Thứ Tư, 24 tháng 12, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXXVI)

 

Tam Văn mơ làm giáo sư dạy học

Thầy Thất Sách đóng cửa viết hồi ký

Sau khi đã chữa khỏi bệnh sốt rét, sức khoẻ của thầy Thất Sách cũng ngày một hồi phục dần. Bác sĩ nói rằng, ngoài việc bị sốt rét do muỗi vằn Anophen đốt, thầy Thất Sách còn bị suy dinh dưỡng nặng do chế độ ăn uống thiếu thốn và cuộc sống gian khổ trong suốt thời gian lưu lạc. Vậy nên, việc cần thiết bây giờ là phải để thầy nghỉ ngơi và tĩnh dưỡng để cho cơ thể được khoẻ mạnh trở lại.

Lúc này, khi biết chắc chắn là từ nay thầy Thất Sách sẽ không  bỏ nhà ra đi nữa, bác trưởng tộc đã quyết định trả lại chiếc tủ sách trở về cho chủ cũ. Việc vận chuyển thì cũng đơn giản thôi, chiếc tủ được đặt lên xe trâu và đi diễu một vòng quanh xóm, trước khi trở về hội ngộ với “Đạo Nhân Thi Quán” trứ danh.

- Họ! họ!...- Tiếng người đánh xe vang lên rồi chiếc xe trâu ỳ ạch dừng lại trước sân. Chú Trâu đen vểnh sừng, ghếch mũi thở phì phì, sợi dây thừng kéo căng đến nỗi, cái đầu nghênh nghênh, dữ tợn của nó cứ ngoặt hẳn sang một bên.

Người ta hò nhau khênh chiếc tủ xuống, sau đó thì đặt đúng vào vị trí cũ mà nó đã từng đứng trước đây, ngạo nghễ và trang nghiêm.

Khỏi phải nói là thầy Thất Sách đã vui mừng và hạnh phúc như thế nào khi gặp lại chiếc tủ sách thân yêu của mình. Thầy đứng sững hồi lâu, cặp mắt đứng hình nhìn như thôi miên vào chiếc tủ, như khi người ta bắt gặp mối tình sét đánh đầu đời thủa đôi mươi vậy. Rồi thầy lại bắt đầu đi quanh chiếc tủ, dùng bàn tay dịu dàng, âu yếm vuốt nhẹ lên từng đường vân, thớ gỗ mà dù có nhắm mắt lại thì thầy vẫn có thể hình dung ra như thường. Khi chiếc khoá tủ hoen gỉ được mở ra, một mùi ẩm mốc lâu ngày xộc thẳng vào mũi, thế nhưng thầy Thất Sách lại cứ ngỡ đó là mùi trầm hương ngây ngất của lịch sử ngàn năm vọng về.

Với bàn tay run run, thầy cầm từng cuốn sách lên để xem, và khi tựa đề mỗi cuốn sách hiện ra, thầy lại xuýt xoa đọc tên chúng lên như khi bắt gặp lại hình bóng của cố nhân vậy:

- Ôi! “Hồng Lâu Mộng” của ta!...., “Tam Quốc Chí” của ta!..., “Hán Sở tranh hùng” của ta! Ôi!...

Phải mất đến cả tiếng đồng hồ để thầy Thất Sách sống lại với những cảm xúc hồi hộp và xúc động như thế. Cho đến khi từ ngoài sân có tiếng bà Lan la hét chú chó vàng vì tội tha mất mấy chú gà con dấu vào trong chuồng thì thầy mới tạm ngưng dòng hồi tưởng cao quý và miên man của mình.

Thời gian sau, khi thấy tác phong thầy Thất Sách đã nhanh nhẹn, tinh thần cũng linh mẫn hơn trước, bà Lan quyết định tổ chức một buổi đại tiệc để ăn mừng cuộc hội ngộ lịch sử này. Khách mời gồm có: Bác trưởng tộc, ông Thái hàng xóm, gia đình Tam Văn, các bạn thơ, bạn tổ tôm của thầy Thất Sách. Bàn tiệc được bố trí, sắp xếp thành một dãy dài trong sân, chủ và khách chia nhau ngồi hai bên, thứ tự thì như trên đã nói.

Trong suốt buổi tiệc, Tam Văn lúc nào cũng ngồi cạnh thầy. Chú nói cười luôn miệng, còn nét mặt thì thể hiện một vẻ tự hào, đắc ý không chút dấu diếm.

Không khí hội hè rõ rệt, lan toả đến từng ngõ ngách và không gian của ngôi nhà: Đèn nến sáng trưng, hoa cắm đầy bình, âm nhạc du dương, trầm bổng. Tiếng nói cười, tiếng trò chuyện, giọng đọc thơ vang vang.

Tiệc đông và rất vui, đồ ăn thức uống ê hề. Món nhắm đầy ú hụ trong tô, rượu đầy bình, bia sắp thành hàng, ai thích gì cứ uống nấy. Thái độ và tâm trạng của thầy Thất Sách thì rất chi là vui vẻ, hoà nhã. Thầy trò chuyện ôn tồn với mọi người, nói năng, đối đáp đều rành rẽ, đâu ra đấy cả. Đó là tác phong khiêm nhường của một con người đức cao, vọng trọng và danh tiếng lẫy lừng khắp bốn bể vậy.

Lúc rượu đã ngà say, bác trưởng tộc ngồi thẳng người lên, rồi vung tay, nói lớn:

- Thưa tất cả các quý vị! Xin hãy yên lặng để lắng nghe tôi bày tỏ đôi lời: Ấy là, kể từ giờ phút này, hiệp sĩ Thất Sách đây chính là niềm tự hào và vinh dự lớn lao nhất của cả gia tộc chúng tôi vậy!

Tất cả những người có mặt đều vỗ tay hoan hô. Nét mặt ai nấy đều lộ vẻ vui mừng, rạng rỡ.

Mặc dù hai cánh mũi cứ liên tục phồng lên xẹp xuống, nhưng thầy Thất sách vẫn tỏ ra vô cùng khiêm tốn. Thầy đứng lên, quay về phía bác trưởng tộc, rồi chắp tay, nghiêng mình:

- Tại hạ không dám! Không dám!...

Mọi người đều bụm miệng, cố để nhịn cười. Họ hiểu rằng, bệnh sốt rét của thầy có thể đã thuyên giảm, nhưng cái bệnh hoang tưởng kia thì chỉ có mỗi ngày một nặng thêm chứ chẳng thể nào dứt được.

Để nịnh thầy Thất Sách, ông hàng xóm nghệt mặt ra, vờ tiếc nuối:

- Giá như ngày trước, tôi cũng khăn gói theo ông đi chu du thiên hạ. Có phải là bây giờ cũng đã vang danh khắp cõi rồi không. Thật là tiếc quá!…Tiếc quá đi mất!...

Một bạn thơ vê vê chòm ria, hỏi:

- Trong lúc đi dọc miền đất nước như thế, hẳn là ông đã làm được rất nhiều thơ hay?

Thầy Thất Sách đáp:

- Đúng vậy! Đi đến đâu, đứng trước một thắng cảnh nào đó của đất nước, tôi đều tức cảnh mà làm thơ. Cảm xúc rất chi là dạt dào, lai láng vậy!

Một bạn thơ khác hót như khướu:

- Có thể nói không ngoa rằng: Những hiệp sĩ vĩ đại và xuất chúng như bác Thất Sách ta đây, cũng phải mất đến mấy trăm năm thì lịch sử mới lại sản sinh ra được một người vậy!

Mọi người lại vỗ tay hoan hô nhiệt liệt.

Người ta tâng bốc thầy Thất Sách lên tận mây xanh như thế, mục đích là để nịnh thầy, để thầy thấy vui. Vì họ thừa hiểu rằng, nếu chẳng may mà làm thầy phật ý hay nổi giận, thì với cái đầu óc hoang tưởng rất nặng nề ấy, không ai có thể lường trước hậu quả tai hại nào sẽ xẩy ra. Với thanh trường côn bất khả chiến bại trong tay, thầy sẽ không ngần ngại mà trút hết giận lên bất cứ những kẻ nào dám chế diễu và cười nhạo mình. Về phần mình, thầy Thất Sách cứ tưởng là mọi người đang hâm mộ và thán phục mình thật. Vì vậy mà thầy ngồi thẳng người lên, ngực ưỡn ra với một vẻ tự hào nhất đời, khuôn mặt thì đỏ hồng vì rượu và vì sung sướng.

Một ông bạn tổ tôm trước đây chuyên ngồi chéo cánh với thầy Thất Sách, phùng mang, nuốt vội miếng bánh, rồi nói:

- Ông Thất Sách hãy kể lại chuyện phiêu lưu cho chúng tôi nghe đi! Với quãng thời gian lâu như vậy, ắt hẳn là hay và ly kỳ lắm nhỉ?!

Thầy Thất Sách đặt ly rượu xuống, rồi chắp tay, trịnh trọng:

- Thưa các chư vị! Chuyện phiêu lưu thì dài lắm, chỉ với mấy lời ngắn gọn thôi thì làm sao mà kể cho xiết. Vậy nên, để đáp lại tấm thịnh tình ấy, từ nay, tôi sẽ bắt đầu đóng cửa viết hồi ký. Đến khi nào hoàn thành, tôi sẽ xin trình để các chư vị và quý bạn được tường!

o0o

Năm nay, có một sự kiện mà mọi người đều lấy làm lạ và thích thú. Ấy là cây Lê trong vườn nhà thầy Thất Sách lâu nay bị sâu bệnh, cành lá trơ trọi, không trổ được hoa. Vậy mà tháng trước đột nhiên lá mọc ra mơn mởn, hoa nở đầy cành và rực rỡ như sao sa. Có một đôi chim Sẻ ríu rít rủ nhau làm tổ ở trên ấy. Chúng bay đi khắp nơi, miệt mài tha về những cọng rơm và lông vũ mềm mại, rồi xây thành một cái tổ hình vòm kín đáo, xinh xinh. Với những chiếc mỏ bé xíu, chúng kết hợp các vật liệu lại với nhau một cách khéo léo, tối ngày bận bịu với công việc xây dựng tổ ấm cho mình. Mọi người vì tò mò, rủ nhau kéo đến xem đông như trẩy hội. Thầy Thất Sách cho đặt một tiệc trà ở ngay dưới gốc cây Lê. Chủ, khách cùng ăn bánh, uống trà, rồi vừa thưởng hoa vừa bàn tán với nhau rất chi là sôi nổi. Ai cũng cho rằng, đó là điềm lành, là tín hiệu của sự hồi sinh và tái khởi vậy.

Nếu như thầy mình viết hồi ký, thì với Tam Văn, chú cũng đang ấp ủ trong lòng một dự án thế kỷ, ấy là biến giấc mơ trở thành ông giáo làng của mình trở thành hiện thực. Theo đó, chú sẽ mở lớp học tại nhà, dạy dỗ miễn phí cho tất cả trẻ con trong làng, trong xã muốn đến đây để nâng cao kiến thức. Chú cho rằng, cuộc phiêu lưu vừa qua đã cho chú một vốn hiểu biết phong phú và vô cùng bổ ích. Cộng với những kiến thức uyên bác mà thầy Thất Sách đã tận tình truyền dạy cho, chú dám chắc rằng, cả cái xã Yên Phong này, không một ai có thể xứng đáng để trở thành người gõ đầu trẻ tốt hơn là mình cả. Một giấc mơ đẹp, cao cả và không hề tầm thường chút nào, phải không quý vị? Tất cả chúng ta đều chúc cho chú sớm thành công và toại nguyện với dự án tâm huyết của đời mình vậy.

Như đã hứa, kể từ đó, thầy Thất Sách cũng bắt đầu đóng cửa để viết hồi ký. Trong đó, thầy sẽ kể lại toàn bộ chuyến phiêu lưu kỳ thú của mình, cũng như gửi gắm những lời nhắn nhủ chân tình cho hậu thế.

Diễn biến của cuộc phiêu lưu thì như tất cả chúng ta đều đã biết. Còn ở đoạn cuối, thầy viết:

 “…Kính thưa độc giả muôn phương! Tính đến nay, đôi chân của tại hạ đã từng bôn tẩu và phiêu du khắp mọi miền đất nước. Khi non cao, lúc biển rộng, sông dài. Tại hạ cũng từng được hảo hán khắp nơi trong thiên hạ yêu mến mà tôn vinh là “Võ Lâm Minh Chủ”. Ngoài ra, với thanh trường côn bất khả chiến bại trong tay, tại hạ cũng đã lập được vô số những chiến công hiển hách. Giờ đây, có thể nói: Công danh như thế kể cũng đã là tột đỉnh rồi. Vinh quang đến thế kể cũng không cần mong gì hơn nữa vậy!

Ở đâu dưới gầm trời này, còn có cảnh bạo lực, bất công và phân biệt đối xử. Đó là vì người ta còn nghĩ rằng mình có quyền làm như vậy, rằng mình ở trên người khác. Kỳ thực, trời không sinh ra người ở trên người. Không phải bạo lực, chiến tranh, cũng không phải là sức mạnh của khủng bố, mà chính tình yêu thương mới mang lại bình yên và hạnh phúc cho con người.

Mọi người trên thế gian này đều sinh ra bình đẳng, tất cả chúng sinh đều bình đẳng. Với tình nhân ái và yêu thương, nhân loại sẽ đến được bến bờ hạnh phúc!”.

Ngày nay, nếu ai có dịp ghé thăm “Đạo Nhân Thi Quán” năm xưa. Ở đó, gió vẫn thổi vi vút trong vườn xoài, lũ cá vẫn lững lờ bơi lượn dưới ao sâu. Nơi căn phòng nhỏ rợp bóng cây và rộn tiếng chim ca có một ô cửa sổ. Nếu nhìn qua ô cửa ấy, ta sẽ bắt gặp hình bóng thân thương của hiệp sĩ Thất Sách trứ danh vẫn đang ngồi đăm chiêu, suy nghĩ. Và dưới ngòi bút của ông, những câu chuyện kể về cuộc đời và cuộc phiêu lưu kỳ thú vẫn cứ thế trãi dài, vô tận, tưởng chừng không bao giờ dứt. 

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXXV)

 

PHẦN V: TRỞ VỀ

Thầy Thất Sách bị muỗi vằn Anophen đốt

Giang hồ dừng bước, ứng như lời cư sĩ tiên tri

Bấy giờ, hai thầy trò Tam Văn đã bơi thuyền vào sâu bên trong rừng U Minh Hạ. Hai bên mạn thuyền, những cây Móp, cây Tràm, Bòng Bong… giăng kín và ken dày như thành luỹ. Những bãi Sậy um tùm như mê cung, đánh đố óc phán đoán và quan sát của người đi rừng. Sóng đánh giập giờn, cây xanh phủ kín, thầy trò họ như đang lạc vào thế giới của sóng nước và rừng rậm bao quanh.

Thi thoảng, trên bãi đất nổi, họ lại bắt gặp những chú Cua đang vung càng bò lổm ngổm, những cụ Rùa chậm rãi bò lên bờ và thò cái đầu bé nhỏ ra phơi nắng. Bằng cặp mắt tinh nhạy, đôi khi Tam Văn còn phát hiện ra được cả rái cá và những loài Tê Tê quý hiếm ở đây nữa. Lũ rái cá, với cái đầu tròn tròn trơn trượt và bộ lông nhẵn thín, thoắt ẩn thoắt hiện dưới nước, thật xứng danh là những tay thợ lặn cừ khôi bậc nhất chốn thuỷ cung vậy.

Từ dưới mặt nước, cây cối cứ thế mọc lên thành rừng. Nhiều nhất là những cây Đước, với bộ rễ nổi lên khỏi mặt nước, cứng cáp và khoẻ mạnh, gợi nhớ về một thời nguyên thuỷ, hồng hoang. Muốn đi được trong rừng, người ta buộc phải dùng đến ghe, thuyền để di chuyển và luồn lách giữa những thân cây.

- Xưa nay con cứ nghĩ, đã là rừng thì phải ở trên cao. Ai dè bây giờ lại có cả rừng ở dưới nước như thế này nữa cơ đấy! – Tam Văn nói.

- Đây là rừng ngập mặn. Tam Văn! – Thầy Thất Sách giải thích - Hễ ở đâu mà cây cối mọc nhiều thì được gọi là rừng, chứ không phụ thuộc vào địa hình thấp, cao gì cả.

Mãi mê với phong cảnh, thầy trò Tam Văn như lạc mất lối về. Như chúng ta đều biết, thầy Thất Sách luôn nhìn nhận sự vật qua lăng kính của tâm tưởng, bởi vậy mà thầy nói:

- Này, Tam Văn! Ta đã quyết định sẽ ngủ lại trong rừng một đêm để đối thoại với thiên nhiên, cũng như để cảm nhận được sự hiểm nguy, gian khổ của những bậc tiền nhân đã từng mang gươm đi mở cõi khi xưa.

Cung kính không bằng tuân mệnh. Dù không hài lòng cho lắm, thế nhưng Tam Văn vẫn buộc phải gật đầu nghe theo lời chủ.

Cuối buổi chiều, họ ghé vào một vùng nước yên tĩnh, cẩn thận buộc thuyền vào một gốc cây Tràm to đến cỡ người ôm. Khi trời vừa chập tối, họ bắt đầu leo lên cây để nghỉ qua đêm. Hai thầy trò, mỗi người chọn cho mình một nhánh cây ưng ý để ngồi. Những chỗ ấy toẽ ra thành chạng ba, chạng tư kín kẽ như những chiếc ghế tựa, đủ chỗ cho một người ngồi hoặc nằm nghiêng trên đó. Sau đó, họ lại dùng dây cột người mình vào thân cây, để buổi tối, trong lúc ngủ quên sẽ không bị rơi xuống dưới. Dĩ nhiên rồi, tất cả những người đi rừng có kinh nghiệm đều phải làm như thế, huống chi đây lại là rừng ngập nước, chẳng ai lại muốn vô tình bị rơi xuống nước rồi làm mồi cho cá Sấu cả. Như chúng ta đều biết, ở rừng U Minh có rất nhiều cá sấu sinh sống, chúng đặc biệt hung dữ và rất chi là thèm ăn thịt người. Khi nghe thầy nói là phải buộc dây để đề phòng cá Sấu, tam Văn cảm thấy ớn lạnh và khắp người nổi hết gai ốc. Bởi vậy mà chú đã rất cẩn thận, sau khi buộc xong, chú còn quấn thêm vài vòng nữa, thành ra lúc này, cả người chú nom cứ như là một cái xác ướp Ai Cập vậy.

Ban đêm, trời âm u và tối đen như mực. Muỗi, mòng, vắt và các loài ký sinh nhiều vô số kể. Ếch nhái kêu vang, tiếng cá Sấu lội nước lõm bõm, tiếng rắn bò trên cây nghe loạc xoạc. Thật không thể nào kể xiết những mối hiểm nguy đang rình rập họ trong bóng tối. Vốn giàu trí tưởng tượng, Tam văn sợ quá, buộc miệng thốt lên:

- Con sợ quá thầy ạ!

Từ cành cây bên kia, thầy Thất Sách đáp vọng sang:

- Gian nan, nguy hiểm là để thử thách sức chịu đựng và lòng can đảm của con người. Để có được thành tựu lớn lao, người ta buộc phải đánh đổi bằng những sự hy sinh và đau khổ vĩ đại. Tam Văn!

Vừa khi ấy, có tiếng quẫy nước đánh “Rạt” một cái, giống như một sinh vật nào đó quăng mình lên khỏi mặt nước độ vài thước.

 - Cha mẹ ơi! – Tam Văn giật nảy mình, kêu lên.

- Tam Văn! Con chớ có sợ hãi như thế! Làm vậy không đúng với tinh thần của một người hiệp sĩ đâu! – Lại là lời nhắc nhở của thầy Thất Sách vang lên trong bóng tối.

- Có thể đó chỉ là một con cá to. Nhưng con lại cứ ngỡ là cá Sấu – Tam Văn nói, giọng vẫn chưa hết run – Thầy thử nghĩ xem…nếu đó là cặp hàm sắc nhọn của cá Sấu, với một cú đớp mạnh như thế thì còn gì là người nữa?!...

- Tam Văn! Con quên rồi sao? Chúng ta đã cột mình trên cao, cách mặt nước những 3 mét rồi kia mà. Chẳng có loài cá sấu nào lại có thể quăng mình lên khỏi mặt nước với khoảng cách xa đến như vậy cả. Có lẽ vì sợ quá nên con mới lú lẫn, thần hồn nát thần tính rồi chăng?

Trong bóng tối, Tam Văn đỏ mặt lên vì cảm thấy xấu hổ. Thầy chú nói đúng. Chú nhớ là lúc chiều, hai thầy trò đã leo lên những cành cây cao nhất để ngồi, đủ khoảng cách an toàn so với mặt nước rồi.

Không còn phải lo cá Sấu, nhưng Tam Văn lại nghĩ đến một nỗi sợ khác cũng nguy hiểm không kém. Lúc chiều, trong khi chèo thuyền, chú có nhìn thấy một con Trăn gấm to như cái cột nhà đang quấn mình quanh một cái cây và leo lên. Lúc này, chú mới thấy quyết định ở lại đêm trong rừng là một việc vô cùng sai lầm và nguy hiểm. Bởi vậy mà chú ấm ức, rồi thầm sinh ra oán thầy về chuyện ấy. Có tiếng cành cây lay động loạt soạt như có ai đó đang vạch lá để leo lên cây. Tâm Thần bấn loạn, Tam Văn đoán là có một con trăn gấm đang từ từ trườn về phía mình. Sợ quá, chú lại hét lên:

- Thầy ơi!

- Lại chuyện gì nữa vậy? – Giọng thầy Thất Sách khó chịu.

Tam Văn lắp bắp:

- Nhưng…nhỡ có…có Trăn thì sao? Cá Sấu không leo lên cây được, nhưng Trăn thì có đấy. Nhỡ nó mà quấn chặt lấy thầy trò mình rồi nuốt chửng vào bụng thì thật là oan gia. Giữa rừng rậm âm u và sông nước mênh mang thế này, nếu bị Trăn nuốt vào bụng thì còn ai biết mà tìm thấy xác nữa? Như vậy người ta gọi là chết mất xác đấy thầy ạ. Con sợ phải làm mồi cho Trăn lắm!

- Sao con lại hèn nhát làm vậy? Hết sợ ma, sợ bóng tối, rồi lại sợ đến cả trăn và cá sấu nữa. Nhà ngươi sợ đủ thứ trên đời như thế, vậy mà đi đến đâu cũng dám vỗ ngực rêu rao là đại đệ tử của hiệp sĩ Thất Sách ư? Hãy im lặng và nhắm mắt lại mà ngủ đi. Từ bây giờ đừng có nhắc đến những chuyện như thế nữa! – Thầy Thất Sách tức giận, gắt lên.

Tam Văn nằm im trên võng, không dám nói thêm nữa, thế nhưng trong bụng thì vẫn cứ lo ngay ngáy, không một phút nào nguôi.

Cá Sấu không quăng mình đến nơi. Trăn có thể không xuất hiện, rắn độc không cắn. Thế nhưng có một mối nguy hiểm khác thường trực và không thể nào né tránh được, ấy chính là Muỗi. Muỗi ở đây to và nhiều như trấu. Đó là muỗi vằn Anophen chính hiệu, giống muỗi chuyên gây bệnh sốt rét cho con người. Chúng kêu o o như tàu bay rồi cắm cái vòi nhọn hoắt lên người mà đốt không một chút thương tiếc. Tam Văn phải vỗ đen đét vào tay, vào chân để đuổi muỗi, và mỗi lần như thế, chú lại cảm thấy nhơn nhớt ở tay. Đêm tối không nhìn thấy gì, nhưng chú đoán đó là máu tươi. Tất cả những chỗ hở trên người Tam Văn đều bị muỗi đốt, ngứa ngáy và đau nhói đến là nhức nhối, khó chịu.

Dù lo sợ và liên tục bị muỗi đốt, nhưng đến khuya thì Tam Văn cũng mệt quá mà ngủ thiếp đi lúc nào không hay. Khi tỉnh dậy, chú thấy trời đã sáng bảnh. Dưới kia, dòng nước vẫn chảy róc rách, len lỏi qua những thân cây, nhằng nhịt, vô hình, vô lối như một ma trận. Nhìn xuống, thấy chiếc thuyền vẫn buộc nguyên chỗ cũ, dập dềnh lên xuống theo sóng nước thuỷ triều. Hai thầy trò bảo nhau tháo dây buộc, rồi bắt đầu từ từ tụt xuống.

Trên con đường trở về, con thuyền độc mộc như một mũi tên lao vút, nhẹ nhàng lướt đi trong tiếng nhạc rừng và tiếng mái chèo khua sóng nước lao xao…

o0o

Sau khi từ rừng U Minh trở về, thầy Thất Sách bị ốm nặng. Đó là chứng bệnh sốt rét do bị muỗi vằn Anophen đốt. Thầy lên cơn nóng sốt, thậm chí co giật, khắp mình khắp mẩy, mồ hôi toát ra đầm đìa như tắm. Tam Văn lo sốt vó, hết chăm sóc cho thầy lại chạy đôn chạy đáo để lo thuốc thang, chạy chữa.

Một tuần sau mà bệnh tình của thầy Thất Sách vẫn chưa hề thuyên giảm. Trong cơn mê sảng, thầy thường nói rằng mình là hậu duệ của vua Hùng, là “Võ Lâm Minh Chủ”, và đôi khi còn gọi cả tên những người mà Tam Văn chưa từng được nghe thấy bao giờ cả.

Tam Văn gác lại mọi việc, đêm ngày túc trực bên giường bệnh của chủ. Mỗi khi thầy giật mình nói sảng, chú lại nắm chặt lấy bàn tay thầy mà nước mắt vắn, dài:

- Tội nghiệp! Thầy ốm nặng quá. Ta phải làm gì để cứu thầy bây giờ?...

Ở đây cả hai thầy trò đều không quen biết ai, cũng không người thân thích. Bởi vậy mà dù đã suy nghĩ nát óc, Tam Văn vẫn chưa tìm ra được phương cách gì để xoay xở trong lúc này cả. Sau cùng, bí quá, chú đành phải cầu cứu đến người chủ nhà trọ.

Chủ nhà là một ông cụ đã ngoài bảy mươi tuổi. Khi nghe Tam Văn trình bày hoàn cảnh, cụ đã tỏ ra rất lo lắng.

- Vấn đề cũng nan giải đấy! Hãy để ta suy nghĩ thêm một lúc xem sao! – Cụ già bóp trán, nói với Tam Văn.

Ngay chiều hôm ấy, chủ nhà trọ xuất hiện cùng với một người công an khu vực nữa. Hai người vào phòng, ngồi chuyện trò và trao đổi với Tam Văn một lúc. Lúc này, thầy Thất Sách vẫn đang nằm trên giường, hai mắt nhắm nghiền, trán dâm dấp mồ hôi vì mới lên cơn sốt rét.

- Ông ấy bệnh từ khi nào? – Người cảnh sát đưa tay sửa lại cái vành mũ Kepi trên đầu, hỏi.

- Một tuần nay rồi đấy ạ! – Tam Văn đáp.

Cụ chủ nhà kéo tấm chăn bị tuột, đắp lại lên người cho thầy Thất Sách rồi lại ngồi chống cằm, trầm ngâm.

Trong cơn mê sảng, thầy Thất Sách đột nhiên nhổm dậy, quờ tay, gọi:

- “Xích Long”, “Lưu Hùng”! Hiền đệ!...

Cụ chủ nhà lắc đầu, thở dài:

- Bệnh của ông ấy nặng lắm rồi vậy!

Sau một cái khoát tay dứt khoát, người cảnh sát khu vực quay sang nhìn Tam Văn, nói:

- Ý tôi thế này, không biết là anh có đồng ý cho không?

- Vâng! Anh cứ nói! – Tam Văn nói, giọng rụt rè.

- Theo như tôi được thấy, bệnh tình của thầy anh hiện nay đã khá nặng. Mà ông ấy lại đang cần phải được nghỉ ngơi và chữa trị nữa. Bởi vậy mà tôi quyết định thế này: Bây giờ anh hãy cung cấp địa chỉ liên lạc gia đình. Sau đó chúng tôi sẽ mua vé tàu cho hai thầy trò anh trở về quê. Để cho thầy của anh được chữa trị kịp thời. Vậy nhé!…

o0o

Bà Lan vừa đi chợ về đến nhà thì bắt gặp người chủ dịch vụ điện thoại đến gọi.

- Bà Lan ơi! Có tin về ông nhà đấy! – Người đàn bà vừa kịp chạy đến, hổn hển nói.

Vì bất ngờ, suýt nữa thì bà Lan đánh rơi cả cái làn trên tay.

- Ông ấy… gọi về… hả bà? – Bà lắp bắp hỏi, mắt mở to hồi hộp.

- Không! Là một người khác gọi. Nhanh lên! Họ sắp gọi lại đấy!

Bà Lan đặt vội cái làn xuống thềm rồi nhanh chân bước theo người đàn bà, lúc này đã bước thoăn thoắt ra đến cổng.

- Bà ngồi xuống đây! – Người chủ đại lý chỉ tay vào chiếc ghế đẩu cạnh bàn, nói.

Bà Lan chống tay, ngồi xuống mép ghế, nhấp nha nhấp nhổm vì sốt ruột. Trong khoảng thời gian ấy, bà cứ nhìn chằm chằm vào cái ống nghe điện thoại đặt trên bàn như bị thôi miên. Chừng vài phút sau, có tiếng chuông reo lên lảnh lót. Bà Lan chồm hẳn người lên, tim như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực.

- Kìa! Bà nghe đi! Họ gọi lại đấy! – Người chủ nhà rời mắt khỏi cuốn sổ, nhắc.

Bà Lan đứng lên, nhấc ống nghe:

- A lô!... Tôi nghe đây! – Bà nói, hai con mắt hấp háy đầy căng thẳng.

Từ đầu dây bên kia, giọng một người đàn ông còn trẻ và rất vang:

- A lô! Xin cho hỏi. Có phải bà Lan, vợ ông Thất Sách đó không ạ?

- Vâng! Tôi đây! – Bà đáp, tai áp chặt hơn vào ống nghe.

- Chúng tôi bên công an. Muốn gọi để thông báo cho bà một việc. Ông Thất Sách, chồng bà hiện đang ở chỗ chúng tôi. Ông ấy bị ốm và cần được nghỉ ngơi, chữa trị. Hiện nay chúng tôi đã mua vé tàu cho ông ấy về quê. Tàu đi từ ga Sài Gòn, đến ngày kia thì về đến nhà. Vậy chúng tôi thông báo để gia đình được biết và có kế hoạch đón bác ấy nhé!...

Trong cuộc điện thoại, người ấy còn nói nhiều nữa, nhưng bà Lan thì chẳng nhớ được gì cả. Đầu óc bà lúc này chỉ còn nhớ là Thầy Thất Sách đang ốm và sắp trở về nhà.

Khi đặt ống nghe xuống, bà áp một tay lên ngực, rồi cứ thế đứng lặng thinh, ánh mắt bần thần, chẳng biết là mình nên làm gì tiếp theo nữa.

- Ông ấy đang ở đâu? Khi nào thì về? – Bà chủ đại lý nhìn vào mắt bà Lan, hỏi dồn.

- Vâng!....vâng…cũng sắp về! Nghe nói là từ… ga Sài Gòn thì phải – Bà lắp bắp trả lời những câu chẳng ra đầu ra đũa. Rồi sau khi đã nói lời cảm ơn,  bà như sực tỉnh, tất tả quay lưng và bước như chạy về nhà.

Vì thầy Thất Sách đang bị ốm nặng nên người ta đã quyết định thuê hẳn một chuyến xe Công Nông để đến ga tàu đón thầy. Đi cùng chuyến xe ấy còn có bác trưởng tộc và ông Thái hàng xóm, hai người đàn ông thân thiết nhất với thầy Thất Sách vậy.

Một hồi còi kéo dài, vang vọng khắp không gian, báo hiệu tàu sắp vào ga.

Trong sảnh chờ, những người đi đón đều đang đứng nhấp nhổm, vẻ mặt mong ngóng, thấp thỏm. Đoàn tàu xình xịch chạy vào sân ga rồi từ từ đỗ lại. Hai người đàn ông căng mắt nhìn như dán vào những toa tàu sơn xanh đỏ để chờ đợi sự xuất hiện của thầy trò Tam Văn. Từ những cánh cửa hé mở, hành khách lục tục xách theo hành lý và bắt đầu từ các toa bước xuống sân ga.

- Sao vẫn chưa thấy họ nhỉ? Hay là đi chuyến khác? – Ông Thái xoa xoa hai bàn tay vào nhau, sốt ruột.

- Chúng ta cứ hãy chờ xem. Có lẽ là chuyến này thôi! Tàu chợ thì đông người và nhiều hàng hoá cho nên hơi lâu! – Bác trưởng tộc đáp, ánh mắt vẫn không hề lay động.

Kia rồi! Từ toa tàu số 9, Tam Văn đang ngật ngưỡng dìu thầy mình bước xuống toa. Một tay chú ôm lấy eo thầy, tay kia xách theo túi hành lý cồng kềnh. Thầy Thất Sách thì bước đi xửng vửng, cánh tay phải khoác qua vai Tam Văn, dáng người mềm oặt cứ như là người say rượu.

Hai người đàn ông vội hùa nhau chạy lại.

- Bị gì thế này? – Bác trưởng tộc nhìn thẳng vào mắt Tam Văn, hỏi.

- Bị sốt rét!

- Chúng ta dìu ông ấy lên xe thôi! – Ông Thái nói và khoác lấy cánh tay còn lại của thầy Thất Sách, cùng dìu đi.

Cả bốn người đi về phía chiếc xe Công Nông đang đợi sẵn. Thầy Thất Sách được khênh lên thùng xe, đặt nằm ngửa, đầu gối lên chiếc áo Ba Đờ Xuy gấp lại làm đôi. Những người khác thì chia nhau ngồi xung quanh để đỡ và trông chừng thầy.

- Được chưa? Để cho xe chạy? – Người lái Công Nông ngoái lại, hỏi.

- Được rồi. Chạy đi! – Ông Thái đáp, giọng vang vang.

Thầy Thất Sách nằm im, mắt nhắm nghiền, hai tay được đặt ngay ngắn lên bụng, trông như lúc đang ngủ. Người thầy gầy rộc, hai mắt trũng sâu, trên hai bàn tay khẳng khiu, những đường gân xanh nổi lên ngoằn ngoèo, chi chít như đường giun bò. Nhìn dáng vẻ tiều tuỵ và ốm yếu của thầy, bác trưởng tộc không khỏi cám cảnh, ngao ngán lắc đầu.

- Bác không sao chứ bác Thất Sách? – Ông Thái cúi đầu xuống, lo lắng hỏi.

Thầy Thất Sách cựa mình, đáp lại bằng một giọng thều thào, yếu ớt:

- Đa tạ!...Tại hạ không sao?....

 Mặc dù tiếng máy của Công Nông hơi lớn khiến thầy Thất Sách cảm thấy khó chịu, nhưng cũng may là quãng đường không xa lắm, chỉ cách “Đạo Nhân Thi Quán” chừng dăm cây số đường chim bay, cho nên chỉ một lúc sau là họ đã có mặt ở nhà.

Bấy giờ là nhằm trung tuần tháng 9 năm 1996.

Đến đây, hẳn quý vị còn nhớ câu kệ của “Tuyết Sơn Cư Sĩ” chăng? Câu kệ ấy rằng: “Hai năm trời lưu lạc. Gặp Lợn thì vinh. Gặp Muỗi thì hết”. Kể từ khi hai thầy trò Tam Văn lưu lạc giang hồ, đến nay vừa tròn hai năm, đúng như trong câu kệ đã nói. Còn “Gặp Lợn thì vinh”: Tại cánh đồng Lợn Lòi, thầy Thất Sách được tôn làm “Võ Lâm Minh Chủ”. Đó chính là cột mốc vinh quang trên bước đường phiêu lưu của thầy vậy. Rồi lại đến câu: “Gặp Muỗi thì hết”. Tức là thầy bị muỗi vằn Anophen đốt rồi bị bệnh sốt rét. Vì thế mà thầy trò họ phải trở về quê, kết thúc cuộc phiêu lưu đầy vẻ vang và kỳ thú vậy.


Thứ Ba, 23 tháng 12, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXXIV)

 

Lập công lớn, thầy trò Tam Văn được lên đầu trang nhất

Chèo thuyền độc mộc, đêm ngày khám phá đất U Minh.

Đất phương Nam nắng vàng và gió lộng, sông ngòi, kênh rạch giăng mắc như một mạng lưới thuỷ mạch đan cài.

Bữa ấy, hai thầy trò Tam Văn đi qua một cái chợ nổi, đó là một cảnh tượng mà xưa nay họ chưa từng được chứng kiến bao giờ. Chợ họp ngay trên sông, giữa mênh mang sóng nước. Người, rồi ghe, thuyền, chen chúc và tấp nập như nêm. Cả người bán và người mua đều đi lại bằng ghe. Trên những chiếc ghe lớn nhỏ, trái cây, nông sản được chở đầy ăm ắp. Nào là Bí ngô, dưa hấu, khóm, sầu riêng, cam, xoài, chôm chôm, vú sữa…cùng đủ các loại rau củ khác. Trái cây chất đống trên ghe, trên thuyền, trái cây đựng đầy trong những chiếc sọt tre sắp thành dãy dài trên mạn. Màu sắc sặc sỡ của các loại trái cây, rau củ tươi rói và nhuộm thắm cả một khúc sông rộng lớn. Trên mỗi chiếc thuyền như vậy, người ta đều cắm những cây sào (còn gọi là bẹo hàng), trên đó buộc các mặt hàng mà thuyền của mình sẽ bán.

Tam Văn ngửa cổ, trỏ những chiếc bẹo hàng vươn cao lên nóc thuyền, thú vị:

- Chỉ cần nhìn vào những chiếc sào kia, người ta đã có thể biết thuyền chở hàng gì rồi. Rõ là độc đáo thật!

- Đó là một kiểu quảng cáo trực quan và rất sinh động. Tam Văn! – Thầy Thất Sách nói - Chỉ những chiếc thuyền hàng thì mới treo như vậy. Nhìn vào bẹo hàng, người ta sẽ phân biệt được đâu là thuyền bán, đâu là thuyền buôn. Rất đơn giản và hiệu quả. Quả là một phát kiến hay và sáng tạo vậy!

Lại có cả những chiếc ghe chuyên bán đồ ăn để phục vụ khách trên sông nữa. Chiếc ghe ấy đỗ lại, những khách hàng thì tấp ghe của mình xung quanh để ăn. Phở, bún, hủ tiếu, xôi…đủ các món ngon. Những bát, những chậu lỉnh kỉnh, khói bốc nghi ngút trên thuyền như những quán hàng di động. Mọi nhu cầu sinh hoạt đều diễn ra trên ghe, ngay trên mặt sông mà chẳng cần phải lên bờ. Khung cảnh tấp nập, đông vui, thể loại phong phú, chẳng khác nào là chợ họp trên đất liền cả.

Những chiếc ghe, sau khi đã mua được hàng, liền rời đi, nhường chỗ cho những chiếc ghe khác tấp vào. Thuyền nào lớn, có mái, người ta còn để cả những sọt trái cây, rau củ lên trên nóc thuyền để tận dụng không gian và diện tích chật hẹp trên đó.

Chợ họp trên sông, vì vậy mà chủ yếu chỉ bán buôn, bán sỉ. Hàng hoá được chuyên chở thẳng từ miệt vườn tới đây, các loại trái cây, rau củ ấy đều do chính tay nhà vườn chăm sóc và thu hái vậy. Việc trao đổi, mặc cả cũng được diễn ra một cách chóng vánh, mau lẹ, đúng như tác phong hào sảng của người Nam Bộ xưa nay.

Qua khỏi khu chợ nổi, hai thầy trò lại bước đi trên một cánh đồng rộng mênh mông. Lúa đến thì con gái, xanh ngắt và trãi dài như vô tận. Gió thổi những thân lúa mềm mại rạp xuống, uốn lượn, tạo thành những đợt sóng dập dờn như biển cả. Xa xa, một đàn chim xếp thành hình chữ V, sải cánh bay mãi miết về cuối chân trời. Tam Văn cũng làm nghề nông, nhưng chú chưa từng thấy cánh đồng nào rộng đến thế bao giờ. Thật đúng như câu “Thẳng cánh Cò bay” vậy.

- Vì sao ở đây lại có những cánh đồng rộng như thế thầy nhỉ? – Tam Văn lại tò mò, hỏi.

- Lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc, Nam Bộ là vùng đất mới được khai phá của người Việt về sau này. Nếu ta nhớ không nhầm thì có lẽ là từ khoảng cuối thế kỷ 16 thì phải. Từ đấy, người Việt di cư vào vùng đất phương Nam ngày một nhiều hơn và lập nên những thành phố và thôn, ấp trù phú như ngày hôm nay. Ban đầu, nơi đây còn hoang sơ, nhiều rừng rậm và thú dữ lắm. Khi ấy, ai có sức đến đâu thì được khuyến khích mở mang diện tích đến đấy. Đất được tính bằng công, bằng giạ, chứ không phải bằng sào hay mét vuông như ở ngoài miền Bắc. Diện tích ruộng của một người dân ở Nam bộ sở hữu, đôi khi còn bằng cả cánh đồng làng ngoài mình nữa kia đấy. Tam Văn!

- Chà chà! Đến là rộng! …Vậy thế nào là công đất hả thầy?

- Một công đất thường lớn hơn gấp đôi một sào. Con chỉ cần hiểu như thế để cho dễ hình dung là được.

Trời nắng chang chang, những dòng kênh mang theo dòng nước mát và trong leo lẻo, chấp chới những cây cầu khỉ bắc qua. Những cây dừa nước, cây sú, cây vẹt mọc hoang nhiều nhan nhản. Hai thầy trò vịn tay đi qua một cây cầu Khỉ . Trong lúc cúi nhìn bóng họ in dưới mặt nước dập dờn như nhảy múa, thầy Thất Sách vô tình bước hụt một cái, suýt thì ngã. Cũng may là thầy nhanh tay chụp được cái thành cầu, níu lại, vì vậy mà không bị rơi xuống kênh.

- Ấy!...Thầy phải cẩn thận! – Tam Văn hốt hoảng kêu lên.

- Ta không sao. Tam Văn! – Thầy Thất Sách đáp và vịn tay đi được đến đầu cầu bên kia.

Qua khỏi cầu, hai thầy trò đặt hành lý xuống và ngồi nghỉ dưới gốc một cây Đước gần đấy.

- Hú hồn! Suýt nữa thì ta bị rơi tỏm xuống sông. Chẳng hiểu vì sao người dân ở đây lại có thể đi lại trên cầu thoăn thoắt và nhanh nhẹn đến thế? Cứ như là họ đang làm xiếc ấy! – Thầy Thất Sách vừa xoa xoa chỗ đầu gối bị trầy xước, vừa nói.

- Người dân địa phương họ đi đã quen rồi. “Trăm hay không bằng tay quen” mà thầy! – Tam Văn nói, cốt để an ủi chủ.

- Con nói đúng. Tam Văn! Không chỉ là chuyện đi cầu Khỉ đâu. Ngay cả việc chèo thuyền và bơi lội thì người dân ở đây cũng đã thành thạo ngay từ khi còn nhỏ rồi. Vùng này đâu đâu cũng có sông ngòi, kênh rạch. Bốn phương tám hướng đều có sông, ngòi, ra khỏi nhà là đã thấy kênh, rạch rồi. Đó chính là sự thích nghi và ứng phó của con người đối với môi trường sống vậy. Con thấy đó, ở miền sông nước này, ngay đến cả họp chợ cũng diễn ra trên thuyền kia mà. Có thể nói, ở đây, mỗi người dân là một vận động viên bơi lội bẩm sinh vậy.

Trong lúc hai thầy trò họ đang mãi mê nói chuyện, chợt nghe có tiếng la hét, tiếng đánh đấm bồm bộp phát ra gần đó. Họ vội cúi thấp người, rồi hé mắt nhìn qua kẽ lá. Cách đó chừng vài chục mét, có một người đàn ông đang bị trói quặt hai tay vào một gốc cây to. Cả chân anh ta cũng bị trói, còn miệng thì bị nhét giẻ cho nên không thể nói được. Có hai người nom rất hung dữ đứng canh gác bên cạnh. Một người mặc áo gió, tay cầm dao sáng loáng, người kia mặc áo phông, quần bò, tay lăm lăm cây gậy dài. Thi thoảng, hai gã kia lại chửi bới và đánh đập người bị trói một cách rất tàn bạo, dã man. Tội nghiệp, vì đang bị trói nên anh ta chỉ biết lắc đầu ú ớ, dù ánh mắt đã lạc đi vì sợ hãi nhưng cũng không thể làm gì được.

Gã mặc áo gió kề dao vào cổ người bị trói, rồi gầm lên:

- Tại sao bọn người nhà mày lại chưa mang tiền chuộc tới hử? Hay là chúng đã báo công an? Nếu chúng dám làm vậy, chúng ông thề là sẽ xé xác mày ra!

Tiếp đó, gã mặc quần bò vung chân đá một cú trời giáng vào người đang bị trói, khiến cho anh ta phải oằn mình lên vì đau đớn. Rồi gã lại chỉ tay vào mặt người đó, doạ:

- Cho mày thêm 10 phút nữa. Nếu lúc ấy, chúng vẫn không mang tiền chuộc tới, chúng ông sẽ tiễn mày đi gặp Hà Bá, nghe chửa!

Thì ra đó là một vụ bắt cóc để tống tiền. Hai gã kia chính là tội phạm, còn người bị trói là nạn nhân, là con tin trong tay chúng.

- Chúng nói 10 phút nữa sẽ giết con tin đấy! Nếu chúng ta không ra tay cứu thì e rằng tính mạng anh ta nguy mất! – Tam Văn lo lắng, nói.

Thầy Thất Sách sờ nhẹ tay vào thanh trường côn, ra lệnh bằng một giọng âm thầm:

- Chuẩn bị hành động! Tam Văn!

Tam Văn thò tay vào túi, rút thanh đoản đao ra và cầm sẵn ở tay.

- Khi nào ta hô to thì cùng xông lên! Nghe chửa! – Vẫn giọng thì thầm của thầy Thất Sách.

Lúc này, người kia vì bị đánh đau quá, gần như đã lịm đi, cả người mềm oặt và rũ rượi như một tàu lá chuối, nom chẳng còn sức sống gì nữa.

Thấy tình thế đã nguy cấp, thầy Thất Sách bật dậy, hô lớn:

- Xung phong!

Thế là cả hai thầy trò cùng cầm vũ khí xông lên, khí thế mạnh mẽ như vũ bão. Như đã nói, trong những lúc nguy cấp, thường thì trí thông minh của Tam Văn bao giờ cũng tăng lên gấp bội. Bởi vậy mà vừa xông lên, chú vừa hô lớn:

- Đứng im! Cảnh sát đây!

Hai gã bắt cóc giật bắn người. Hai tiếng hô vang lên dồn dập gần như đồng thời, khiến chúng không kịp hiểu chuyện gì đang xẩy ra, hồn vía lên mây, còn chưa kịp suy nghĩ gì, chúng vứt luôn cả vũ khí mà bỏ chạy như biến vào rừng.

Thấy bọn cướp đã chạy đi rồi, thầy Thất Sách bèn cúi xuống, mở dây trói cho con tin. Tam Văn cũng lấy giẻ ra khỏi mồm anh ta.

- Đa tạ ân nhân! Đa tạ ân nhân! – Người bị bắt cóc hướng về phía hai thầy trò, rập đầu mà lạy như tế sao.

Thầy Thất Sách đỡ anh ta dậy, rồi hỏi:

- Anh là ai? Tại sao chúng lại bắt và trói anh ở đây?

Người kia khập khiễng vịn tay vào gốc cây, những trận đòn vừa rồi của bọn bắt cóc khiến anh ta cảm thấy khắp mình đau ê ẩm như dần.

- Sáng nay tôi đi làm đồng - Người ấy đưa tay lên quệt vết máu khô còn vương nơi khóe miệng, bắt đầu kể - Chẳng hiểu vô duyên vô cớ vì sao mà lại bị hai gã kia bắt cóc và mang vào rừng. Chúng trói tôi lại rồi đánh đập, tra khảo, bắt tôi phải khai ra địa chỉ nhà. Sau đó thì một tên mang thư tống tiền đến nhà tôi, hẹn người nhà đến đây để nạp tiền chuộc. Trong lúc người nhà chưa kịp đến, chúng đã đánh đập và đe doạ sẽ giết tôi!...

- Đến đây thì hiểu rồi! Vì chúng tôi cũng đã được chứng kiến những gì vừa xẩy ra – Thầy Thất Sách ôn tồn nói.

Vừa khi ấy thì có những tiếng lao xao phía sau:

- Kia rồi!

- Cả bọn bắt cóc nữa đấy!

- Mau lên!

Họ quay nhìn lại, thấy có chừng bảy, tám người đang hùa nhau chạy tới, trong đó còn có cả cảnh sát mặc sắc phục nữa.

Mấy người nhà con tin vì tưởng hai thầy trò Tam Văn là kẻ bắt cóc nên đã giận dữ xông vào, toan đánh. Nhưng người kia đã kịp thời giơ tay, ngăn lại:

- Ấy!...Ấy! Đừng có nhầm lẫn. Đây chính là hai ân nhân của tôi đấy. Chính họ đã cứu tôi. Nếu không có họ thì có lẽ tôi đã bị bọn bắt cóc sát hại rồi cũng nên!...

Đám người nhà nghe thế thì liền đổi giận làm vui, quay sang cảm tạ thầy trò Tam Văn liên hồi.

- Vậy là ổn rồi! – Người cảnh sát mặc sắc phục nói – Bà con hãy bình tĩnh! Chớ có manh động. Mọi việc đã có pháp luật giải quyết hết!

Rồi tất cả cùng nhau quay trở về đồn để tường trình vụ việc. Tại đây, thầy trò Tam Văn được đề nghị trao tiền thưởng vì đã có công giải cứu con tin. Nhưng thầy Thất Sách đã kiên quyết từ chối và nói:

- Xin đa tạ! Nhưng cũng xin cho phép chúng tôi không nhận số tiền này. Cứu đời, giúp người, đó vốn là bổn phận của những người hiệp sĩ như chúng tôi đây vậy!

Cánh nhà báo, phóng viên thì cứ nhắm vào thầy trò Tam Văn mà phỏng vấn và chụp ảnh rần rần. Vậy là, ngay ngày hôm sau, hình ảnh hai thầy trò họ đã được đăng lên đầu trang nhất của báo địa phương. Bức ảnh chụp hai thầy trò đứng cạnh nhau, Tam Văn với bộ đồ rằn ri thần thánh đang cười tươi hết cỡ, còn thầy Thất Sách thì tay cầm gậy, vẻ mặt hết sức nghiêm nghị. Cạnh đó là dòng tít chạy dài: “Chiến công rừng Đước và những người anh hùng giải cứu con tin”.

o0o

Hôm sau, hai thầy trò Tam Văn lại thuê một chiếc thuyền độc mộc của dân địa phương và chèo đi tham quan rừng ngập mặn U Minh.

Tiết trời trong trẻo, thuyền nhẹ lướt đi, mặt nước lao xao, dập dờn những đám lục bình nổi trôi vô định.

Hai thầy trò đang cắm cúi chèo thuyền, chợt nghe xa xa có tiếng hò lảnh lót vọng lại.

Nhìn ra thì thấy có một chiếc thuyền chở trái cây đang dập dềnh bơi lại. Đằng trước mũi là một thiếu nữ xinh đẹp, mình mặc áo bà ba, cổ quấn khăn rằn, vừa chèo thuyền vừa cất giọng hò trong trẻo. Phía đuôi thuyền cũng có một người đàn ông đang ngồi. Cả hai vừa chèo thuyền, vừa hò đối đáp với nhau.

Người nam hò rằng:

- “Thấy em có cái gò má hồng hồng

Phải chi em đừng mắc cỡ (ơ ờ)

Hò ơ ớ ơ…

Đừng mắc cỡ, thì anh xin bồng…anh hôn (ơ ơ)”.

Người thiếu nữ cũng vung mái chèo, hoà theo:

- “Hò ơ ớ ơ…

Chuyện vợ chồng đâu có khá bôn chôn

Anh thương em nên dè dặt (ơ ờ)

Hò ơ ớ ơ…

Nên dè dặt, chớ để thiên hạ đồn không hay (ơ ơ)”.

Thầy Thất Sách nghe xong thì cúi đầu, bồi hồi:

- Này Tam Văn! Con có biết vì sao những điệu hò của người Nam bộ, dù rất hay nhưng vẫn đượm một nổi buồn man mác không?

- Thì âm nhạc vùng miền nào cũng có những đặc trưng riêng mà thầy! – Tam Văn lơ đãng đáp.

- Nhà ngươi nói đúng, nhưng chưa giải thích được rõ nguồn cơn. Nam bộ vốn là vùng đất mới của người Việt ta. Cuộc sống nơi đất khách, quê người, xa gia đình, xa quê cha đất tổ, khiến cho người ta luôn có một nỗi nhớ nhung khôn xiết. Thêm nữa, đứng trước thiên nhiên rộng lớn với sông nước mênh mang, con người ta trở nên cô đơn, bé nhỏ. Đó chính là nguồn cơn của những nỗi buồn man mác trong các điệu hò đất phương Nam vậy…

Thứ Sáu, 19 tháng 12, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXXIII)

 

Chốn thị thành, thầy Thất Sách làm nghề gõ đầu trẻ

Giận đời đen bạc, Tam Văn quyết định trở thành thám tử tư

Lần ấy, thầy Thất Sách ngồi làm gia sư cho một nhà đại gia ở trên thành phố. Ông này nguyên là giám đốc của một công ty xây dựng, giàu có và rất thành đạt. Ông thuê thầy Thất Sách để dạy kèm cho đứa con trai mười tuổi, vì đứa bé học kém một số môn ở lớp, cần phải được phụ đạo thêm kiến thức để có thể theo kịp chúng bạn.

Còn lý do vì sao họ lại có thể quen biết nhau thì là như vầy. Số là bữa ấy thầy trò Tam Văn rủ nhau ghé vào một quán ăn ở trên phố. Trong lúc ăn, họ cao hứng mà nói chuyện với nhau rất chi là rôm rả. Vô tình, ông giám đốc cũng đang ngồi ăn ở ngay bàn bên cạnh. Thấy thầy Thất Sách tỏ ra là một người hiểu biết và có nhiều kiến thức như thế thì ông lấy làm thán phục lắm. Nghĩ đến đứa con quý tử của mình ở nhà học kém, ông bèn nảy ra ý định thuê thầy làm gia sư để dạy kèm cho nó. Hy vọng là thầy Thất Sách, với vốn hiểu biết uyên thâm như vậy sẽ san sẻ bớt cho đứa con thiếu hụt kiến thức của mình. Hai thầy trò họ sẽ bù đắp cho nhau, một bên thừa tiền nhưng thiếu chữ, còn bên kia thì thừa chữ nhưng thiếu tiền. Đạo trời luôn lấy chỗ thừa bù chỗ thiếu, vạn vật đều bổ khuyết cho nhau vậy.

Thế là sau bữa ăn, ông giám đốc tiến lại phía bàn hai thầy trò Tam Văn đang ngồi và trịnh trọng bày tỏ ý định ấy.

Thầy trò họ lúc này đang trên bước đường phiêu lưu, thiếu thốn tiền để chi dụng, thấy được cơ hội tốt như thế thì cũng lập tức vui vẻ nhận lời ngay.

- Tuy nhiên! - Thầy Thất Sách nói - Chúng tôi còn có thêm một người nữa! – Rồi thầy trỏ vào Tam Văn, lúc này đang ngồi cắm cổ chén lấy chén để vì đi đường đói bụng.

Ông giám đốc nheo mắt, nhìn Tam Văn một cách chăm chú như để ước lượng. Thấy chú có sức vóc, trên người lại đang vận bộ đồ lính mũ nồi xanh thần thánh thì ưng ý gật đầu cái rụp luôn. Ông nói:

- Được! Tôi nhận luôn cả anh này! Anh ta sẽ làm bảo vệ cho căn biệt thự của tôi!

Quả là ông giám đốc có con mắt xanh của một nhà tuyển trạch vậy. Vì Tam Văn với bộ đồ rằn ri và chiếc mũ sắt, chân đi giày bốt cao cổ, mắt lại đeo kính râm đen kịt, nom chú chẳng khác nào là vệ sĩ của một nhân vật cấp cao cả. Cái kính đen này nguyên là do Tam Văn mới sắm. Chú chọn loại tối màu nhất, đến nỗi, những người khác không thể nhìn thấy mắt của chú, nhưng chú thì lại tha hồ mà ngắm nhìn mọi thứ xung quanh.

Vậy là hai thầy trò Tam Văn lập tức được mời ngồi lên chiếc xe hơi Mercedes bóng loáng của ông giám đốc và chạy thẳng về căn biệt thự sang trọng. Từ đó, thầy Thất Sách ở lại đây để dạy học. Còn Tam Văn thì làm nhiệm vụ bảo vệ, hằng ngày chú đeo cặp kính râm vào, đi đi lại lại trước cổng để thị uy và giữ gìn an ninh, trật tự cho toà nhà.

Cô vợ của ông chủ là một người đàn bà còn rất trẻ, ít ra là so với chồng. Năm nay cô ta chỉ mới ngoài ba mươi một chút, kém vị hôn phu giàu có của mình đến cả chục tuổi. Phải thừa nhận là cô ta rất đẹp, thân hình cao ráo, thon thả, nhưng mỗi tội là cặp mắt lúc nào cũng lúng la lúng liếng đưa tình mỗi khi gặp trai lạ. Cô vợ được chồng yêu chiều, muốn gì được nấy, chẳng bao giờ phải đụng tay đụng chân làm lụng gì cả. Nấu ăn và việc nhà thì đã có osin làm. Dạy kèm cho con là việc của thầy Thất Sách. Bảo vệ an ninh thì do Tam Văn đảm nhiệm. Ngay cả việc đưa đón con cái đi học cũng là osin lo nốt. Thành ra, cô ta chỉ việc hằng ngày chăm sóc sắc đẹp, thi thoảng lại theo chồng đi công cán, tiếp khách đâu đó một lúc. Tóm lại, cô vợ chỉ đóng vai trò là cái bình hoa di động, điểm tô cho sự sang trọng và giàu có của người chồng thành đạt mà thôi.

Ông chủ suốt ngày bận bịu với công việc tại công trường, ít khi có mặt ở nhà, thậm chí là đôi lúc cả tuần mới về một lần. Những lúc này, chỉ còn cô vợ trẻ với căn biệt thự thênh thang, được trang hoàng lộng lẫy bằng các vật dụng xa hoa, đắt đỏ. Các cụ ta vẫn có câu “Nhàn cư vi bất thiện” vậy. Đã xinh đẹp, lại còn đương thì xuân sắc, thế là cô vợ đi tìm thú vui ở bên ngoài. Khi thì nhảy đầm, đánh bạc, lúc lại ăn nhậu, đàn đúm cùng với những người nhiều tiền và cũng rảnh rang, vô công rỗi nghề như cô ta.

Thế rồi việc gì đến cũng đã đến. Người đàn bà đa tình, xinh đẹp và khao khát tình cảm ấy, vì không chịu được cô quạnh do sự vắng mặt thường xuyên của chồng nên đã ngã vào vòng tay của những gã đàn ông khác.

Những khi chồng vắng nhà, cô ta thường đưa một người thanh niên trẻ, hào hoa, kém cô ta đến mấy tuổi về nhà. Rồi sau khi cánh cửa phòng trên lầu hai đã đóng sập lại im ỉm, họ bắt đầu tâm sự và hú hý với nhau ở trong đó.

Để tiện cho công việc, hai thầy trò Tam Văn ở một phòng tầng trệt, ngay cổng ra vào. Những việc xẩy ra đều nhìn thấy hết, nhưng vì danh dự của chủ nhân, họ đành phải ngoảnh mặt làm ngơ mà coi như giả câm giả điếc vậy.

Cô vợ hư hỏng vì muốn được thoải mái đưa tình nhân về nhà, đã tỏ ra không vừa lòng với thầy trò Tam Văn. Cô ta khó chịu, coi họ như vật cản, như cái gai trong mắt cần phải được nhổ bỏ ngay lập tức. Trước mặt ông chủ, cô ả thường tỏ ý bực bội, xúi chồng đuổi hai thầy trò đi. Một lần, nhân lúc riêng tư, cô ta ngả đầu vào vai chồng, nũng nịu:

- Anh yêu! Anh định đưa hai gã nhà quê ấy về nhà làm gì vậy?

Ông chủ từ từ gỡ cánh tay trần trắng mịn của vợ ra khỏi bờ vai, thủng thẳng, đáp:

- Em không thấy sao? Họ làm việc cả chứ có ở không đâu. Một người thì kèm cho con học, người kia thì bảo vệ!...

- Nhưng nhìn hắn ta quê mùa như thế thì biết gì mà dạy với dỗ kia chứ? Anh cứ cho con đi học thêm ở trường có phải là tốt hơn nhiều không nào?

Ông chủ châm thuốc hút, rồi xẵng giọng:

- Ở trường con học kém, tôi mới phải thuê gia sư để dạy kèm thêm. Nếu con không theo kịp chúng bạn, nó sẽ chán, sẽ bỏ học, rồi đi bụi đời. Vậy em tính sao đây? Lúc ấy thì dù có nhiều tiền cũng còn ý nghĩa gì nữa cơ chứ?....

Cô vợ cứng họng, rồi vì đuối lý, ả không nói thêm được gì nữa. Nhưng xem ra thì ả vẫn còn ấm ức trong lòng lắm. Ả vùng vằng, giận dữ đi vào phòng, rồi buông mình, thả phịch tấm thân thổn thện xuống tấm đệm lò xo, rấm rứt khóc.

Cho dù phải chịu đựng đôi chút sự bất công từ phía bà chủ, nhưng dù sao, đây cũng là quãng thời gian mà hai thầy trò Tam Văn được sống khá thong dong so với những tháng ngày lặn lội, lang bạt trước đây. Công việc nhàn nhã, đều nằm trong khả năng của họ, cho nên cũng không có gì gọi là vất vả cho lắm. Môi trường thành phố, ăn trắng mặc trơn, chế độ đãi ngộ cũng tốt. Nói chung là chẳng có gì đáng để phàn nàn và chê trách lắm vậy.

o0o

Buổi sáng đầu tuần, cô vợ ưỡn ẹo hôn lên má và vẫy tay tiễn chồng đi làm. Nhưng khi chiếc xe ông chủ vừa khuất sau cánh cổng, cô ả cũng lập tức trang điểm loè loẹt rồi chuẩn bị đi đâu đó chẳng rõ. Lúc sau, khi quay về, ả dẫn theo một người đàn ông còn trẻ và khá đẹp trai. Hai người khoác tay nhau, vừa đi vừa nhìn nhau đắm đuối như một đôi tình nhân đang thời kỳ mặn nồng. Thậm chí, cô ta còn ngả hẳn cả đầu vào vai gã kia mà cười toe, cười toét nữa.

Từ trong phòng mình nhìn ra, hai thầy trò Tam Văn thấy hết. Vẻ mặt hằn học, Tam Văn đấm mạnh tay xuống bàn, tức tối:

- Đến là ngứa mắt! Đã có chồng con rồi mà còn đĩ thoã như thế. Rõ là tình đời đen bạc mà. Chẳng hiểu là ông chủ có biết hay không nữa?! – Tam Văn rít lên trong cổ họng và lừ mắt nhìn theo đôi tình nhân lúc này đã khuất dạng phía sau dãy hành lang tầng trệt.

- Thật là một cô ả lăng loàn, trắc nết! – Thầy Thất Sách nhăn mặt, khó chịu.

- Thế mà ông chủ lại hết mực yêu thương và chiều chuộng ả mới chết chứ! – Tam Văn bĩu môi.

- Sự đời nhiều khi vẫn thế. Tam Văn! Không phải mối chân tình nào cũng được đáp lại bằng chân tình. Mà đôi khi là sự phản bội không thương tiếc!

- Nhưng như thế thì bất bình cho ông chủ quá! Ông ấy làm việc quần quật tối ngày chỉ cốt để kiếm tiền nuôi vợ nuôi con. Con ả này đã không biết ơn, lại còn dám làm ra những cái chuyện dơ bẩn và động trời như thế. Thực là bực mình hết sức!...Con phải gọi điện báo ngay cho ông chủ biết mới được! – Tam Văn giận dữ, đến nỗi phì cả bọt mép ra ngoài.

Thầy Thất Sách vuốt râu, trầm ngâm:

- Con nói cũng phải! Ăn lộc chủ thì phải biết đền ơn chủ. Âu đó cũng là cái đạo lý ở đời. Không thể để cho ông chủ phải chịu đựng một cái sự bất công lớn lao như thế được!…

Được thầy đồng tình, Tam Văn vớ lấy cái kính râm đeo vào, sấn sổ định bước đi ngay. Nhưng thầy Thất Sách đã kịp nắm tay chú lại, nói:

- Khoan! Con không được hấp tấp! – Thầy nhìn thẳng vào mắt Tam Văn, nói rành rọt từng tiếng – Ta hỏi con? Cho dù bây giờ con có nói cho ông chủ biết. Một đằng con là kẻ làm thuê mới từ nơi khác tới đây, đằng kia là cô vợ xinh đẹp đầu ấp tay gối, thử hỏi ông chủ sẽ tin ai nào? Đến lúc ấy, ông chủ sẽ cho rằng chúng ta phá hoại hạnh phúc của gia đình họ rồi tức giận, thẳng tay đuổi đi. Như vậy có phải là chúng ta bị bẽ mặt không nào? Không những không giúp được gì cho ông chủ mà lại còn mắc phải hàm oan nữa!…

Tam Văn ngớ người ra khi nghe thầy phân tích như vậy. Lát sau, chú vỗ mạnh tay vào trán, nói:

- Vâng! Thầy nói đúng! Nhưng nếu như thế thì biết làm sao bây giờ?

Thầy Thất Sách hạ thấp giọng:

- Con hãy nghe đây! “Nói có sách, mách thì phải có chứng”. Con muốn nói cho ông chủ biết thì phải có bằng chứng đã. Chỉ khi nào có đủ tang chứng vật chứng thì lúc ấy cô ta mới không cãi được!

Tam Văn vỗ tay đánh đét, cả mừng:

- Con nghĩ ra rồi!

Như thường lệ, trong những lúc khó khăn nhất, trí thông minh của Tam Văn lại bất ngờ từ đâu ùa tới. Thế là trong vai của một người đang làm nhiệm vụ tuần tiễu, chú bắt đầu rón rén đi lên lầu, êm và lẹ làng như một con mèo đang rình bắt chuột.

Tam Văn vịn tay vào bức tường màu vàng cam, chân bước nhẹ lên nền gạch men loang loáng, mon men tiến lại gần căn phòng nằm ở cuối dãy hành lang của bà chủ. Đó là một hình ảnh vừa sinh động vừa chuyên nghiệp, nom chẳng khác nào là một thám tử tư tài ba vậy. Kia rồi! Cánh cửa gỗ đánh vecni bóng lộn đã hiện ra trước mặt. Chú dừng lại, đưa tay lên vành tai, ghé sát vào tường và bắt đầu nghe ngóng. Quả là hồi hộp và căng thẳng. Tam Văn như nghe rõ cả tiếng tim đập rộn ràng và nẩy lên bên trong lồng ngực. Chừng vài phút sau, có tiếng cười khúc khích từ bên trong vọng ra. Rồi tiếng bà chủ ỏng ẹo:

- Anh yêu! Sau khi đã chiếm hết tài sản của hắn rồi, chúng ta sẽ đuổi cổ hắn ra khỏi nhà. Đến lúc ấy, chúng ta sẽ đàng hoàng chung sống với nhau mà chẳng cần phải lo lắng gì nữa cả!

Tiếng ồm ồm của gã đàn ông kia:

- Nhất định, nhất định chúng ta sẽ làm được như vậy! Em yêu!

Rồi lại đột nhiên im lặng, có vẻ như hai người bên trong đang nói thầm điều gì đó với nhau thì phải. Tam Văn cố ghé sát tai hơn vào tường, nhưng không nghe được gì nữa cả.

- Ái chà! Không ngờ con mụ lẳng lơ này lại còn có cả ý đồ độc ác, xấu xa đến như vậy! Ta nhất quyết phải làm cho mụ ta vô kế khả thi mới được! – Tam Văn nghiến răng, nghĩ.

Sau khi đã biết chắc tình hình và nắm được ý đồ xấu xa của đôi gian phu dâm phụ, Tam Văn xoay người, rồi giơ chân bước nhẹ, rón rén đi xuống dưới lầu.

Tam Văn sửa lại cặp kính râm đang đeo, nhìn trước ngó sau, rồi nhanh chóng bước vào một bục điện thoại công cộng bên đường, đóng sập cửa lại. Chú giở cuốn danh bạ ra, bấm số và bắt đầu gọi cho ông chủ. Chuông đổ, rồi có tiếng nhấc máy:

- A lô! – Tiếng ông chủ vang lên từ phía đầu dây bên kia – Xin lỗi! Ai gọi cho tôi vậy?...

Tam Văn uốn lưỡi, cố giả giọng một người khác, nói:

- A lô! Xin hỏi: Có phải là ông Cường, giám đốc công ty xây dựng “Trường Sinh” đó không?

- Vâng! Tôi đây!

- Tôi gọi điện để báo một tin quan trọng, liên quan đến hạnh phúc gia đình ông: Ông cần phải về nhà ngay! Hiện nay, cô vợ yêu quý của ông và gã tình nhân của cô ta đang hú hý với nhau trên phòng đấy!...

Giọng ông chủ hốt hoảng:

- A lô! Nhưng anh là ai? Tại sao anh lại dám chắc như vậy?...

Tam Văn vẫn tiếp tục giả giọng, nói:

- Ông không cần phải biết tôi là ai. Ông cứ về nhà ngay lúc này. Đến khi ấy sẽ biết là tôi nói đúng hay sai!

Nói rồi, chú dập máy đánh cạch.

Tam Văn mỉm cười, khoan khoái bước ra khỏi cái bốt điện thoại. Chú cảm thấy lòng mình thanh thản, nhẹ bẫng, như trút đi được cái gánh nặng ngàn cân đang đeo đẳng vậy. Thế là chú đã báo ơn được cho chủ, đồng thời chơi cho con mụ đàn bà lăng loàn kia một vố. Chú vươn vai, hít một hơi dài sảng khoái, rồi lại tiếp tục rảo bước. Chú hiểu rằng, cần phải về đến nhà trước ông chủ, để ông ấy không nghi ngờ gì về cuộc gọi vừa rồi.

Một lúc sau, từ trong phòng của mình, Tam Văn nhìn thấy chiếc xe ô tô sang trọng của ông chủ xuất hiện và đỗ xịch ở cổng. Cửa xe mở, ông chủ áo xống xộc xệch, vẻ mặt hằm hằm, vừa nắm chặt hai bàn tay vừa đi như chạy lên lầu.

Chuyện đến đây thì không cần phải kể thêm nữa, vì kết quả sau đó thì có lẽ ai cũng đoán được rồi. Chỉ biết rằng, ngay hôm sau, ông chủ đã đâm đơn ly dị ra toà và quyết tâm từ bỏ người vợ xinh đẹp nhưng trắc nết, lăng loàn kia.

Sau khi đã giúp ông chủ khám phá ra vụ ngoại tình và tránh cho ông khỏi nguy cơ tán gia bại sản, hai thầy trò lại tiếp tục lên đường. Trên đường đi, Tam Văn cứ bụm miệng cười khúc khích như một đứa trẻ tinh nghịch.

- Tam Văn! Con đang cười gì vậy? – Thầy Thất Sách liếc nhìn chú, hỏi.

- Là…con cười!...- Tam Văn vẫn chưa dứt được cơn buồn cười.

- Đừng có ấp úng thế nữa. Hãy nói cho ta nghe xem nào! – Thầy Thất Sách sốt ruột, dục.

- Chuyện là! – Tam Văn rời tay khỏi miệng, nói – Con đã giả giọng một người khác để gọi báo tin cho ông chủ. Nhưng ông ấy vẫn tin mà không biết đó là con…

Thầy Thất Sách hiểu ra, nói:

- Tam Văn! Trong cuộc sống, đôi khi, nói dối lại là việc tốt. Trong trường hợp này, con làm như vậy là hoàn toàn đúng đắn chứ không hề có gì là sai trái cả!

o0o

Bến xe Miền Tây, bến xe khách lớn nhất đi các tỉnh miền Tây Nam Bộ. Bên trong bến, người đưa, kẻ đón, ồn ào và chen chúc. Những chiếc xe lôi cồng kềnh xành xạch tấp vào bến để vận chuyển hàng hoá ký gửi. Người lơ xe, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, vác trên vai những kiện hàng nặng chịch để bỏ vào thùng hoặc chuyển lên trên nóc xe. Một số xe khách đã nổ máy sẵn, chỉ chờ kiểm lại hàng hoá và hành khách xong là chuẩn bị xuất bến. Tiếng mời gọi, tiếng gọi nhau ý ới, không khí ồn ả, khẩn trương.

Lúc này, hai thầy trò Tam Văn cũng vừa từ phòng vé bước ra. Thầy Thất Sách cầm trên tay tấm vé và đang đi tìm xe, Tam Văn – người học trò mẫn cán - khoác túi lui cui đi phía sau.

Đang cắm cúi bước đi, chợt Tam Văn nhác thấy một cụ ông vừa đi lướt qua trước mặt nom rất quen. Chú chột dạ, vội dừng bước và ngoái lại, nhìn theo. Người ấy mặc bộ đồ nâu, dáng đi hơi khòng, đặc biệt là khuôn mặt đen xạm và khắc khổ thì rất giống. Ông cụ xách trên tay một cái túi du lịch đựng đồ căng phồng, bước ngập ngừng, vừa đi vừa ngó nghiêng có ý tìm kiếm. Chẳng phải là ông cụ Nhiêu đó sao? Nhà cụ ở cách nhà Tam Văn một đoạn, khoảng ba, bốn cổng gì đó. Sợ ông cụ đi mất, Tam Văn liền tăng tốc, ba chân bốn cẳng đuổi theo.

Một người vận bộ đồ công chức ôm trên tay chồng báo cao ngất đang vội vã sang đường. Vì không kịp né, Tam Văn lao đánh sầm vào anh ta. Một xấp báo rơi xuống, tung toé cả ra nền bê tông.

- Xin lỗi! Tôi vội quá! – Tam Văn thở hổn hển, nói. Rồi chú cúi nhặt những tờ báo, trả lại cho anh ta.

Người kia không nói gì, chỉ trố mắt nhìn Tam Văn một cái rồi lại hối hả bước đi. Có lẽ là anh ta cũng đang vội và bận việc.

Tam Văn đứng lên, tiếp tục đuổi theo và mấy giây sau thì bắt kịp mục tiêu.

- Cụ Nhiêu ơi? – Tam Văn gọi lớn.

Ông cụ ngoái lại, ngỡ ngàng nhìn người vừa gọi mình:

- Ai gọi tôi đấy? Anh là ai?

Trong khi Tam Văn còn chưa kịp đáp lời, cụ lại chỉ tay vào chú, lắp bắp:

- Anh…anh…Mạnh Đình đó… phải không? (Mạnh Đình là tên của Tam Văn ở nhà).

- Phải! Cháu đây! Mạnh Đình, chồng của cô Hiền cùng xóm với cụ đây!...Còn cụ! Cụ đi đâu mà giờ này lại ở đây? – Tam Văn vui mừng, nắm lấy tay ông cụ, nói.

- Tôi đi thăm cháu. Ở thành phố chơi đã hai tháng rồi. Bây giờ lại trở về quê đây.

Rồi ông cụ tò mò nhìn Tam Văn từ đầu tới chân, hỏi:

- Sao bây giờ anh lại ăn mặc kỳ quặc thế này? Khác quá, mãi tôi mới nhận ra được đấy!... Thế ông bác của anh đâu? (Ý ông cụ muốn hỏi thầy Thất Sách).

- Ông ấy kia! – Tam Văn ngoái đầu, chỉ tay về phía sau.

- Vậy chứ lâu nay anh đi những đâu, làm gì? – Ông cụ lại nhìn Tam Văn, hỏi.

- Cháu!...À, mà kể thì mất nhiều thời gian lắm cụ ơi. Xin khất cụ lúc khác. Cụ cho hỏi: Vợ con cháu ở nhà có khoẻ và bình an không? Cả bên “Đạo Nhân Thi Quán” cũng ổn chứ?

Ông cụ đưa tay dụi cặp mắt kèm nhèm, đáp:

- Bình an cả! Ổn cả!...Có điều, tất cả họ đều mong sớm mong tối hai thầy trò anh mau chóng quay trở về đấy!....

- Vâng! Thế thì tốt rồi! – Tam Văn mừng rỡ – Phiền cụ chuyển lời hỏi thăm của cháu tới cô Hiền nhé. Nói với cô ấy là cháu vẫn khoẻ mạnh và đừng có lo gì cho cháu cả!...

- Vâng! Vâng!…Nhất định là tôi sẽ chuyển lời! – Rồi ông cụ giơ tay, nói – Thế bao giờ thì hai thầy trò anh mới chấm dứt cái trò lang thang ấy hử?

Tam Văn cắn môi, đáp:

- Cái này thì con cũng không biết. Không thể hứa trước được cụ ơi!

- Tam Văn! – Có tiếng thầy Thất Sách gọi thất thanh phía sau.

- Chào cụ! Bây giờ thì cháu phải đi đây! Xe sắp khởi hành đến nơi rồi! – Tam Văn vẫy tay chào ông lão, rồi vội vã quay lưng chạy theo thầy mình lúc này đang chuẩn bị bước lên xe ô tô.

Hai hàng lông mày đốm bạc rung rung, ông lão nheo mắt nhìn theo Tam Văn, lắc đầu:

- Thật không thể hiểu nổi! Có nhà cửa, vợ con đàng hoàng. Chẳng hiểu họ suy nghĩ kiểu gì mà tự dưng lại từ bỏ tất cả để mà lang bạt kỳ hồ như vậy. Không biết có cái gì hấp dẫn mà lại che mắt họ đến như thế kia chứ? …