“Thạch Bi Sơn” hay “Thạch Đầu Ký”?
Ngắm Tháp Chàm, ngẫm về lẽ thịnh suy
Bữa ấy, đang đi trên đường thì chợt Tam Văn đưa tay chỉ về phía
xa xa, nói:
- Trên ngọn núi kia có một tấm bia kìa thầy!
Thầy Thất Sách đưa mắt nhìn theo. Thấy trên đỉnh núi ấy có một tảng
đá rất to, nom giống hệt như là một tấm bia vậy. Quanh tảng đá ấy, mây trắng là
là bay, thấp thoáng, ẩn hiện như tiên cảnh.
- Đó là núi đá bia, hay còn gọi là “Thạch Bi Sơn”. Tam Văn! – Thầy
Thất Sách nói – Tảng đá ấy cao những 80 mét cơ đấy!
- Vậy là cao bằng một toà nhà hai mươi tầng rồi còn gì?!
- Phải! Nếu tính từ mặt đất lên, ngọn núi ấy phải cao đến 706
mét.
- Chà!...Chà! Cao thật là cao! – Tam Văn lẩm nhẩm.
– Con có biết vì sao người ta lại gọi là “Thạch Bi Sơn” không? –
Thầy Thất Sách hỏi.
- Vì tảng đá ấy nom giống như tấm bia chứ gì?! – Tam Văn nhanh
nhảu đáp.
Thầy Thất Sách gật đầu:
- Cũng một phần như vậy. Nhưng ở đây ý trời và lòng người đã hoà
hợp với nhau. Tạo hoá đã tạo ra tảng đá, còn con người thì lại sử dụng nó như
là một tấm bia để khẳng định chủ quyền đất nước vậy. Con có muốn ta kể về sự
tích ấy chăng?
- Thầy kể đi! – Tam Văn háo hức.
Thầy Thất Sách vuốt râu:
- Năm 1471, vua Lê Thánh Tông đã cất quân Nam chinh qua đây. Khi
nhìn lên đỉnh núi, thấy có tảng đá giống như hình một tấm bia, ông liền nảy ra
một ý tưởng tuyệt vời mà sau này đã trở thành sự tích bất hủ. Thế là nhà vua liền
sai quân lính leo lên núi và khắc chữ vào tảng đá ấy, coi như đó là một tấm bia
khẳng định chủ quyền lãnh thổ của nước Đại Việt ta. Từ đó, ngọn núi kia mới có
cái tên như ta đã biết vậy!
- Câu chuyện hay quá! – Tam Văn xuýt xoa. Rồi như sực nhớ điều
gì, chú vỗ tay vào trán, nói – Nếu như con nhớ không lầm, lúc đi qua Hải Vân
Quan, thầy cũng đã từng nhắc đến tên vị vua này rồi thì phải. Bây giờ lại có
thêm một ông vua Lê Thánh Tông nữa. Vậy là có hai ông vua trùng tên với nhau
hay sao?
- Con nói đúng. Tam Văn! Hai ông vua ấy không chỉ trùng tên với
nhau, mà còn là cùng một người nữa – Thầy Thất Sách mỉm cười, nói - Lê Thánh
Tông là một vị minh quân. Với tài văn thao võ lược của mình, ông đã tạo ra một
triều đại thái bình, thịnh trị trong lịch sử nước nhà. Và cũng chính ông đã cho
biên soạn bộ luật Hồng Đức nổi tiếng, một bộ luật được giới sử gia sau này đánh
giá là tiến bộ và quan trọng bậc nhất trong lịch sử phong kiến nước ta vậy.
Vậy là đã rõ rồi, vì thế mà Tam Văn cũng không hỏi gì thêm nữa.
Câu chuyện của thầy khiến chú nhìn ngọn núi kia với một ánh mắt khác hẳn. Đối với
chú, giờ này nó đã trở nên linh thiêng và đậm chất huyền sử chứ không còn là một
tảng đá vô tri vô giác nữa.
Đi thêm được một thôi đường, thầy Thất Sách lại cất tiếng:
- Nhìn tấm bia đá này, ta lại nhớ đến “Thạch Đầu Ký”, hay còn gọi
là “Hồng Lâu Mộng” của Tào Tuyết Cần. Đó là một tác phẩm trong tứ đại danh tác
của nền văn học Trung Hoa vậy. Tác giả đã mượn sự tích “Nữ Oa vá trời” để mở đầu
cho câu chuyện của mình. Nữ Oa luyện được tất cả năm vạn lẻ một viên đá. Viên
linh thạch còn thừa này được đưa xuống hạ dưới và đặt nằm chênh vênh trên một
ngọn núi. Tảng đá đó sau này đầu thai thành Giả Bảo Ngọc, một nhân vật chính
trong tác phẩm. Giả Bảo Ngọc yêu Lâm Đại Ngọc (Vốn là một cây tiên trên trời đầu
thai hoá thành). Mối tình ngang trái và tươi đẹp ấy đã lấy hết nước mắt của người
đương thời cũng như của cả đời sau. Nội dung tác phẩm nói về cuộc sống xa hoa của
một đại gia đình quý tộc trong xã hội phong kiến Trung Hoa xưa. Từ chỗ vinh hoa
phú quý tột đỉnh, tới chỗ sa sút lụi tàn trong phút chốc. Sự biến đổi ấy đã làm
đảo lộn cuộc sống và số phận tất cả những con người sống trong đó. Qua tác phẩm
bất hủ ấy, tác giả muốn nhắn nhủ tới người đọc rằng, cuộc sống vật chất con người,
tuy giàu sang phú quý thật đấy, nhưng cũng chỉ giống như một giấc mộng phù du
nơi trần thế mà thôi.
o0o
Con đường dài và rợp bóng cây. Xe cộ lúc nào cũng lưu thông ồn
ào, không ngớt. Tiếng lốp ô tô chà trên mặt đường ràn rạt, mùi của cao su nung
nóng và của nhựa đường quyện vào nhau khét lẹt, gây nên một cảm giác vội vã, gấp
gáp. Hai thầy trò Tam Văn đi sát vào lề đường, vừa để tránh xe cộ vừa tận dụng
bóng râm của những thân cây cao lớn bên đường. Mới khoảng 9 giờ sáng, vậy mà trời
đã nóng như nung, như đốt lên thịt da người ta.
Về lý thuyết mà nói, bộ quần áo rằn ri và chiếc mũ sắt của Tam
Văn rất nóng khi diện vào mùa hè. Hậu quả là mồ hôi mồ kê chú lúc nào cũng tuôn
ra ròng ròng, đến nỗi vừa đi chú vừa phải đưa tay lên vuốt mặt liên tục. Thêm
vào đó, đôi giày bốt cao cổ cũng là nguyên nhân khiến chú cảm thấy bức bối, khó
chịu khi phải đối mặt với cái nắng nóng phương Nam. Nếu như trước đây chú tự
hào về bộ quân phục rằn ri bao nhiêu, thì giờ đây nó đang làm khổ làm sở chú bấy
nhiêu. Bộ đồ ấy diện vào thì oách thật, nhưng lại nóng ơi là nóng. Thế mới biết,
cái gì cũng có tính hai mặt của nó cả. Một tờ giấy cũng có hai mặt, đồng tiền
cũng có mặt trước mặt sau, ngay đến cả tấm huân chương cũng có mặt phải, mặt
trái kia mà. Vậy nên, về trang phục thì Tam Văn bất lợi hơn thầy mình rất nhiều.
Trang phục của thầy Thất Sách tuy giản dị, nhưng xét cho cùng, nó lại phù hợp với
mọi điều kiện thời tiết. Này nhé, cái mũ lá rộng vành rất hợp để đi nắng, cái
áo Ba đờ xuy khoác hờ cũng vậy, nó có tác dụng như là một lớp giáp chống nóng rất
hữu hiệu. Đôi giày vải của thầy thì khỏi phải nói, nhẹ nhàng và mát về mùa hè,
nhưng lại ấm áp vào mùa đông. Nói chung, về việc lựa chọn trang phục, thầy Thất
Sách đã đi trước chú một bước rất dài và rất xa vậy. Điều đó cũng dễ hiểu thôi,
bởi đâu phải tự nhiên mà người ta lại đi gọi thầy là sư phụ kia chứ. Đã là sư
phụ thì đầu óc dĩ nhiên là phải thông minh và vượt trội hơn hẳn đệ tử là điều tất
nhiên rồi.
Từ nãy đến giờ, Tam Văn đã để ý và đếm được là họ đã đi qua ba
cái quán cà phê võng bên đường tất cả. Những quán cà phê ấy, lúc nào cũng có những
cô gái trẻ trung, xinh đẹp đi lại phục vụ tận tình. Ngoài ra, nếu có mệt, đã có
những chiếc võng để cho khách đường xa đặt lưng nghỉ ngơi. Chú ước gì lúc này
ghé vào một ngôi quán như thế, vừa uống li cà phê đá hoặc nước mát, vừa tán
chuyện gẫu với mấy cô phục vụ xinh đẹp thì thú biết mấy. Nhưng khổ nỗi, thầy của
chú lại kỷ luật rất nghiêm. Thầy chỉ thị rằng, đi đường khát thì đã có nước
mang theo trong túi, cứ việc lấy ra mà uống. Không phải ghé quán sá làm gì cho
tốn kém và mất thời gian cả. Chỉ khi nào có sự đồng ý của thầy thì họ mới được
ghé vào. Thường thì những ngôi quán ấy đều có nét phong cảnh và bài trí hao hao
như miêu tả trong các tiểu thuyết kiếm hiệp vậy. Có điều, nếu là vào quán rượu
thì thầy Thất Sách lại gọi người phục vụ là “Tửu Bảo”, còn với quán cà phê thì
gọi cô nhân viên là cô nương. Mỗi lần như thế, Tam Văn lại phải đứng ra giải
thích với họ, rằng thầy chú là người vùng khác mới đến, vậy nên mới có sự khác
biệt trong ngôn ngữ và cách xưng hô như thế. Dĩ nhiên là khi nghe xong, người
ta đều cười xoà mà thông cảm cho thầy. Vì cái chuyện bất đồng ngôn ngữ giữa các
vùng miền vốn là điều rất bình thường, chẳng có gì đáng để mà chê trách và phàn
nàn cả.
Đương lúc mơ màng, bất giác Tam Văn nghe có tiếng thầy Thất Sách
cất lên:
- Này, Tam Văn! Con có biết là chúng ta đang ở trên đất nước nào
không?
- Chẳng phải đây là đất nước Việt Nam của chúng ta hay sao? Thầy
hỏi gì mà lạ vậy? - Tam Văn mở to mắt, ngạc nhiên.
Thầy Thất Sách vuốt râu:
- Phải! Đây là Việt Nam. Nhưng nếu là cách đây hơn ba trăm năm,
chúng ta đang bước đi trên một đất nước khác đấy. Đó chính là vương quốc Chăm
Pa hùng mạnh và vang bóng một thời vậy.
- Đây là lần đầu tiên con nghe nói đến đất nước này đấy! – Tam
Văn thú thật.
- Đó là một quốc gia láng giềng với Đại Việt ta về phía nam.
Cương vực lãnh thổ từ đèo Ngang trở vào đến cực nam Trung Bộ. Về văn hoá thì họ
chịu ảnh hưởng từ Ấn Độ cổ đại với các tôn giáo lớn như: Đạo Hindu, đạo Phật, đạo
Hồi…
Thấy Tam Văn vẫn tỏ ra ngơ ngác, chưa hiểu, thầy nói thêm:
- Để lát nữa ta sẽ đưa con đến thăm một kiến trúc độc đáo của
người Chăm. Đó chính là “Tháp Chàm”. Nó là tất cả những gì còn sót lại của
vương quốc Chăm Pa vĩ đại, là biểu trưng cho nền văn hoá rực rỡ đã bị lụi tàn ấy.
Đến khi đó, con sẽ hiểu được những gì ta nói!
Đến một nơi phong cảnh thoáng đãng, thầy Thất Sách chỉ tay lên
ngọn đồi trước mặt, nói:
- Trên kia là Tháp Chàm! Bây giờ chúng ta sẽ đi lên đó để tìm hiểu
và tham quan!
Đó là một toà tháp hình tứ giác, màu đỏ sậm và cao đến bốn tầng.
Càng lên cao, tháp ấy càng thon nhỏ dần, nom như một búp hoa đang nở chúm chím
trên cành vậy.
Sau khi đã leo lên những bậc đá dốc thoải, hai thầy trò Tam Văn đứng
trước ngôi tháp cao sừng sững trên đỉnh đồi gió lộng.
Toạ lạc trên một địa thế bằng phẳng, ngôi tháp quay mặt về hướng
đông, uy nghiêm và vững chãi. Cửa tháp hình vòm, trên đó có đẽo khắc hình hoa
lá, chim muông, vũ nữ, thần thánh…một cách sinh động và rất mực công phu.
- Tháp này thờ thần Shiva, một vị thần có quyền uy tối thượng
trong văn hoá người Chăm. Công trình này đã đứng đây hàng ngàn năm, là biểu tượng
của nền văn hoá cổ Chăm Pa còn sót lại. – Thầy Thất Sách nói.
- Chà! Đã hàng ngàn năm! – Tam Văn xoa tay, xuýt xoa.
- Văn hoá là những gì còn lại khi mà tất cả những thứ khác đều
đã mất đi vậy! – Thầy Thất Sách nói thêm.
Vương quốc Chăm Pa được hình thành từ năm 192 và kết thúc vào
năm 1832. Họ từng phát triển cường thịnh và có một nền văn minh chói sáng rực rỡ,
đáng để tự hào. Minh chứng là những toà tháp còn tồn tại mãi đến ngày nay, mà
khoa học hiện đại vẫn chưa thể giải mã được. Khi quan sát những ngọn tháp này,
người ta không thể nhìn thấy vữa, nhưng lại có độ kết dính vô cùng bền chắc, vượt
qua cả nắng gió thời gian. Các nhà khoa học và khảo cổ cho rằng, cư dân Chăm vốn
đến từ Nam Đảo (tức là indonesia ngày nay). Họ đã vượt biển để tới đây, vì vậy
mà kỹ năng đóng thuyền và hoạt động đánh bắt thuỷ sản của họ rất phát triển. Cư
dân Chăm cũng là những thuỷ thủ giỏi, thiện nghệ trong việc đi thuyền và làm chủ
biển khơi vậy.
Hai thầy trò bỏ gậy, hành lý và ngồi xuống một bậc đá, cùng hướng
mắt nhìn xuống phía dưới. Cách đó không xa, họ nhìn thấy những ngôi làng chăm sống
quần tụ, trù phú và bình yên. Nhà cửa, cây cối đan xen, tựa như một bức tranh
thiên nhiên cẩm tú.
- Ta như nhìn thấy, trong những ngôi làng kia, những cô gái chăm
xinh đẹp đang nhảy múa và uốn lượn tấm thân mềm mại bên ánh lửa bập bùng. Những
bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Chăm đang chế tác những đồ gốm giá trị và
tinh xảo. Cũng chính từ nơi đây, những chàng trai Chăm khoẻ mạnh từ biệt người
yêu để lên đường tòng quân, đóng góp cho quân đội những chiến binh dũng cảm và
thiện chiến. Ôi, sinh – diệt, thịnh - suy, đó vốn là quy luật xưa nay của tạo
hoá vậy!...
- Thầy lại đang nhìn đời bằng tâm tưởng rồi?! – Tam Văn bụm miệng,
nói.
- Phải! Ta đang nhìn bằng tâm tưởng! – Thầy Thất Sách nói – Tam
Văn! Con có biết vì sao hầu hết các tháp Chăm đều được xây dựng trên những đỉnh
đồi không?
- Vì sao hở thầy?
- Như ta đã nói. Tháp Chăm được xây dựng để thờ thần linh, đôi
khi còn thờ cả những vị vua tài giỏi đã có công lao to lớn đối với đất nước nữa.
Vì vậy mà họ chọn nơi cao ráo, phong thuỷ đẹp, là nơi giao hoà giữa trời và đất.
Hơn nữa, cảnh trí nơi đây hết sức hùng vĩ và xinh đẹp. Từ đây, có thể nhìn bao
quát cả một vùng rộng lớn phía dưới, thật xứng đáng là nơi để cho các thần linh
sinh sống và cư ngụ vậy.
Thấy Tam Văn gật gù, thầy Thất Sách nói tiếp:
- Về cuộc giao tranh giữa Chăm Pa và Đại Việt ta. Đó là những cuộc
chiến giằng co, khốc liệt, kéo dài qua các triều đại và thời kỳ khác nhau. Đời
nhà Trần, vua Po Binasuor (Còn có
tên gọi khác là Chế Bồng Nga) là một vị vua kiệt xuất và có tài năng quân sự,
đã từng 12 lần đem quân chinh phạt Đại Việt. Trong đó 3 lần đánh thẳng vào
Thăng Long, tức là kinh thành nước ta lúc bấy giờ. Nhưng rồi thời gian sau đó,
vương quốc Chăm Pa ngày một suy yếu và mất dần lãnh thổ về tay Đại Việt, khiến
cho họ nhiều lần phải thiên đô. Đến năm 1832, vương quốc Chăm Pa chính thức bị
diệt vong, khi vua Minh Mạng cho sát nhập hẳn “Thuận Thành Trấn” (vùng đất tự
trị cuối cùng của người Chăm Pa về phía nam) vào nước ta.
- Hai quốc gia Chăm Pa và Đại Việt đánh nhau qua lại như thế. Việc
hành quân vượt qua đèo Hải Vân cũng khó khăn và vất vả đấy thầy nhỉ?
- Phần lớn những cuộc hành quân ấy thường đi bằng đường biển.
Tam Văn! Các chiến thuyền sẽ chở quân đội vượt biển, sau đó đổ bộ lên đất liền.
Cách ấy thuận tiện và nhanh chóng hơn là vượt qua đèo Hải Vân rất nhiều.
- À! Ra vậy! – Tam Văn xoa cằm, thú vị. Có được kiến thức ấy, đối
với chú mà nói, cũng chẳng khác nào việc nhà bác học Archimedes khám phá ra
nguyên lý về lực đẩy cả.
Thầy Thất Sách cho rằng, vạn vật trên đời đều có sinh có diệt.
Các quốc gia cũng không phải là ngoại lệ, cũng có hình thành, phát triển và diệt
vong. Suốt chiều dài lịch sử, nhiều quốc gia đã từng tồn tại và cũng đã biến mất
hoàn toàn khỏi bản đồ thế giới. Một quốc gia, cũng như một triều đại, tất cả đều
phải tuân theo quy luật vận động tự nhiên ấy của tạo hoá.
Cùng với thời
gian, có những quốc gia mới ra đời và cũng có những quốc gia biến mất. Những
vùng đất có thể bị sát nhập hoặc chia tách. Có những quốc gia bị thu hẹp về diện
tích, cũng có những quốc gia bành trướng và mở rộng lãnh thổ. Thịnh – suy, sinh
– diệt, quá trình ấy không bao giờ kết thúc, và cũng là quy luật tất yếu của thời
gian vậy.