“Hải Vân Quan”, vọng lời tuyên ngôn bất
hủ
Đường xa khát nước, Tam Văn lén lút bẻ
trộm dừa
Sau khi hai thầy trò bị trục xuất ra khỏi thành phố Huế, Tam Văn
vừa đi vừa lầu bầu:
- Mấy cái người công an này cũng thật vô lý hết sức. Đang không
đâu bổng dưng lại đi trục xuất người ta như vậy!
Thầy Thất Sách phẩy tay:
- Tam Văn! Con chớ nên oán trách người ta. Nếu như họ không trục
xuất thì chúng ta cũng sẽ đi kia mà. Đằng nào thì thầy trò mình cũng đã tham
quan thành phố xong rồi, còn có việc gì mà ở lại đó nữa kia chứ. Có chăng chỉ
tiếc là ta đã không thể bắt được tên Nhạc Bất Quần đó để mà trừ hại cho bá tánh
và võ lâm mà thôi!
- Vậy là thầy đã để tuột mất một chiến công hiển hách rồi còn
gì?! – Tam Văn lại khích tướng.
- Không sao! Tam Văn! Dù để tuột mất chiến công ấy. Nhưng bây giờ
chúng ta cũng đang chuẩn bị chinh phục một đỉnh cao khác, ấy chính là đèo Hải
Vân. Cách đây hơn 5 thế kỷ, vua Lê Thánh Tông cũng đã từng đi qua đây và
gọi địa danh này là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” đấy.
Thế là, trong khi thiên hạ vượt đèo Hải Vân bằng ô tô, tàu hoả
thì thầy trò Tam Văn lại đi bộ để leo lên. Thầy Thất Sách cho rằng, có như thế
thì mới gọi là chinh phục thiên nhiên, mới xứng là đấng nam nhi đại trượng phu
vậy.
- Nếu như dựa vào máy móc và phương tiện hiện đại thì còn gì là
thú vị nữa! – Thầy Thất Sách nói – Ngày xưa, làm gì đã có những thứ ấy. Có đi bộ
thế này thì mới hình dung được cái không khí xưa, rằng những con người thời ấy
đã khó khăn, vất vả như thế nào để chiến đấu và chiến thắng thiên nhiên khắc
nghiệt.
Cung đèo dài chừng vài chục cây số, quanh co, dốc đứng, trời mây
hoà quyện vào nhau. Cây cối mọc chen chúc, nhìn xuống phía dưới, biển cả bao la
và xanh ngắt một màu. Thực là nơi gặp gỡ của rừng, của mây và biển cả. Khung cảnh
ấy không chỉ hùng vĩ mà còn đẹp và lãng mạn, nên thơ. Đó cũng chính là lý do vì
sao đèo Hải Vân được mệnh danh là “Thiên hạ đệ nhất hùng quan” vậy.
Khi lên đến đỉnh đèo, thầy Thất Sách chỉ vào một cái cổng cao lớn,
nói.
- Đây chính là Hải Vân Quan!
“Hải Vân Quan” là một cửa ải nằm trên đỉnh đèo. Cổng được xây bằng
gạch nung, hình vòm, bên trên có ô cửa để làm đài quan sát. Kỹ thuật thẩm mĩ, lớp
vữa giữa các hàng gạch phẳng phiu, cho thấy cái tài kiến trúc và xây dựng của
người xưa. Đứng từ đây, người ta có thể nhìn thấy toàn bộ cảnh tượng hùng vĩ
phía dưới, tận hưởng trọn vẹn ngọn gió biển lồng lộng thổi vào mát rượi.
Tam Văn che mắt nhìn lên và ngắm nghía hồi lâu.
- Từ thời nhà Trần, cha ông ta đã đặt vọng gác ở đây. Đến năm
1826 thì vua Minh Mạng cho xây ải để kiểm soát việc đi lại trên con đèo này! –
Thầy Thất Sách nói.
Sau khi đã xem xét kỹ càng, Tam Văn đi đến kết luận:
- Nom cũng giống mấy cái cổng làng ngoài Bắc. Chỉ có điều, cái cổng
này lớn và được xây dựng trên núi mà thôi!
- Khác chứ! – Thầy Thất Sách nói – Những gì con nhìn thấy đây chỉ
là phần sót lại của di tích này mà thôi. Xưa kia, ở đây còn có cả tường thành,
doanh trại để cho quân lính đồn trú nữa. Đó là một công trình rộng lớn và quy
mô, chứ không chỉ có mỗi cái cổng như thế này thôi đâu.
- Có thế chứ! – Tam Văn xoa xoa cằm, nói.
Rồi hai thầy trò lại quay ra ngắm nhìn cảnh trí xung quanh. Gió
thổi lộng, cây cối rì rào, nghiêng ngả. Cung đèo quanh co nom như một con trăn
cuộn dài uốn khúc. Từ phía dưới, những chiếc ô tô nối đuôi nhau đi lên, chậm
rãi như rùa bò. Khoảng cách từ đây đến chân núi xa đến nỗi, những ngôi nhà nằm
dưới ấy trông chẳng khác nào những bông hoa đang nở lấm tấm. Xa xa, bãi biển
trãi dài và cong vút như hình một cánh cung. Ở một hướng khác, có một ngôi làng
nhô ra biển, nhà cửa san sát và sáng loá dưới ánh nắng mặt trời.
Thầy Thất Sách vuốt râu, trầm trồ:
- Một bên là núi, một bên là biển cả. Vừa đẹp về cảnh quan, vừa
có vị trí chiến lược quan trọng. Chỉ cần cho một đạo quân nhỏ trấn giữ ở đây,
thì dù có thiên binh vạn mã cũng không tài nào vượt qua nổi. Khắp nước Việt ta,
không có nơi nào vừa kỳ vĩ, vừa xinh đẹp và lãng mạn như chốn này cả!
Rồi trong niềm cảm khái vô biên, thầy vịn tay vào gậy, trịnh trọng
đứng bên “Hải Vân Quan” mà cất tiếng sang sảng:
- “Bất đáo Hải Vân phi hảo hán” vậy!
Đó chính là lời tuyên ngôn bất hủ về đèo Hải Vân của hiệp sĩ Thất
Sách. Đồng thời cũng là lời nhắn nhủ đến những lớp người đương thời và hậu thế
mai sau rằng: Hãy đến với đèo Hải Vân bằng tất cả trái tim và lòng tự hào dân tộc.
Để thưởng lãm cái đẹp, cái bao la, hùng vĩ mà tạo hoá đã hào phóng ban tặng cho
con người. Nếu không, chẳng phải là ta đã thờ ơ, vô cảm với đất nước, với non
sông gấm vóc này lắm hay sao?.
o0o
Qua khỏi đèo Hải Vân, cảnh vật ngập tràn trong nắng vàng, nhiệt
độ cũng cao hơn khi còn ở phía bên kia. Tam Văn vừa đi vừa phải phanh cổ áo ra
cho đỡ nóng. Chú thắc mắc:
- Khí hậu ở đây khác hẳn với cái se lạnh của Huế. Rõ ràng đây là
khí hậu mùa hè chứ không còn là mùa xuân nữa!
- Con nói đúng đấy! Tam Văn! Bắt đầu từ đây, quanh năm nắng ấm.
Chỉ có hai mùa là mùa mưa và mùa khô mà thôi, gọi là khí hậu “Nhiệt đới gió
mùa”. Không có mùa đông lạnh giá như ở ngoài bắc. Bởi miền Bắc là khí hậu “Cận
nhiệt đới ẩm”, có bốn mùa như con đã biết.
- Chỉ cách nhau có một con đèo mà khí hậu đã khác hẳn. Một bên lạnh,
một bên thì nóng. Kỳ lạ thật! – Tam Văn nói.
- Khí hậu không chỉ dựa vào thời tiết, mà nhiều khi còn được quyết
định bởi những vấn đề địa lý nữa! Những dãy núi cao chắn ngang, thường là
nguyên nhân gây ra sự biến đổi khí hậu giữa các vùng, miền – Thầy Thất Sách vẫn
kiên nhẫn giải thích cho học trò.
Khi đã quen với cái nắng nóng của phương Nam, họ cũng không còn
bàn tán nhiều đến vấn đề thay đổi thời tiết nữa. Thầy Thất Sách muốn được chiêm
ngưỡng phố thị cổ Hội An, vì vậy mà họ đã hỏi thăm đường và đi về hướng ấy. Đó
là một phố thị mà thầy Thất Sách cho rằng, nó xứng đáng với các hiệp sĩ bởi sự
cổ kính và nguyên sơ. Trên đường đi, vì trời nóng, mồ hôi ra nhiều, Tam Văn thường
xuyên phải lấy chai nước mang theo ra, vừa uống vừa rửa mặt để giải nhiệt.
Chừng đầu giờ chiều thì họ đặt chân đến Hội An.
Đây là một phố thị cổ với những mái ngói rêu phong, san sát kề
nhau. Các ngôi nhà thường được quét màu vàng, cửa chớp xanh, chạy dài thành những
dãy phố. Phần lớn nhà cửa được xây dựng theo phong cách Trung Hoa, Nhật Bổn, kết
hợp với lối kiến trúc âu châu. Có rất nhiều đèn lồng được treo phía trước, tạo
thành một nét văn hoá đặc trưng của vùng đất nơi đây. Nhiều ngôi nhà được những
giàn hoa giấy và dây leo che rợp cả khoảng không gian phía trước, tạo nên một vẻ
kỳ bí và cổ kính nhờ sự đồng loã của thời gian. Cảnh tượng tấp nập, trên bến,
dưới thuyền, cho thấy sự phồn thịnh và huy hoàng của một thời quá khứ vàng son.
- Khung cảnh ở đây đậm chất kiếm hiệp. Quả là không làm ta thất
vọng! - Thầy Thất Sách tỏ vẻ hài lòng.
Tam Văn vừa rảo bước vừa ngửa cổ lên để quan sát. Chú đang hình
dung ra những cảnh tượng, cố tìm ra những đường nét cổ kính hiện diện trên các
toà nhà. Chẳng gì thì chú cũng đã từng xem phim kiếm hiệp, vì vậy mà cũng không
khó gì để kiểm chứng những điều mà thầy mình đã nói.
- Này Tam Văn! Ta như đang nhìn thấy các thương thuyền từ Java,
Nhật Bản, Âu châu…đang buông neo ghé bến. Trò biết không, trên mỗi chiếc thuyền
như thế, bao giờ cũng có những hiệp sĩ võ công cái thế đi theo để hộ tống và bảo
vệ thương đoàn đấy.
- Vì họ sợ gặp cướp hả thầy?
- Phải! Các thương đoàn thường mang theo khối lượng hàng hoá lớn
và nhiều tài sản có giá trị. Vì vậy mà họ trở thành mục tiêu tấn công hàng đầu
của bọn giặc cướp. Nếu như đi trên bộ thì gặp cướp núi, đi thuyền thì gặp cướp
biển. Họ luôn phải đối mặt với những hiểm nguy rình rập trên suốt hành trình.
Vì vậy mới cần phải có những hiệp sĩ đi theo để bảo vệ.
- Những hiệp sĩ kia sẽ được trả lương chứ thầy? – Tam Văn xốc lại
cái túi nặng trĩu trên vai, hỏi.
- Dĩ nhiên rồi! Tam Văn! Họ được trả lương rất cao và hậu hĩnh,
xứng đáng với công sức mà họ đã bỏ ra.
- Những hiệp sĩ kia thì có lương. Còn thầy trò ta cũng là hiệp
sĩ, vậy mà chẳng được ai trả lương cho cả. Lại còn phải tự bỏ tiền túi ra để
chi tiêu nữa chứ! – Tam Văn tỏ ra bất mãn.
- Không thể so sánh như vậy được. Tam Văn! Những hiệp sĩ kia lúc
nào cũng phải bảo vệ thương đoàn, không một phút giây được ngơi nghỉ. Chứ làm
gì có thời gian ngắm nhìn cảnh đẹp và đi thăm thú các nơi như thầy trò chúng
ta.
Vào thế kỷ 17, 18, phố thị Hội An từng là một thương cảng sầm uất
và nổi tiếng khắp nơi. Với những chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn đàng
trong, nơi này đã thu hút thuyền buôn từ khắp nơi trên thế giới đổ về để giao
thương, buôn bán. Hễ nơi đâu có thương mại thì ở đó kinh tế phát triển thịnh vượng,
dân cư tập trung đông đúc. Hội An cũng là một nơi như vậy. “Phi thương bất
phú”, một khi hàng hoá làm ra thì phải được trao đổi, buôn bán ở các thị trường
khác nhau. Việc sản xuất, kinh doanh cũng nhờ thế mà ngày một được mở rộng và
phát triển không ngừng. Và người ta gọi đó là thương mại vậy.
- Tam Văn! Nhà ngươi có nhìn thấy cái tửu điếm đằng kia không?
Nó mới thanh nhã và ấm cúng làm sao. Ta như nhìn thấy các hảo hán và cao thủ võ
lâm đang vừa uống rượu vừa bàn luận về bí kíp võ công trong đó! – Thầy Thất
Sách hào hứng chỉ vào một ngôi hàng rượu có treo đèn lồng đỏ phía trước, nói.
Đi thêm một đoạn nữa, thầy lại nhìn lên một lầu gác rộng lớn và
được trang hoàng khá sang trọng, giọng xúc động:
- Còn kia là hội quán. Ta như đang nhìn thấy các thương nhân
cùng những ông chủ lớn đang họp bàn và thương thảo các hợp đồng kinh doanh trên
đó vậy.
- Nhưng con thì có nhìn thấy ai đâu! – Tam Văn biết được cái
tính mơ mộng của thầy, nên cố tình trêu.
- Ta đã nói rồi. Tam Văn! Con phải học cách nhìn nhận mọi thứ bằng
tâm tưởng thì mới được! Có như vậy thì việc đánh giá mới có chiều sâu, sự vật mới
trở nên đa tầng, đa nghĩa. Còn như chỉ nhìn theo lối tục nhãn thì có đáng kể
gì!
- Nhưng mà phải công nhận là phong cảnh ở đây cổ kính thật! Cứ
như là trong phim ấy! – Tam Văn gật gù.
- Đúng vậy! Thực là một phim trường cổ trang hoàn hảo, không cần
phải dàn dựng hay tô vẽ gì thêm. Trò biết không? Ở những quốc gia có nền điện ảnh
phát triển, họ đều phải xây dựng những phim trường rộng lớn để quay phim về chủ
đề lịch sử cận đại, trung đại và cổ đại cả đấy. Vì những khung cảnh khi xưa đã
không còn nữa, bây giờ người ta phải tái hiện. Nhưng ở đây, ngay Hội An này, mọi
thứ vẫn còn lưu giữ được nét cổ kính nguyên sơ. Thật là đáng quý và đáng trân
trọng biết bao! Chỉ cần nhìn vào đấy, không cần phải là người giàu trí tưởng tượng
lắm, người ta cũng có thể hình dung được một cuộc sống xa xưa đang diễn ra sống
động trước mắt, những con người ăn mặc theo lối xưa, những phương tiện, vật dụng
xưa đã từng hiện diện và tồn tại nơi đây…
o0o
Vài ngày sau, hai thầy trò Tam Văn đi đến một vùng đất mới. Đây
là một nơi có bạt ngàn những dừa là dừa. Bốn phương tám hướng, đâu cũng nhìn thấy
dừa, cứ như là họ đang lạc vào một rừng dừa vậy.
Lần đầu tiên trong đời, Tam Văn nhìn thấy có nhiều dừa đến thế. Ở
quê chú, chỗ nào trồng dừa nhiều lắm thì cũng chỉ được vài hàng là cùng. Còn ở
đây thì dừa nhiều vô số kể, cứ gọi là như rừng. Vì vậy mà chú đã không khỏi ngỡ
ngàng:
- Đây là đâu mà người ta lại trồng nhiều dừa thế thầy nhỉ?
- Có thể do người ta trồng, nhưng cũng có thể là dừa mọc tự
nhiên?! – Thầy Thất Sách đưa tay lên trán, nói. Giống như đang tự vấn hơn là một
câu trả lời.
Rồi nhớ đến câu ca dao:
Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan
Thầy nói:
- Đây là vùng dừa Tam Quan chăng?
Đến khi thầy đem chuyện này hỏi một người đi đường, thì nhận được
câu trả lời:
- Đúng thế! Thưa ngài! Đây chính là vùng dừa Tam Quan!
Người đó còn cho biết thêm:
- Ở đây có nhiều vùng trồng dừa như thế lắm. Không cứ gì là Tam
Quan đâu.
Đến một đoạn vắng vẻ, Tam Văn nói:
- Nhiều dừa như thế, bây giờ mà có mấy trái để giải khát thì thú
biết mấy. Trời thì lại đang nắng nóng thế này, khát khô cả cổ họng ra rồi!
Nắm được ý đồ của Tam Văn, thầy Thất Sách lập tức ngăn cản:
- Con không được nói bậy! “Chớ thấy việc ác nhỏ mà làm. Chớ thấy
việc thiện nhỏ mà bỏ qua”. Cái việc sai quấy, dù là bé nhỏ đến đâu thì ta đây
cũng sẽ nhất quyết không bao giờ làm đâu!
- Chỉ hái có mấy quả thôi mà thầy. Ở đây chỉ có hai thầy trò
mình, có ai nhìn thấy đâu! – Tam Văn nài nỉ.
- Người quân tử tự quản thúc mình, không cần phải người khác biết.
Tam Văn! Ta đã nói không được là không được! – Thầy Thất Sách bực mình, gắt
lên.
Vì sợ thầy, Tam Văn không dám nhắc đến chuyện này nữa, nhưng
trong bụng thì vẫn thèm uống nước dừa. Nghĩ đi nghĩ lại, chú thấy thầy mình thật
là thậm vô lý. Người gì mà thật thà và máy móc đến dễ sợ. Vì vậy mà trong lòng
chú âm thầm nảy sinh một tâm lý bất mãn. Có thể đây là dừa mọc hoang, nếu mình
không hái thì có phải là uổng phí của trời không nào? Trong khi mình lại đang
khát khổ, khát sở ra ấy chứ. Chính vì nghĩ vậy, nên cái ý tưởng muốn bẻ trộm dừa
của chú mỗi lúc một tăng lên theo từng bước chân.
Tam Văn đưa cặp mắt thèm muốn nhìn những chùm dừa vàng óng treo
lơ lửng trên cao, vừa cố nhịn khát vừa ngửa cổ nuốt nước bọt khan. Thật là uống
phí! Bao nhiêu là bầu nước trong leo lẻo và ngọt lịm treo ngay trên đầu mình thế
kia mà lại không được uống. Quá là vô lý! - Tam Văn tức tối nghĩ, rồi dần dà
chú cố tình đi tụt lại phía sau.
Đến khi nhìn thấy thầy mình vừa khuất sau một khúc quanh, Tam
Văn liền dừng lại và đặt nhanh cái túi xuống một bên vệ đường. Nhìn trước, ngó
sau không thấy ai, nhanh như một con mèo, chú lập tức bám hai tay vào một thân
dừa trĩu quả và bắt đầu leo lên thoăn thoắt.
Trong khi ấy, thầy Thất Sách vừa đi, vừa nói:
- Phía trước hình như có một cái ngã ba. Đến đó ta sẽ hỏi đường
để đi tiếp. Tam Văn!
Không nghe tiếng trả lời. Thầy lại nói:
- Tam Văn! Con có nghe thấy ta nói không đấy?...
Đáp lại vẫn là sự im lặng. Thầy Thất Sách ngạc nhiên, quay đầu
nhìn lại phía sau. Chỉ có con đường hun hút và bạt ngàn những cây dừa, nhưng
bóng dáng Tam Văn thì tịnh không thấy đâu cả. “Kỳ lạ! Mới đây mà giờ đã đi đâu
nhỉ?” – Thầy Thất Sách tự nhủ. Rồi lo sợ học trò gặp phải rủi ro gì chăng, thầy
liền quày quả quay lại để tìm.
Kia rồi! Từ đằng xa thầy đã thấy Tam Văn đang giằng co với một
người nào đó áng chừng gay gắt lắm. Người ấy đội nón lá, mặc một cái quần xà lỏn
và áo phông đen. Bên cạnh họ, còn có mấy quả dừa vứt nằm lăn lóc.
- Dừa này là của tôi mua mà! – Tam Văn đỏ mặt tía tai, cãi.
- Rõ ràng là anh ăn trộm dừa. Tôi vừa nhìn thấy anh tụt từ trên
cây này xuống mà! Cãi thế nào được! – Người kia nắm lấy áo Tam Văn, lớn tiếng
nói.
Thầy Thất Sách vội tiến lại gần. Tuy chưa kịp hỏi, nhưng chỉ cần
thoáng qua thầy cũng đã phần nào đoán ra sự tình.
- Tam Văn! Con đang làm gì ở đây vậy? – Thầy nhìn học trò,
nghiêm giọng hỏi.
Nhìn thấy thầy, Tam Văn vừa xấu hổ vừa sợ.
- Thầy!...Người này…con!…- Tam Văn vừa lắp bắp vừa chỉ tay vào
người kia.
Người mặc quần xà lỏn nhìn thầy Thất Sách, nói:
- Có người đây rồi. Xin ông hãy làm chứng cho! Người này bẻ trộm
dừa của tôi!...
Thầy Thất Sách cũng nhìn ông ta, hỏi:
- Ông đây là?...
- Tôi là chủ của vườn dừa này! – Người kia buông áo Tam Văn ra,
đáp.
- Vừa rồi ông nói là học trò tôi ăn trộm dừa của ông. Phải vậy
chăng?
- Đúng vậy! Lúc tôi đến đây thì thấy anh ta vừa tụt từ trên cây
xuống. Không sai được! Tôi đây không đổ oan cho người khác bao giờ cả!
Thầy Thất Sách nhăn mặt, khổ não:
- Quân kỷ không nghiêm, lỗi tại người làm tướng. Tôi đây xin nhận
lỗi. Có gì mong ông hãy bỏ quá cho!
Rồi thầy dậm chân, quay sang Tam Văn, nghiêm giọng:
- Con hãy thành khẩn xin lỗi người ta đi!
Trên đe dưới búa, chẳng còn cách nào khác, Tam Văn đành phải
khúm núm:
- Con xin lỗi thầy! Xin lỗi ông đây! Quả thực là con có trót hái
mấy quả dừa. Nhưng cũng vì đi đường khát quá, vả lại thấy rừng dừa bạt ngàn,
con cứ tưởng là dừa mọc hoang. Chứ cũng chẳng có ý định trộm cắp hay lấy gì của
ai cả!…
- Nhận lỗi không chưa đủ. Con phải hứa với ta là từ nay không được
gây ra những sự xấu hổ như vậy nữa! – Thầy Thất Sách vẫn chưa hết giận, nói.
Trước mặt người lạ, cực chẳng đã, Tam Văn đành phải chịu muối mặt,
giơ tay:
- Con xin hứa!
- Thôi!...Thôi!...Được rồi! – Người chủ vườn vội nói – Tôi tin
ông đây là một người dạy trò rất nghiêm. Nếu anh ấy đã thực sự hối lỗi như thế,
tôi đây cũng sẽ không truy cứu nữa. Ở đây dừa nhiều vô kể, có hái mấy trái cũng
có đáng gì. Coi như là chưa có chuyện gì xẩy ra vậy!
- Đa tạ ông! – Thầy Thất Sách cúi đầu, nói.
Lúc này người kia nhìn lại, thấy thầy trò Tam Văn nhếch nhác, cặp
môi khô, nứt nẻ vì nắng gió, vì khát thì chợt hiểu ra vấn đề. Bất giác, trong
lòng ông ta dâng lên một niềm thương cảm. Bởi vậy mà thay vì trách cứ, ông ta
thân thiện vỗ vai Tam Văn, nói:
- Hẳn là hai vị đây đi đường vất vả lắm? Nếu quả khát nước, tôi
đây xin biếu thêm mấy trái nữa để các vị giải khát vậy.
Thầy Thất Sách còn chưa kịp ngăn, nói xong, ông ta đã bám vào
cây dừa và thoăn thoắt leo lên, còn nhanh hơn cả Tam Văn khi nãy nữa. Với những
động tác thành thạo, chuyên nghiệp, ông ta vươn tay, vặn hết trái dừa này đến
trái dừa khác rồi ném bình bịch xuống phía dưới.
- Thôi!...Thôi! Được rồi! Đừng hái nữa!... Nhiều lắm rồi! Chúng
tôi không mang nổi đâu! – Tam Văn ngửa mặt lên, kêu to.
Nghe thấy vậy, người kia mới chịu dừng lại và bắt đầu từ từ tụt
xuống khỏi ngọn cây. Đã có đến hơn chục quả dừa được người chủ vườn hái xuống.
Có bao nhiêu, ông ta xin được biếu hai thầy trò Tam Văn cả.
Thầy Thất Sách chắp tay:
- Xin đa tạ tấm lòng quảng đại của ông đây! Chúng thôi thật
không biết lấy gì để đền ơn cho được?!
- Không có chi! Gặp gỡ ắt có duyên. Giúp đỡ nhau chút xíu thì có
hề chi! – Người chủ vườn vui vẻ nói.
o0o
Một bữa, vì đi đường mệt, hai thầy trò Tam Văn bèn ngồi xuống dưới
một hàng rào nhà dân để nghỉ ngơi. Đang lúc ngắm nhìn cảnh trí, chợt họ nghe thấy
phía sau có tiếng la hét, tiếng đấm đá huỳnh huỵch vang lên không ngớt. Chột dạ,
thầy Thất Sách vội đứng lên và nhìn qua hàng rào để xem có chuyện gì xẩy ra. Ở
chỗ khoảng sân phía dưới có một đám người mặc đồng phục đang cùng nhau miệt mài
luyện võ. Họ xếp thành những hàng ngang và luyện tập đối kháng với nhau. Cạnh
đó, có một lão sư phụ đang ngồi trên ghế, ánh mắt tinh anh chăm chú dõi theo từng
động tác của các đệ tử. “Thì ra là một võ đường” – Thầy Thất Sách thở phào,
nghĩ.
Tiếng đấm đá và la hét dưới kia chấm dứt. Đám đệ tử luyện đối
kháng xong thì quay trở về chỗ, ngồi xếp bằng xuống sân thành hàng lối ngay ngắn.
Vị sư phụ đứng lên, vuốt râu, nói:
- Tốt lắm! Bây giờ ta sẽ biểu diễn thương pháp để các con xem.
Hãy chú tâm mà theo dõi cho kỹ nhé!
Đám đệ tử lập tức vỗ tay tán thưởng nồng nhiệt. Người sư phụ đi
đến bộ Bát Bửu dựng ở góc sân, lẹ làng rút ra một ngọn giáo và bắt đầu xuống tấn,
biểu diễn.
Thân thủ người đó phi phàm, trong khi thương pháp lại vô cùng
điêu luyện. Khi tung cánh hạc nhẹ nhàng, lúc dữ dội như gió táp mưa sa. Ngọn
thương múa tít, vù vù, nghe như có tiếng gió thổi mạnh bên tai. Lúc đâm ngang,
khi đỡ dọc, vun vút chẳng thể nào mà lường. Thực là tuyệt kỹ công phu vậy.
Khi bài biểu diễn vừa dứt, thầy Thất Sách không kìm được, quên cả
việc mình đang xem trộm, liền vỗ tay, khen:
- Hay quá!
Người võ sư giật mình, vểnh râu nhìn lên, lớn tiếng, hỏi:
- Người đứng trên kia là ai?