Lập công lớn, thầy trò Tam Văn được lên đầu
trang nhất
Chèo thuyền độc mộc, đêm ngày khám phá
đất U Minh.
Đất phương Nam nắng vàng và gió lộng, sông ngòi, kênh rạch giăng
mắc như một mạng lưới thuỷ mạch đan cài.
Bữa ấy, hai thầy trò Tam Văn đi qua một cái chợ nổi, đó là một cảnh
tượng mà xưa nay họ chưa từng được chứng kiến bao giờ. Chợ họp ngay trên sông,
giữa mênh mang sóng nước. Người, rồi ghe, thuyền, chen chúc và tấp nập như nêm.
Cả người bán và người mua đều đi lại bằng ghe. Trên những chiếc ghe lớn nhỏ,
trái cây, nông sản được chở đầy ăm ắp. Nào là Bí ngô, dưa hấu, khóm, sầu riêng,
cam, xoài, chôm chôm, vú sữa…cùng đủ các loại rau củ khác. Trái cây chất đống
trên ghe, trên thuyền, trái cây đựng đầy trong những chiếc sọt tre sắp thành
dãy dài trên mạn. Màu sắc sặc sỡ của các loại trái cây, rau củ tươi rói và nhuộm
thắm cả một khúc sông rộng lớn. Trên mỗi chiếc thuyền như vậy, người ta đều cắm
những cây sào (còn gọi là bẹo hàng), trên đó buộc các mặt hàng mà thuyền của
mình sẽ bán.
Tam Văn ngửa cổ, trỏ những chiếc bẹo hàng vươn cao lên nóc thuyền,
thú vị:
- Chỉ cần nhìn vào những chiếc sào kia, người ta đã có thể biết
thuyền chở hàng gì rồi. Rõ là độc đáo thật!
- Đó là một kiểu quảng cáo trực quan và rất sinh động. Tam Văn!
– Thầy Thất Sách nói - Chỉ những chiếc thuyền hàng thì mới treo như vậy. Nhìn
vào bẹo hàng, người ta sẽ phân biệt được đâu là thuyền bán, đâu là thuyền buôn.
Rất đơn giản và hiệu quả. Quả là một phát kiến hay và sáng tạo vậy!
Lại có cả những chiếc ghe chuyên bán đồ ăn để phục vụ khách trên
sông nữa. Chiếc ghe ấy đỗ lại, những khách hàng thì tấp ghe của mình xung quanh
để ăn. Phở, bún, hủ tiếu, xôi…đủ các món ngon. Những bát, những chậu lỉnh kỉnh,
khói bốc nghi ngút trên thuyền như những quán hàng di động. Mọi nhu cầu sinh hoạt
đều diễn ra trên ghe, ngay trên mặt sông mà chẳng cần phải lên bờ. Khung cảnh tấp
nập, đông vui, thể loại phong phú, chẳng khác nào là chợ họp trên đất liền cả.
Những chiếc ghe, sau khi đã mua được hàng, liền rời đi, nhường
chỗ cho những chiếc ghe khác tấp vào. Thuyền nào lớn, có mái, người ta còn để cả
những sọt trái cây, rau củ lên trên nóc thuyền để tận dụng không gian và diện
tích chật hẹp trên đó.
Chợ họp trên sông, vì vậy mà chủ yếu chỉ bán buôn, bán sỉ. Hàng
hoá được chuyên chở thẳng từ miệt vườn tới đây, các loại trái cây, rau củ ấy đều
do chính tay nhà vườn chăm sóc và thu hái vậy. Việc trao đổi, mặc cả cũng được
diễn ra một cách chóng vánh, mau lẹ, đúng như tác phong hào sảng của người Nam Bộ
xưa nay.
Qua khỏi khu chợ nổi, hai thầy trò lại bước đi trên một cánh đồng
rộng mênh mông. Lúa đến thì con gái, xanh ngắt và trãi dài như vô tận. Gió thổi
những thân lúa mềm mại rạp xuống, uốn lượn, tạo thành những đợt sóng dập dờn
như biển cả. Xa xa, một đàn chim xếp thành hình chữ V, sải cánh bay mãi miết về
cuối chân trời. Tam Văn cũng làm nghề nông, nhưng chú chưa từng thấy cánh đồng
nào rộng đến thế bao giờ. Thật đúng như câu “Thẳng cánh Cò bay” vậy.
- Vì sao ở đây lại có những cánh đồng rộng như thế thầy nhỉ? –
Tam Văn lại tò mò, hỏi.
- Lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc, Nam Bộ là vùng đất mới được khai
phá của người Việt về sau này. Nếu ta nhớ không nhầm thì có lẽ là từ khoảng cuối
thế kỷ 16 thì phải. Từ đấy, người Việt di cư vào vùng đất phương Nam ngày một
nhiều hơn và lập nên những thành phố và thôn, ấp trù phú như ngày hôm nay. Ban
đầu, nơi đây còn hoang sơ, nhiều rừng rậm và thú dữ lắm. Khi ấy, ai có sức đến
đâu thì được khuyến khích mở mang diện tích đến đấy. Đất được tính bằng công, bằng
giạ, chứ không phải bằng sào hay mét vuông như ở ngoài miền Bắc. Diện tích ruộng
của một người dân ở Nam bộ sở hữu, đôi khi còn bằng cả cánh đồng làng ngoài
mình nữa kia đấy. Tam Văn!
- Chà chà! Đến là rộng! …Vậy thế nào là công đất hả thầy?
- Một công đất thường lớn hơn gấp đôi một sào. Con chỉ cần hiểu
như thế để cho dễ hình dung là được.
Trời nắng chang chang, những dòng kênh mang theo dòng nước mát
và trong leo lẻo, chấp chới những cây cầu khỉ bắc qua. Những cây dừa nước, cây
sú, cây vẹt mọc hoang nhiều nhan nhản. Hai thầy trò vịn tay đi qua một cây cầu Khỉ
. Trong lúc cúi nhìn bóng họ in dưới mặt nước dập dờn như nhảy múa, thầy Thất
Sách vô tình bước hụt một cái, suýt thì ngã. Cũng may là thầy nhanh tay chụp được
cái thành cầu, níu lại, vì vậy mà không bị rơi xuống kênh.
- Ấy!...Thầy phải cẩn thận! – Tam Văn hốt hoảng kêu lên.
- Ta không sao. Tam Văn! – Thầy Thất Sách đáp và vịn tay đi được
đến đầu cầu bên kia.
Qua khỏi cầu, hai thầy trò đặt hành lý xuống và ngồi nghỉ dưới gốc
một cây Đước gần đấy.
- Hú hồn! Suýt nữa thì ta bị rơi tỏm xuống sông. Chẳng hiểu vì
sao người dân ở đây lại có thể đi lại trên cầu thoăn thoắt và nhanh nhẹn đến thế?
Cứ như là họ đang làm xiếc ấy! – Thầy Thất Sách vừa xoa xoa chỗ đầu gối bị trầy
xước, vừa nói.
- Người dân địa phương họ đi đã quen rồi. “Trăm hay không bằng
tay quen” mà thầy! – Tam Văn nói, cốt để an ủi chủ.
- Con nói đúng. Tam Văn! Không chỉ là chuyện đi cầu Khỉ đâu.
Ngay cả việc chèo thuyền và bơi lội thì người dân ở đây cũng đã thành thạo ngay
từ khi còn nhỏ rồi. Vùng này đâu đâu cũng có sông ngòi, kênh rạch. Bốn phương
tám hướng đều có sông, ngòi, ra khỏi nhà là đã thấy kênh, rạch rồi. Đó chính là
sự thích nghi và ứng phó của con người đối với môi trường sống vậy. Con thấy
đó, ở miền sông nước này, ngay đến cả họp chợ cũng diễn ra trên thuyền kia mà.
Có thể nói, ở đây, mỗi người dân là một vận động viên bơi lội bẩm sinh vậy.
Trong lúc hai thầy trò họ đang mãi mê nói chuyện, chợt nghe có
tiếng la hét, tiếng đánh đấm bồm bộp phát ra gần đó. Họ vội cúi thấp người, rồi hé mắt
nhìn qua kẽ lá. Cách đó chừng vài chục mét, có một người đàn ông đang bị trói
quặt hai tay vào một gốc cây to. Cả chân anh ta cũng bị trói, còn miệng thì bị
nhét giẻ cho nên không thể nói được. Có hai người nom rất hung dữ đứng canh gác
bên cạnh. Một người mặc áo gió, tay cầm dao sáng loáng, người kia mặc áo phông,
quần bò, tay lăm lăm cây gậy dài. Thi thoảng, hai gã kia lại chửi bới và đánh đập
người bị trói một cách rất tàn bạo, dã man. Tội nghiệp, vì đang bị trói nên anh
ta chỉ biết lắc đầu ú ớ, dù ánh mắt đã lạc đi vì sợ hãi nhưng cũng không thể làm
gì được.
Gã mặc áo gió kề dao vào cổ người bị trói, rồi gầm lên:
- Tại sao bọn người nhà mày lại chưa mang tiền chuộc tới hử? Hay
là chúng đã báo công an? Nếu chúng dám làm vậy, chúng ông thề là sẽ xé xác mày
ra!
Tiếp đó, gã mặc quần bò vung chân đá một cú trời giáng vào người
đang bị trói, khiến cho anh ta phải oằn mình lên vì đau đớn. Rồi gã lại chỉ tay
vào mặt người đó, doạ:
- Cho mày thêm 10 phút nữa. Nếu lúc ấy, chúng vẫn không mang tiền
chuộc tới, chúng ông sẽ tiễn mày đi gặp Hà Bá, nghe chửa!
Thì ra đó là một vụ bắt cóc để tống tiền. Hai gã kia chính là tội
phạm, còn người bị trói là nạn nhân, là con tin trong tay chúng.
- Chúng nói 10 phút nữa sẽ giết con tin đấy! Nếu chúng ta không
ra tay cứu thì e rằng tính mạng anh ta nguy mất! – Tam Văn lo lắng, nói.
Thầy Thất Sách sờ nhẹ tay vào thanh trường côn, ra lệnh bằng một
giọng âm thầm:
- Chuẩn bị hành động! Tam Văn!
Tam Văn thò tay vào túi, rút thanh đoản đao ra và cầm sẵn ở tay.
- Khi nào ta hô to thì cùng xông lên! Nghe chửa! – Vẫn giọng thì
thầm của thầy Thất Sách.
Lúc này, người kia vì bị đánh đau quá, gần như đã lịm đi, cả người
mềm oặt và rũ rượi như một tàu lá chuối, nom chẳng còn sức sống gì nữa.
Thấy tình thế đã nguy cấp, thầy Thất Sách bật dậy, hô lớn:
- Xung phong!
Thế là cả hai thầy trò cùng cầm vũ khí xông lên, khí thế mạnh mẽ
như vũ bão. Như đã nói, trong những lúc nguy cấp, thường thì trí thông minh của
Tam Văn bao giờ cũng tăng lên gấp bội. Bởi vậy mà vừa xông lên, chú vừa hô lớn:
- Đứng im! Cảnh sát đây!
Hai gã bắt cóc giật bắn người. Hai tiếng hô vang lên dồn dập gần như đồng thời, khiến chúng không kịp hiểu chuyện gì đang xẩy ra, hồn vía lên mây, còn chưa kịp suy nghĩ
gì, chúng vứt luôn cả vũ khí mà bỏ chạy như biến vào rừng.
Thấy bọn cướp đã chạy đi rồi, thầy Thất Sách bèn cúi xuống, mở
dây trói cho con tin. Tam Văn cũng lấy giẻ ra khỏi mồm anh ta.
- Đa tạ ân nhân! Đa tạ ân nhân! – Người bị bắt cóc hướng về phía
hai thầy trò, rập đầu mà lạy như tế sao.
Thầy Thất Sách đỡ anh ta dậy, rồi hỏi:
- Anh là ai? Tại sao chúng lại bắt và trói anh ở đây?
Người kia khập khiễng vịn tay vào gốc cây, những trận đòn vừa rồi
của bọn bắt cóc khiến anh ta cảm thấy khắp mình đau ê ẩm như dần.
- Sáng nay tôi đi làm đồng - Người ấy đưa tay lên quệt vết máu
khô còn vương nơi khóe miệng, bắt đầu kể - Chẳng hiểu vô duyên vô cớ vì sao mà
lại bị hai gã kia bắt cóc và mang vào rừng. Chúng trói tôi lại rồi đánh đập,
tra khảo, bắt tôi phải khai ra địa chỉ nhà. Sau đó thì một tên mang thư tống tiền
đến nhà tôi, hẹn người nhà đến đây để nạp tiền chuộc. Trong lúc người nhà chưa
kịp đến, chúng đã đánh đập và đe doạ sẽ giết tôi!...
- Đến đây thì hiểu rồi! Vì chúng tôi cũng đã được chứng kiến những
gì vừa xẩy ra – Thầy Thất Sách ôn tồn nói.
Vừa khi ấy thì có những tiếng lao xao phía sau:
- Kia rồi!
- Cả bọn bắt cóc nữa đấy!
- Mau lên!
Họ quay nhìn lại, thấy có chừng bảy, tám người đang hùa nhau chạy
tới, trong đó còn có cả cảnh sát mặc sắc phục nữa.
Mấy người nhà con tin vì tưởng hai thầy trò Tam Văn là kẻ bắt
cóc nên đã giận dữ xông vào, toan đánh. Nhưng người kia đã kịp thời giơ tay,
ngăn lại:
- Ấy!...Ấy! Đừng có nhầm lẫn. Đây chính là hai ân nhân của tôi đấy.
Chính họ đã cứu tôi. Nếu không có họ thì có lẽ tôi đã bị bọn bắt cóc sát hại rồi
cũng nên!...
Đám người nhà nghe thế thì liền đổi giận làm vui, quay sang cảm
tạ thầy trò Tam Văn liên hồi.
- Vậy là ổn rồi! – Người cảnh sát mặc sắc phục nói – Bà con hãy
bình tĩnh! Chớ có manh động. Mọi việc đã có pháp luật giải quyết hết!
Rồi tất cả cùng nhau quay trở về đồn để tường trình vụ việc. Tại
đây, thầy trò Tam Văn được đề nghị trao tiền thưởng vì đã có công giải cứu con
tin. Nhưng thầy Thất Sách đã kiên quyết từ chối và nói:
- Xin đa tạ! Nhưng cũng xin cho phép chúng tôi không nhận số tiền
này. Cứu đời, giúp người, đó vốn là bổn phận của những người hiệp sĩ như chúng
tôi đây vậy!
Cánh nhà báo, phóng viên thì cứ nhắm vào thầy trò Tam Văn mà phỏng
vấn và chụp ảnh rần rần. Vậy là, ngay ngày hôm sau, hình ảnh hai thầy trò họ đã
được đăng lên đầu trang nhất của báo địa phương. Bức ảnh chụp hai thầy trò đứng
cạnh nhau, Tam Văn với bộ đồ rằn ri thần thánh đang cười tươi hết cỡ, còn thầy
Thất Sách thì tay cầm gậy, vẻ mặt hết sức nghiêm nghị. Cạnh đó là dòng tít chạy
dài: “Chiến công rừng Đước và những người anh hùng giải cứu con tin”.
o0o
Hôm sau, hai thầy trò Tam Văn lại thuê một chiếc thuyền độc mộc
của dân địa phương và chèo đi tham quan rừng ngập mặn U Minh.
Tiết trời trong trẻo, thuyền nhẹ lướt đi, mặt nước lao xao, dập
dờn những đám lục bình nổi trôi vô định.
Hai thầy trò đang cắm cúi chèo thuyền, chợt nghe xa xa có tiếng
hò lảnh lót vọng lại.
Nhìn ra thì thấy có một chiếc thuyền chở trái cây đang dập dềnh
bơi lại. Đằng trước mũi là một thiếu nữ xinh đẹp, mình mặc áo bà ba, cổ quấn
khăn rằn, vừa chèo thuyền vừa cất giọng hò trong trẻo. Phía đuôi thuyền cũng có
một người đàn ông đang ngồi. Cả hai vừa chèo thuyền, vừa hò đối đáp với nhau.
Người nam hò rằng:
- “Thấy em có cái gò má hồng hồng
Phải chi em đừng mắc cỡ (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ…
Đừng mắc cỡ, thì anh xin bồng…anh hôn (ơ ơ)”.
Người thiếu nữ cũng vung mái chèo, hoà theo:
- “Hò ơ ớ ơ…
Chuyện vợ chồng đâu có khá bôn chôn
Anh thương em nên dè dặt (ơ ờ)
Hò ơ ớ ơ…
Nên dè dặt, chớ để thiên hạ đồn không hay (ơ ơ)”.
Thầy Thất Sách nghe xong thì cúi đầu, bồi hồi:
- Này Tam Văn! Con có biết vì sao những điệu hò của người Nam bộ,
dù rất hay nhưng vẫn đượm một nổi buồn man mác không?
- Thì âm nhạc vùng miền nào cũng có những đặc trưng riêng mà thầy!
– Tam Văn lơ đãng đáp.
- Nhà ngươi nói đúng, nhưng chưa giải thích được rõ nguồn cơn.
Nam bộ vốn là vùng đất mới của người Việt ta. Cuộc sống nơi đất khách, quê người,
xa gia đình, xa quê cha đất tổ, khiến cho người ta luôn có một nỗi nhớ nhung
khôn xiết. Thêm nữa, đứng trước thiên nhiên rộng lớn với sông nước mênh mang,
con người ta trở nên cô đơn, bé nhỏ. Đó chính là nguồn cơn của những nỗi buồn
man mác trong các điệu hò đất phương Nam vậy…