí. Nếu một mình ta mà xông vào thì khác nào lấy trứng chọi đá,
chỉ tổ làm mồi cho chúng, lại còn hại đến những người khác nữa chứ chẳng chơi –
Rồi thầy nắm chặt tay - Phải rồi! Ta phải ra chòi để gọi thêm người tiếp viện
thì mới được!”. Giờ này khắp nông trại, chỉ còn căn chòi là còn được tự do.
Lòng hồi hộp với bao ý nghĩ đang nung nấu trong đầu, bước thấp bước cao, thầy
Thất Sách tấp tểnh bước bước đi trên bờ đất mấp mô đầy những ổ gà. Đã vài lần vấp
phải những mô đất lồi lõm, người ngã chúi về phía trước, nhưng kệ, thầy vẫn cứ
đi và không dám bật đèn, vì sợ ánh sáng sẽ thu hút ánh nhìn của bọn cướp đang
án ngữ trong kia. Căn chòi nằm vắt vẻo bên bờ đìa đã hiện ra mờ mờ trước mắt.
Thầy vịn tay vào cái cột, bước nhanh lên chòi, chiếc cầu thang bằng tre nứa rung
lên và phát ra những âm thanh cọt kẹt như sắp rã ra dưới chân. Bên trong chòi,
đầu bếp Vương đang nằm trên giường hút thuốc và chăm chú nghe radio. Thấy thầy
Thất Sách đẩy cửa bước vào, ông vui mừng nhổm ngay dậy:
- Đã khuya rồi
mà bác còn ra chơi. Bộ nóng quá không ngủ được hay sao?
Thầy Thất
Sách đưa ngón tay lên miệng, nói:
- Nông trại
của chúng ta đã bị bọn cướp đột nhập. Hiện những người trong đó đều đã bị chúng
bắt trói và khống chế cả.
- Bác…Bác nói gì?...Có chuyện như vậy thật
sao? Bác không đùa tôi đấy chứ? – Ông Vương lắp bắp, hỏi.
- Tôi đùa
bác thì được cái gì kia chứ? – Thầy Thất Sách cáu kỉnh, đáp.
- Thế làm
sao mà bác lại thoát ra đây được? – Ông vương vặn nhỏ radio, hỏi.
- Tôi ra
ngoài mua thuốc lào. Lúc quay về thì đã thấy như vậy rồi. Cũng may là ông ở
ngoài này, nếu không thì cũng đã bị chúng bắt trói ráo cả rồi.
- Vậy phải
làm sao bây giờ? – Ông Vương lại hỏi, mặt tái đi.
- Thời gian
gấp gáp. Những người trong đó lại đang gặp nguy hiểm. Chúng ta phải cứu họ ngay!
– Thầy Thất Sách nhíu mày, nói.
- Nhưng
chúng đông người, lại có vũ khí. Còn chúng ta thì chỉ có hai người? – Ông Vương
ngồi thẳng người lên, hỏi dồn.
Thầy Thất
Sách vuốt râu:
- Việc này
phải dùng mưu, không dùng sức được. Giờ thì chúng ta hãy ra ngay ngoài đó. Bác
cứ việc làm theo lời tôi!
Bác Vương đứng
lên, vớ luôn con dao để trên bàn, toan bước ra. Thầy Thất Sách nói:
- Khoan đã!
Bác cầm thêm sợi dây thừng nữa. Sẽ có việc cần phải dùng đến.
Ông vương với
tay, lấy cuộn dây thừng dùng để buộc lưới treo trên vách xuống và trao cho thầy
Thất Sách.
Hai người bước
ra khỏi lều, rồi bám lấy vai nhau, cùng dò dẫm bước đi trong im lặng. Cần phải
giữ bí mật, vì chỉ cần lũ cướp bị đánh động, mọi kế hoạch giải cứu coi như tan
thành mây khói. Vài phút sau, dãy nhà nông trại đã hiện ra trước mặt. Thầy thất
sách dừng lại, thì thầm:
- Bây giờ
thì chúng ta sẽ giải quyết phòng phía đông trước. Ở đó chỉ có hai tên cướp, dễ
hơn. Phải hành động thật nhanh, gọn, để chúng không biết mà ứng cứu lẫn nhau.
Bác rõ chửa!
Trong bóng tối,
ông Vương cứ gật đầu lia lịa, chẳng biết là thầy Thất Sách có nhìn thấy hay
không. Trống ngực ông cũng đập liên hồi, hai tay thì cứ run lên bần bật vì lo lắng
và hồi hộp.
Trong căn phòng
phía đông. Lúc này hai tên cướp nghe có tiếng động lớn bên ngoài như tiếng gì
đó đổ vỡ thì lấy làm hoang mang lắm. Chúng bàn định với nhau, rồi một tên cầm
dao đi ra để kiểm tra xem có chuyện gì xẩy ra. Hắn mở cửa, bước ra ngoài và bắt
đầu ngó nghiêng quan sát một lúc. Nhưng khung cảnh tối đen như mực, chẳng có gì
ngoài những bụi cây um tùm và tiếng gió khẽ khàng lay động trên cao. Vừa khi ấy,
có tiếng kêu “Meo!...Meo!”, rồi một bóng đen từ trong cái nhà kho để thức ăn
chăn nuôi nhảy vọt ra khiến hắn giật nẩy mình. Trong đêm tối, hai ánh mắt của bóng
đen ấy sáng lên như hai ngọn đèn pha đang chiếu thẳng về phía hắn. Hắn định thần,
nhổ một bãi nước bọt rồi phá lên cười hềnh hệch:
- Hoá ra thủ phạm là mày. Làm ông hết
cả hồn! Mèo với chả chó!....
Dứt lời, hắn
vươn vai, rồi quay người lững thững đi vào trong.
Vừa khi ấy
thì từ phía sau, một bóng đen lẹ làng lao tới, nhanh như một mũi tên vừa lao khỏi
dây cung. Với một động tác võ thuật điêu luyện, bóng đen đó giơ tay chém mạnh
vào gáy hắn. Tên cướp chỉ kịp ớ lên một tiếng như người ngủ mê rồi đổ vật xuống
nền đất. Một bóng đen khác đang từ chỗ ẩn nấp cũng lao ra. Cả hai người trói
tay chân và nhét giẻ vào miệng tên cướp, sau đó họ khênh hắn dấu vào bụi cây rậm
rạp gần đó.
Xong việc, hai
bóng đen ấy nhất loạt xông vào phòng, hô lớn:
- Ngồi im!
Không được kháng cự!
Bị bất ngờ,
tên cướp trong phòng giật nảy mình, vội quờ tay chộp lấy con dao găm để trên
bàn. Rồi hắn đảo vội mắt nhìn quanh như để đánh giá tình hình. Nhìn thấy thầy
Thất Sách và ông Vương đang lăm lăm vũ khí trong tay, thái độ đằng đằng sát
khí, hắn hiểu rằng mọi sự kháng cự lúc này là vô ích.
- Được! Tôi
xin đầu hàng! – Tên cướp lắp bắp, mặt mày tái nhợt, rồi từ từ hạ con dao trên
tay xuống.
Cũng nhanh
như khi nãy, thầy Thất Sách lập tức xông tới để tước vũ khí của tên cướp. Ông
Vương thì vội chạy đến để cởi dây trói cho Hùng và Tam Văn.
- Chịu khó một
chút… Tôi đang cởi trói đây… Các anh không sao chứ? – Ông Vương vừa làm vừa run
rẩy, nói. Tình thế diễn ra quá nhanh chóng, khiến ông không thể nào bình tâm kịp.
- Chúng tôi
không sao! – Hùng đáp, rồi quẳng sợi dây thừng vừa mới được tháo xuống, đứng vụt
lên.
Vậy là căn
phòng phía đông được giải phóng, họ đã làm chủ được tình hình.
Tam Văn được
cởi trói, như hùm sổ cũi. Chú nổi khùng, hùng hổ lao tới, định co giò đá cho
tên cướp một cú trời giáng. Nhưng thầy Thất Sách đã kịp ngăn lại:
- Không được
đánh! Bây giờ còn có việc phải dùng đến hắn.
Rồi thầy
quay sang, dí mũi dao sắc lẹm vào cằm tên cướp, gằn giọng:
- Nếu mày muốn
sống thì phải ngoan ngoãn làm theo lời chúng tao! Nghe chửa!
Cái dũng khí
lúc nãy của gã cướp đã tan biến đi đâu cả, giờ đây hắn đang run lẩy bẩy và sợ
hãi đến thảm hại.
- Các ngài
nói gì tôi cũng xin nghe! – Hắn lí nhí đáp, mặt tái đi vì sợ.
Thầy Thất
Sách nói tiếp:
- Bây giờ
mày phải sang bên kia gọi chúng mở cửa. Nói cho tử tế vào. Phải làm cho chúng
tin. Hễ mà mày đánh động cho chúng biết là chúng tao sẽ lập tức cho mày về chầu
ông bà ông vải ngay. Nhớ chưa?!
- Dạ!...Dạ!
Tôi sẽ gọi! – Tên cướp khúm núm, đáp.
Cũng cần phải
nói thêm, tiếng động lúc nãy chính là do thầy Thất Sách gây ra để đánh lạc hướng
bọn cướp, khiến cho chúng mắc phải kế “Điệu hổ ly sơn” vậy.
Lúc này, bốn
người trói tay tên cướp lại, rồi cầm theo vũ khí, cùng áp giải hắn đến căn
phòng phía tây. Hùng bóp mạnh vào cổ hắn, ẩy đi, khiến hắn phải nhăn mặt lên vì
đau đớn.
- Ấy!...Xin
anh nhẹ tay chút! Đau quá!...
- Đau đớn
gì. Lũ cướp chúng mày lẽ ra phải đánh cho tàn phế đi thì mới phải! Đi mau! Hễ
mày mà kêu lên một tiếng nữa thì sẽ biết tay ông! – Hùng rít lên qua kẽ răng.
Tên cướp sợ
bị ăn đòn, cúi đầu lầm lũi bước đi mà không hề dám hé răng nói thêm một lời nào
nữa.
Trong căn phòng
phía tây. Lúc này bọn cướp đang bắt mấy người phải khai ra mật mã két sắt.
Chúng vẫn chưa hề biết gì về tình hình căn phòng phía đông. Chưa biết rằng đồng
bọn của chúng đã bị khống chế và giờ đây gió đã đảo chiều.
Tên râu quai
nón đang sốt ruột đi đi lại lại trong phòng. Khi tiến đến trước mặt Thế, hắn dừng
lại, nâng cằm anh lên một cách thô bạo và gầm lên:
- Mày biết
két sắt ở đâu chứ? Nếu không khai ra thì mày biết hậu quả rồi đấy. Chỉ có là thịt
nát xương tan mà thôi!...
Thế vẫn giữ nét
mặt bình thản, nói:
- Két sắt để
ở phòng giám đốc. Những không có tiền đâu. Trong đó chỉ có một ít giấy tờ thôi!
Gã râu quai
nón cười khẩy:
- Mày không
cần phải nói trong ấy có gì. Chuyện ấy thì lát nữa sẽ biết. Nhiệm vụ của chúng mày
là phải khai ra mật mã của chiếc két đó. Còn việc còn lại là của chúng ông!...
Hai tên cướp
còn lại không nhịn được, phá lên cười rũ rượi một cách đầy sảng khoái.
- Mật mã chỉ
có giám đốc biết. Chúng tôi là nhân viên, làm sao mà biết được?! – Tài nói.
- Câm đi! Tao
chưa hỏi đến mày! – Tên tướng cướp gầm lên.
- Nhưng quả
thực là chúng tôi không biết mà! – Thế nói thêm.
Gã râu quai
nón đã bắt đầu cảm thấy điên tiết. Mặt hắn hầm hầm, mắt đỏ vằn những tia máu,
hai bên má cứ giật giật liên hồi. Gã hằm hằm tiến về phía chiếc bàn rồi bất ngờ
hét lên một tiếng và vung dao chém mạnh. Một góc chiếc bàn bị lưỡi gươm chém phạt,
rơi đánh “Cách” xuống nền nhà.
- Đứa nào mà
không khai. Sẽ giống như chiếc bàn này! – Gã chỉ tay vào góc bàn, nghiến răng,
nói.
Những người
bị trói cùng cúi đầu, im lặng. Có vẻ như họ đang rất lo lắng và hoang mang. Họ
đang bị khống chế, không thể tự giải thoát, cũng chẳng liên lạc được ra bên
ngoài. Họ chỉ còn biết nín thinh, lặng lẽ cầu nguyện và phó mặc cho số phận lúc
này ra sao thì ra.
- Nào! Bây
giờ thì bắt đầu từng đứa một. Hãy khai ra! – Gã râu quai nón lại nói.
Hắn tiến tới
chỗ Thế, nhìn chằm chằm vào anh và gằn giọng:
- Mật mã thế
nào?
- Tôi không
biết! – Thế lặp lại câu trả lời.
- Á à!...-
Gã tướng cướp hộc lên một tiếng như con Lợn bị chọc tiết, rồi bất ngờ co giò đá
một cú trời giáng vào hông người bị trói.
Hai mắt Thế
hoa lên, anh nhăn mặt vì đau đớn, nhưng không hề kêu la. Anh không muốn cho bọn
cướp thấy mình đang sợ hãi hay khuất phục .
Đương khi bọn
cướp đang chuẩn bị tra khảo đến người tiếp theo thì chợt có tiếng chuông điện
thoại reo lên, dóng giả.
Thế nhìn về
phía chiếc điện thoại để trên bàn, nói:
- Tôi cần phải
nghe điện thoại! Có thể là giám đốc gọi lên để dặn dò công việc?...
- Không đứa
nào được nghe máy! – Gã tướng cướp dậm chân, thét lớn. Hai mắt gã long lên sòng
sọc, nom cứ như một con thú đang tức giận.
Chừng mấy
giây sau, tiếng chuông điện thoại cũng dứt. Căn phòng trở lại với sự bức bối bởi
không khí hằn học và tức giận đang bao trùm.
Lại có tiếng
gõ cửa, rồi bên ngoài có tiếng gọi:
- Đại ca ơi!
Mở cửa cho em với!
Gã tướng cướp
ra hiệu cho tất cả im lặng, rồi giỏng tai lên để nghe ngóng.
- Ai đấy! – Giọng
hắn gắt lên, đầy vẻ nạt nộ.
- Em đây. Tuấn
rỗ đây!
Nhận ra tiếng
đồng bọn, gã hất hàm, ra lệnh:
- Hãy ra xem
hắn có chuyện gì?!
Một gã mắt
lé lập tức cầm đao đi ra. Nhưng khi hắn vừa mở cửa ló đầu ra, thì ngay lập tức bị
khống chế và nhét giẻ vào mồm.
Đợi một lúc
không thấy tên mắt lé đi vào, gã tướng cướp ra lệnh cho tên lâu la còn lại:
- Mày ra xem
nó làm gì ngoài đó mà lâu thế!?
Tên kia đi
ra và lập tức cũng phải chịu chung số phận với tên đồng đảng trước đó.
Giải quyết
xong hai tên cướp, thầy Thất Sách cùng các đồng đội của mình xông ngay vào
phòng.
- Giơ tay
lên! – Tam Văn hùng hổ hét lớn.
Nhận ra người
của mình, mấy người bị trói mừng rỡ, kêu lên:
- Cứu chúng
tôi với!
Vì quân số
chênh lệch, cuộc chiến diễn ra chóng vánh. Mặc dù đã điên cuồng chống cự, nhưng
tên tướng cướp cũng nhanh chóng bị trước vũ khí và đánh bại.
Vậy là toàn
bộ nông trại đã được giải phóng. Người ta nhảy nhót, reo hò, hệt như không khí ăn
mừng sau một trận đánh.
Tất cả năm
tên cướp lúc này đều đã được dẫn giải vào đây và bị quẳng vào một góc phòng.
Chúng bị trói gô ngồi gục dưới sàn. Mặt mày đứa nào đứa nấy đều tiu nghỉu vì sợ
hãi, bất an. Chúng thở hồng hộc như những con thú bị thương. Tình thế đã thay đổi
hoàn toàn. Từ chỗ đi săn, giờ đây chúng đã trở thành những con thú bị săn và bắt
nhốt. Tất cả đều đã nằm gọn trong lưới. Chúng hiểu rằng, giờ đây chúng đang sắp
phải đối mặt với sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật. Những tháng ngày sắp
tới của chúng chắc chắn sẽ chẳng dễ chịu một chút nào.
Bác Vương
đưa cặp mắt khinh bỉ nhìn những tên cướp bị trói gô dưới sàn, hỏi:
- Bây giờ thì
phải giải quyết lũ quỷ dữ này như thế nào đây?
Thầy Thất
Sách nhíu mày, đáp:
- Nhiệm vụ
giải cứu nông trại của chúng ta đã hoàn thành. Việc cần thiết bây giờ là hãy
bàn giao chúng cho cảnh sát.
Không chần
chừ, bác vương tiến ngay đến bên chiếc điện thoại bàn, nhấc ống nghe lên và bắt
đầu quay số.
Chừng mươi phút sau, hai chiếc xe cảnh sát hú còi đã kịp thời có mặt. Bọn cướp bị còng tay, đứa nào đứa nấy đều cúi gằm mặt khi bị áp giải ra xe tù.