Mộng cố hương,
nửa đêm tỉnh giấc
Thuận thời gieo
quẻ, bồi hồi đoán biết chuyện tương lai
Tam Văn
giật mình tỉnh giấc. Kể từ giây phút ấy, chú cứ trằn trọc mãi mà chẳng thể nào
chợp mắt thêm được nữa. Chú nằm ngửa, đầu gối lên hai cánh tay và nhìn đăm đăm
vào khoảng không tối đen trên trần nhà, đầu óc nghĩ ngợi mông lung. Có tiếng
còi tàu rúc lên ở một nơi nào đó trong thành phố, trầm trầm và da diết buồn.
Tam Văn giơ tay nhìn đồng hồ, ánh dạ quang sáng xanh đến lóa mắt: 0 giờ 20
phút. “Giờ này vào ga thì có lẽ là tàu chợ!” – Chú lờ mờ nghĩ và trong lòng cảm
thấy nhức nhối một nổi buồn nhớ. Hồi còn ở quê, chú cũng đã từng được nghe tiếng
còi tàu trong những đêm khuya thanh vắng như thế này. Cái âm thanh ấy kéo dài,
xuyên qua những ruộng đồng, thôn xóm và vang xa đến hàng cây số vẫn còn nghe thấy.
Bị thôi thúc bởi những hồi ức về quê nhà, Tam Văn ngồi bật dậy, dụi mắt trong
bóng tối một lúc, rồi với tay bật công tắc đèn. Tiếng tắc te kêu rè rè, ánh đèn
neon lóe lên, sáng bừng cả căn phòng.
Bị ánh điện làm cho chói mắt, thầy Thất Sách
lầu bầu gì đó trong miệng chẳng rõ, nhưng thầy không mở mắt mà lại tiếp tục
quay mặt vào tường, ngủ tiếp. Hai chân thầy co lại, người khoanh tròn và còng
queo nom y hệt như một con tôm sú được người ta đóng gói để bày bán ngoài tiệm.
Tam Văn đi đến bàn, ngồi xuống và lục tục rót
nước uống cho tỉnh ngủ. Chú quờ lấy điếu thuốc lào, mắt nhắm mắt mở tra thuốc vào
nỏ, rồi bắt đầu bật lửa, hút. Người ngả hẳn vào lưng ghế, đầu hơi ngửa lên, chú
vừa từ từ nhả khói vừa đưa ánh mắt mơ màng nhìn khắp xung quanh.
Căn phòng trọ được trang bị và bài trí khá
đơn giản. Một cái tủ đựng đồ bằng gỗ kê sát vào góc phòng. Những mạng nhện chằng
chịt chăng đầy trần nhà và trên nóc tủ, có lẽ đã từ lâu người ta không lau chùi
hay quét dọn trên ấy. Gần cửa ra vào, có treo một bức tranh sơn mài, vẽ khung cảnh
một khu phố vắng vẻ với những bóng người lui cui buôn bán, lại qua. Cạnh giường
đặt một cái kệ nhỏ, có thể để lên đó vài, ba vật dụng sinh hoạt thường ngày.
Trên đầu, chiếc quạt tường cũ kỹ vừa xoay đi xoay lại vừa phát ra những âm
thanh lạo xạo, răng rắc như đang sắp hỏng đến nơi.
Trong đêm khuya thinh lặng, Tam Văn ngồi chống
cằm, bồi hồi nghĩ về giấc mơ ban nãy. Trong mơ, chú thấy vợ con, làng xóm và cả
ngôi nhà thân yêu của mình. Những đường làng, ngõ xóm quen thuộc, tất cả như một
cuốn phim, lúc này cứ thế hiện lên rõ mồn một trong đầu óc chú…
o0o
Bầu trời tối thui, ngoài kia, cơn bão ù ù như một con quái vật
đang không ngừng gào thét, gầm rú. Cánh cửa sổ đầu hồi bị gió giật mạnh, nước
luồn qua khe hở, bắn vào trong tung toé. Nền nhà ướt sũng, loang loáng và đẫm
những nước mưa. Tấm mái tôn bên nhà hàng xóm cũng không chống chọi nổi với ngọn
cuồng phong, cứ bị giật lên giật xuống và không ngừng phát ra những âm thanh lạch
cạch, lạch cạch liên hồi như súng tiểu liên.
Trong góc nhà, ba mẹ con Hiền đang ngồi ôm nhau trên chiếc giường
ọp ẹp, nơi duy nhất lúc này không bị thấm dột. Đứa bé đang ốm, khắp người và
trán nó nóng rực lên như hòn than. Hai mắt nó nhắm nghiền, hơi thở khò khè và
thi thoảng lại giật mình thảng thốt. Hiền ngồi ôm con, lòng những đầy lo lắng,
một mớ tóc cô xổ ra, che kín cả một bên bờ vai. Đứa lớn thì ngồi nép sát vào
người mẹ, ánh mắt mở to sợ hãi. Mái tóc ngắn cũi cỡn như bờm của một con ngựa
non của nó cứ lắc qua lắc lại đầy vẻ bất an.
Từ 9 giờ tối, cơn bão đã ập vào. Mất điện, trong nhà phải thắp nến.
Ngọn nến leo lét cháy, thứ ánh sáng duy nhất có thể nhìn thấy mọi vật xung
quanh. Bóng ba mẹ con chập chờn in vào bức vách, yếu ớt, nhạt nhoà trong căn
phòng tranh tối tranh sáng.
- Bố đi đâu hở mẹ? Con nhớ bố! Con sợ bão lắm! – Đứa con gái bất
giác hỏi mẹ, giọng nó mếu máo như sắp khóc.
Hiền không biết trả lời con ra sao, chỉ biết vòng tay ôm chặt
hơn đứa bé, cảm thấy đau và nhức nhối trong lòng. Những giọt nước mắt vô thức cứ
thế rịn ra, lăn dài và thấm đẫm trên hai gò má nóng hổi của cô. Giọt nước mắt vừa
trách cứ, vừa hờn tủi người chồng vô tâm đã bỏ ba mẹ con cô ở nhà để mà ra đi
biền biệt. Không có người đàn ông, như ngôi nhà không có cột trụ chống đỡ.
Trong nhà, giờ này chỉ còn đàn bà, con dại, thử hỏi làm sao có thể chống
chọi với bão tố, cuồng phong?
Trong cơn mưa gió dập vùi, lòng Hiền rối như tơ vò, nước mắt vắn
dài, cô chỉ còn biết ngồi ôm con và chờ cho trời mau sáng.
Ôi! Thật là nực cười, thật là cám cảnh! Trong khi ở nhà, vợ con
nheo nhóc, không biết bám víu vào đâu, thì người chồng của cô – Tam Văn – vẫn
đang chìm đắm trong những cuộc chinh chiến và phiêu lưu. Chàng ta vẫn mãi mê với
đường xa, cảnh lạ, với những màn đấu gậy, đấu gươm đầy hiểm nguy nhưng lại hoàn
toàn vô bổ và vô mục đích vậy.
Thời gian này, ở “Đạo Nhân Thi Quán”, bà Lan cũng đang lâm vào một
tình cảnh tương tự.
Trong căn nhà trống trãi với vườn tược rộng thênh thang, hai bà
cháu vẫn sống với nhau, âm thầm và lặng lẽ như những cái bóng. Họ mòn mỏi sống
qua ngày, vừa cầu nguyện vừa đỏ mắt chờ trông một ngày nào đó thầy Thất Sách sẽ
trở về nơi chốn cũ.
Bữa ấy, trong lúc hai bà cháu đang ngồi nhặt rau trên thềm, cô
bé Trang ngây thơ hỏi:
- Bà ơi! Ông đi đâu vậy? Khi nào thì ông mới về?
Bà thoáng giật mình, suýt nữa thì đánh rơi cả cọng rau đang cầm
trên tay. Câu hỏi đường đột của đứa cháu đã vô tình đánh thức và xoáy sâu vào nổi
lòng đau đáu được bà giấu kín lâu nay. Bà nhìn cháu, rồi đưa tay khẽ khàng vuốt
tóc nó, thở dài:
- Ông đi có công chuyện cháu ạ!
- Công chuyện gì mà lâu vậy bà?...
Bà lại đáp, giọng rầu rầu:
- Là việc quan trọng cháu ạ! Khi nào xong việc thì ông sẽ về.
- Lúc về, chắc là ông sẽ mua nhiều quà cho hai bà cháu mình lắm
nhỉ?
Chạnh lòng với sự ngây thơ của con trẻ, bà vòng tay ôm cháu vào
lòng, thủ thỉ:
- Ừa!...Ông sẽ mua! – Rồi sau một phút im lặng, bà hỏi – Thế
cháu muốn mua quà gì nào?
Cô bé mở to cặp mắt, mơ mộng:
- Cháu muốn ông mua cho cháu một cái cặp sách mới. Cặp của cháu
cũ rồi, lại đựng được ít. Cái Hương con nhà cô Thảo, được bố nó mua cho một cái
cặp có hình con Thỏ đẹp đẹp là. Lại có nhiều ngăn nữa…
- Cháu gắng chăm ngoan. Rồi ông cũng sẽ mua cho cháu một cái cặp
sách như thế! – Bà hôn nhẹ vào trán nó, nói.
- Thật chứ bà? – Nó ngẩng lên nhìn bà, lòng những khấp khởi và đầy
hy vọng.
- Thật chứ! Cháu viết thư cho ông đi. Nhất định rồi ông sẽ mua
cho!
Tối ấy, cô bé Trang ngồi vào bàn và cắm cúi viết thư. Nó hỏi
thăm ông, hỏi ông đi đâu. Rồi nó lại giãi bày về nỗi mong nhớ của hai bà cháu đối
với ông. Nó hỏi ông khi nào về, và muốn khi về thì ông sẽ mua cho nó một cái cặp
ba ngăn có in hình con thỏ trên đó.
Sáng hôm sau, nó đưa lá thư cho bà và dặn bà nhất định phải nhớ
gửi cho ông, rồi xách cặp, tung tăng đi học.
Dĩ nhiên rồi, bà đâu có biết địa chỉ của ông mà gửi. Nhưng bà đã
đọc những gì nó viết trong thư, và trong lúc đọc, nước mắt bà cứ thế trào ra…
Một tuần sau. Bà lén đi cửa hàng, mua cho cô bé một cái cặp như
nó đã mô tả và nói dối là của ông gửi về. Lúc nhận cái cặp, nó mừng rỡ, vừa nhảy
chân sáo vừa cười vui như tết.
Rồi như sực nhớ ra điều gì, nó đột nhiên dừng lại, hỏi:
- Cháu mới viết thư tuần trước. Vậy mà tuần này ông đã mua cặp gửi
về rồi. Nhanh bà nhỉ?
Bà chột dạ, đáp:
- Ừ! Vì ông cũng ở gần, nên nhận được thư là ông mua quà gửi về
cho cháu ngay!
Đứa cháu tin lời bà nói, nó không hỏi nữa, rồi vừa soạn sách vở
vào cái cặp mới, nó vừa luôn miệng hát líu lo.
o0o
Thời gian này, chứng hoang tưởng của thầy Thất Sách ngày một nặng
và mang tính cực đoan hơn. Lối xưng hô cũng vậy, cũng nệ cổ và mang đậm chất kiếm
hiệp. Có thể nói, giờ đây, cái tinh thần võ hiệp đã ăn sâu và hun đúc nên cốt
cách và con người của thầy rồi vậy. Thầy hay nhầm lẫn tên tuổi của những nhân vật
trong tiểu thuyết kiếm hiệp với những người mà thầy gặp ở ngoài đời. Những bối
cảnh và tình tiết trong tiểu thuyết cũng vậy, cũng bị thầy lẫm lẫn với thực tế,
khiến cho không gian và thời gian cứ thế bị đảo lộn hết cả. Ví như, những nhân
vật trong sách, chiểu theo thời gian thì họ phải sống cách nay đến vài trăm năm
rồi, thế nhưng thầy vẫn nhầm tưởng với những người còn sống đương thời. Tóm lại,
quá khứ, hiện tại lúc này trong trí nhớ thầy chỉ còn là một mớ bùng nhùng, hỗn
độn, chẳng thể phân biệt và cũng chẳng thể nào mà gỡ ra cho được.
Đối với Tam Văn - Người đệ tử thân cận và trung thành hết mực của
mình - thầy cũng ngày một khắt khe hơn. Hễ Tam Văn phạm lỗi gì là thầy lại xử
phạt bằng cách bắt chú phải ngồi yên trong phòng để đọc thuộc “Ngũ Quy”. Nhẹ
thì vài trăm lần, nặng thì có khi đến cả ngàn lần. Cho đến khi nào thuộc làu
làu, không sai một chữ, một dấu phẩy thì mới thôi.
Nếu Tam Văn có than phiền là đọc như thế nhiều quá thì thầy nói
rằng:
- Nhà ngươi hãy cứ đọc nhiều, thật nhiều vào! Có thấm nhuần tư
tưởng hiệp sĩ như thế thì mới có thể trở thành một hiệp sĩ vĩ đại và trứ danh
được!
Một triều đại mà sắp đến hồi kết thúc hay sụp đổ thì người ta
không còn coi trọng năng lực thực tiễn nữa. Thay vào đó, họ chỉ tin vào những
điều huyễn hoặc siêu nhiên như là bói toán, dị đoan chẳng hạn. Lúc bấy giờ thầy
Thất Sách cũng vậy, thầy đã trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào cuốn “Kinh Dịch” mà
thầy luôn mang theo bên mình. Hễ đi đâu, làm gì thầy cũng bói dịch, cũng giở
sách ra để xem cả. Mỗi quẻ, mỗi hào, mỗi tượng trong đó đều trở thành sức mạnh,
niềm tin và là kim chỉ nam cho mọi hành động của thầy. Từ hướng xuất hành,
phương châm hành động, thái độ sống…tất cả đều phụ thuộc vào cuốn sách ấy cả. Lắm
lúc, quẩn lên, thầy còn so sánh mình là hào này, hào nọ, Tam Văn với hào nọ,
hào kia…
Bữa ấy, thầy Thất Sách bói dịch xong thì gấp sách lại, ngồi thẩn
thờ. Chẳng hiểu quẻ bói nói gì mà thầy ngồi chống cằm suy tư, cặp kính trắng trễ
xuống tận sống mũi cứ như sắp rơi xuống đất.
Tam Văn thấy thế thì lấy làm lạ, bèn chống tay, ngồi xuống cạnh
thầy. Chú nhìn như dán vào cái bìa sách màu đen có in hình vòng tròn âm dương,
rồi tặc lưỡi, thú nhận:
- Thú thật! Cái món “Kinh Dịch” này của thầy thì con chịu. Chẳng
tài nào mà hiểu nổi!
- Cũng phải thôi. Tam Văn! – Thầy Thất Sách ngồi thẳng người lên,
đáp – Ngay đến cả những người có kiến thức sâu rộng, nếu không dụng tâm nghiên
cứu thì cũng không thể hiểu được. Huống chi là người ít học như con.
- Nhưng cái “Kinh Dịch” ấy nó nói những gì vậy thầy? – Tam Văn lại
tò mò, hỏi.
Thầy Thất Sách đáp:
- Nếu nói cho cặn kẽ thì phải mất nhiều thời gian lắm, mà chưa
chắc con đã hiểu được. Con chỉ cần hiểu sơ lược như vầy: Vạn vật trên đời này đều
do âm dương kết hợp, biến hoá mà thành. Ban đầu có Lưỡng Nghi, gồm có Thái Âm
(vạch đứt) và Thái Dương (vạch liền). Lưỡng Nghi kết hợp với nhau sinh Tứ Tượng.
Tứ Tượng sinh Bát Quái. Bát Quái lại biến hoá vô cùng. Tóm lại, kinh dịch cố gắng
mô phỏng, thâu tóm tất cả quy luật vận hành của vũ trụ và cuộc sống con người
vào trong đấy…
Tam Văn gãi đầu sồn sột:
- Càng nghe thầy nói con càng chẳng hiểu gì cả. Với con, dù thầy
có nói bao nhiêu đi nữa thì cũng chỉ như nước đổ đầu Vịt mà thôi. À!...Mà vừa rồi
thầy vừa bói được quẻ gì vậy?
- Ta vừa bói được quẻ “Thuỷ Hoả Ký Tế”. Đây là một quẻ tốt, tượng
trưng cho sự viên mãn. Điều đó cho thấy cuộc phiêu lưu của thầy trò ta sẽ thành
tựu tốt đẹp. Nhưng nó cũng báo hiệu trước cho sự kết thúc của một chu kỳ. Vì vậy
mà ta đoán cuộc phiêu lưu của thầy trò ta đã sắp đi đến hồi kết thúc. Tam Văn!
- Nhưng quẻ đó tốt mà. Vậy cớ sao nom thầy lại buồn rầu làm vậy?
- Thì vậy! Cho dù là thành tựu tốt đẹp. Nhưng khi phải kết thúc
một cuộc phiêu lưu kỳ thú, ta cũng không tránh khỏi có chút ngậm ngùi, tiếc nuối.
Vì vậy mà tâm trạng ta mới bồi hồi như con đã thấy!…