Chốn sơn trang, thầy Thất Sách nửa đêm
bắt trộm
Đồng Lợn Lòi, được tôn làm minh chủ võ
lâm.
Đã một tuần lễ trôi qua, kể từ khi hai thầy trò Tam Văn từ biệt
miền đất tổ vua Hùng. Bữa ấy, sau khi đi bộ qua quãng đồng vắng, họ bắt gặp một
thôn trang xinh đẹp nằm chênh vênh và biệt lập trên lưng chừng đồi.
Trời về chiều, ánh hoàng hôn nhuộm đỏ cảnh vật, phản chiếu lên
sườn đồi gấp khúc những khoảng sáng, tối nhạt nhoà, trông xa tựa như một bức
tranh sơn dầu tráng lệ. Trên con đường mòn quanh co dưới chân đồi, lũ trẻ tay cầm
roi, thung thăng lùa đàn trâu đi về nhà. Thấp thoáng sau những lùm cây xanh thẫm,
vài đụn khói trắng bay lên từ những mái nhà ngói đỏ, khung cảnh ấm cúng, đoàn
viên, khiến cho những bước chân lữ khách không khỏi xốn xang, ngập ngừng. Trên
đồng vắng, lũ chim rừng nháo nhác bay về tổ, nơi triền đồi, tiếng lục lạc kêu
vang. Những âm thanh và hình ảnh báo hiệu của một ngày sắp tàn.
Thầy Thất Sách quay sang nói với học trò:
- Vùng này chẳng có khách sạn hay nhà trọ gì cả. Hôm nay ta hãy
vào thôn xin nghỉ nhờ một đêm. Ngày mai sẽ lại lên đường đi tiếp.
Đang mệt và đói, cả ngày đi bộ đã mỏi, Tam Văn dĩ nhiên là muốn
được nghỉ ngơi cho thoã rồi. Vì vậy mà khi nghe chủ nói, chú đã như mở cờ trong
bụng. Vừa rồi, chú cũng đang định nêu ý kiến như vậy, nhưng vì chưa được lệnh
thầy cho nên đành phải im lặng. Có động lực thúc đẩy, chú xốc lại cái túi trên
vai cho ngay ngắn rồi hăm hở bước mau.
Hai thầy trò ghé vào một gia đình mà họ bắt gặp trước tiên ngay
đầu thôn. Ngôi nhà ngói khang trang, xung quanh có tường xây bằng đá xanh kiên
cố.
Họ dừng lại trước cổng, ngập ngừng nhìn trước, ngó sau, ý đợi có
người đi ra thì hỏi. Lát sau, vì lo sợ trời sẽ tối, thầy Thất Sách quyết định đẩy
nhẹ cánh cổng gỗ khép hờ, rồi lách người bước vào bên trong.
Một cụ già râu tóc đã bạc, gầy gò trong bộ đồ ngủ rộng thùng
thình, đang lom khom tưới rau trong vườn. Cụ chậm rãi múc từng gáo nước, cẩn thận
tưới bón cho những cây bắp cải non, nhẹ nhàng như đang nâng niu, chăm sóc một đứa
trẻ vậy.
- Chào cụ! – Thầy Thất Sách bước lại, cất tiếng.
Cụ già ngẩng lên, nhìn hai người khách lạ bằng một ánh mắt tò
mò, lạ lẫm. Miệng hơi mấp máy, mồ hôi trên trán cụ rịn ra, nhỏ xuống đất thành
giọt.
- Hai người đây là?...- Cụ nhướng cặp lông mày có những sợi bạc
rủ xuống như tơ, hỏi.
- Chúng tôi nhỡ độ đường, ghé gia đình ta …
Cụ già tỏ ra do dự:
- Chuyện này thì!...
- Thường thì chúng tôi vẫn thuê nhà trọ. Nhưng vì thôn ta đây
heo hút, xa trung tâm, nên…; Mong cụ cho phép chúng tôi nghỉ lại. Trời đã sắp tối
rồi, mà quanh đây cũng chẳng còn thôn trang nào nữa cả! - Thầy Thất Sách nói
nhanh, như sợ chủ nhà sẽ đổi ý.
Từ trong nhà bếp, một cụ bà nom phúc hậu, răng ăn trầu đen nhánh
đi ra. Cụ mặc bộ đồ màu gụ, kiểu đồ mà những người già ở nông thôn thường hay mặc.
Đến chỗ dậu mồng tơi mọc lùm xùm trước sân, cụ vịn tay, rồi hỏi vọng ra:
- Có chuyện gì vậy ông?
- Có hai ông khách đến đây xin nghỉ nhờ - Cụ ông lớn tiếng đáp.
Bà cụ nghiêng tai để nghe, rồi quay nhìn thầy trò Tam Văn, như để
ước lượng và đánh giá thân thế. Thấy thầy Thất Sách có vẻ là người tử tế, còn
Tam Văn thì cũng hiền lành, chất phác, cụ đã hơi vững dạ. Rồi cụ nheo nheo con
mắt đã kèm nhèm vì tuổi tác, hỏi:
- Vậy chứ hai bác đi đâu qua đây?
- Chẳng dấu gì cụ. Chúng tôi là những người du lịch tự do. Nay
vì nhỡ độ đường mà đi qua đây. Mong hai cụ hãy cho nghỉ nhờ một tối! – Thầy Thất
Sách hướng về phía bà cụ, lễ phép đáp.
Cụ ông bỏ lại cái gáo vào lon nước, rồi men theo hàng rào để đi
vòng vào trong sân. Nhìn hai thầy trò Tam Văn lúc này tóc tai bơ phờ, áo quần xốc xếch, vẻ mệt
mỏi hiện rõ trên khuôn mặt, cụ chợt động lòng trắc ẩn. Sau một cái nhíu
mày, cụ nói:
- Trước đây tôi có làm nghề buôn bán, cũng từng đi lại khắp nơi.
Vậy nên chẳng lạ gì cái cảnh “Khỏi nhà ra thất nghiệp” cả, cũng đã phải ăn nhờ ở
đậu thiên hạ nhiều. Nay thấy hai bác như vậy, tôi đây cũng thông cảm lắm. Ăn
nhiều chứ ở hết bao nhiêu. Nếu hai bác không chê nhà cửa chật hẹp, xin cứ mời ở
lại đây nghỉ tạm một đêm vậy!…
Từ nãy, Tam Văn vẫn nín thở theo dõi câu chuyện giữa thầy chú và
chủ nhà. Bấy giờ thấy thế thì mừng quýnh, suýt nữa thì nhảy dựng cả lên.
- Cảm ơn cụ! Thật quý hoá quá! – Tam Văn mừng rỡ nói. Rồi xăng
xái như một đứa trẻ, chú xách vội cái túi hồ lô của mình, ì ạch theo chân chủ
đi vào trong sân.
- Nhà chúng tôi tuy hẹp, nhưng tấm lòng thì luôn rộng mở, chẳng
bao giờ hẹp lượng với ai thứ gì đâu – Bà cụ nói.
- Vâng! Không hề gì. Chúng tôi cũng là những con người đơn giản.
Chẳng hề đòi hỏi sự tiện nghi hay cầu kỳ gì cả. Chỉ cần hai cụ cho chúng tôi một
chỗ để ngủ, kể cả trãi chiếu ra góc nhà cũng được! - Thầy Thất Sách đáp.
- Ấy! Sao lại trãi chiếu ra góc nhà. Có giường chiếu hẳn hoi chứ.
Bác là khách quý của chúng tôi kia mà! – Cụ ông nói, rồi vồn vã bước vượt lên để
đi vào trong nhà chỉ chỗ cất đồ cho khách.
Dọn đồ xong, chủ nhà lại bảo hai thầy trò Tam Văn đi ra cái giếng
trước sân để rửa ráy chân tay cho mát. Cái giếng sâu, hình tròn và miệng giếng
loe ra như cái phễu. Nước trong leo lẻo, đến nổi có thể nhìn thấy tận đáy. Tam
Văn thòng cái gầu xuống, múc nước lên và đổ đầy vào chậu nhôm cho thầy rửa mặt.
Thầy Thất Sách rửa ráy qua loa, rồi lau khô, sau đó thì đi vào nói chuyện với
chủ nhà. Trái với chủ, Tam Văn nhân cơ hội này để tận hưởng làn nước mát và lạnh
như kem. Chú vốc nước lên rửa mặt, sì sụp kì cọ và phun phì phì một cách đầy sảng
khoái. Sau khi đã lau khô mặt bằng khăn, chú xắn ống quần, ống áo lên, bắt đầu
rửa ráy chân tay. Dòng nước dội đến đâu, cảm giác nhồn nhột như có kiến bò trên
da thịt đến đấy. Thật là thích thú làm sao. Sau cùng, chú dẫm đôi dép xăng đan
lạch bạch xuống nền gạch cho bụi đất rơi ra rồi dội thật sạch. Lúc này, chú thấy
người nhẹ hẳn đi, cảm giác thư giãn, thoải mái như vừa được thanh tẩy và gột rửa
bụi trần vậy.
Tam Văn rửa xong thì vắt khô cái khăn mặt, mang ra phơi lên chỗ
dây trước sân rồi thong thả đi vào trong nhà. Ở bộ bàn khách kê ở gian giữa, thầy
Thất Sách và cụ chủ nhà vẫn đang ngồi trò chuyện. Hai bên hỏi thăm, rồi giới
thiệu gia cảnh cho nhau nghe. Cụ ông nói:
- Số tôi muộn màng. Khi đã lớn tuổi, mới có mỗi mụn con trai. Thằng
con cũng mới cưới vợ hơn năm nay thôi. Cả nhà gồm có hai ông bà và vợ chồng nó,
vị chi là bốn người. Ở nông thôn, như vậy cũng coi là neo người bác ạ!
- Không neo người đâu cụ ạ! Cháu còn biết có nhiều gia đình
không có con cái. Về già chỉ có hai ông bà sống nương tựa vào nhau thôi! – Tam
Văn mau miệng, nói.
Thầy Thất Sách lừ mắt:
- Tam Văn! Con hãy ra ngoài kia để cho người lớn nói chuyện!
Bị chủ mắng, Tam Văn đứng lên, tẽn tò đi ra ngoài. Ra đến sân,
chú chắp tay, thơ thẩn đi lại nhìn cây, ngắm vườn, nom ra dáng một điền chủ lắm.
Thói quen này chú học được ở chủ chú, một người hay dạo bước để làm thơ và vãn
cảnh.
Cụ già cười, rồi nói tiếp:
- Con dâu nhà tôi cũng người xã bên. Nhà có nghề làm đậu phụ,
bây giờ về nhà chồng, cháu cũng mang theo cái nghề gia truyền ấy về bên này để
sinh kế. Hằng ngày vẫn đi chợ bán đậu phụ, thời gian còn lại thì chăm sóc cây cối,
vườn đồi phía sau nhà. Chồng nó thì làm nghề xây, ngày đi làm, tối về với gia
đình. Đời sống cũng coi như tạm ổn bác ạ!
- Thật là một cuộc sống yên bình nơi thôn dã! – Thầy Thất Sách
buông lời nhận xét.
Vừa khi ấy thì người con trai ông lão cũng đi
làm về. Đó là một người đàn ông độ ngoài ba mươi, cao lớn, rắn rỏi và có nước
da hơi ngăm đen. Trên tay anh ta cầm cái bay và thước xây, bộ quần áo lao động
mặc trên người vương đầy vôi vữa đã khô và bết lại thành những vệt màu trắng bệch.
Anh ta đi ra sân giếng, hì hụi rửa chân tay và đồ nghề ở đó hồi lâu, sau đó mới
đi cất đồ rồi vòng lên nhà trên để chào thầy Thất Sách.
Được một lúc, cô con dâu cũng khệ nệ bưng mâm cơm lên.
- Mời hai bác ăn cơm với gia đình chúng tôi luôn một thể! – Chủ
nhà lởi xởi.
Thầy Thất Sách vội từ chối:
- Cảm ơn cụ! Thầy trò tôi cũng có mang theo sẵn thức ăn ở đây!
Cụ già xua tay:
- Ấy!...Không được! Gặp bữa là phải ăn. Nếu không thì chẳng phải
là các bác đã phụ tấm lòng hiếu khách của chúng tôi rồi hay sao?!...
Từ chối mãi không được, thầy Thất Sách đành phải cảm ơn ông lão
và nhận lời.
Chừng vài phút sau, chủ và khách đã tề tựu đông đủ quanh bàn ăn.
Mâm cơm bình dị, toàn những món dân dã nhưng được chế biến khá ngon và hợp khẩu
vị. Thịt, cá, trứng có sẵn, rau củ thì hái được trong vườn.
Cụ già rót rượu ra bốn cái chén con con cho bốn người đàn ông, rồi
giới thiệu mọi người với nhau. Họ vừa ăn, vừa chuyện trò vui vẻ, không khí ấm
cúng, thân tình lắm. Anh con trai cắm cúi ăn, thi thoảng gặp đoạn nào thú vị lại
ngẩng lên, bình phẩm một đôi câu bằng một chất giọng đặc trưng địa phương nghe
khá hóm hỉnh.
Khi bữa ăn sắp kết thúc, người con dâu ý tứ đưa mắt nhìn mẹ chồng:
- Có lẽ xôi đã được rồi?!
Bà cụ nói:
- Con hãy xuống mang lên đây!
Cô gái đứng dậy, nhẹ nhàng đi xuống bếp. Lát sau cô trở lên,
trên tay bưng một đĩa xôi to, màu sắc sặc sỡ.
Cụ bà đỡ lấy đĩa xôi trên tay người con dâu, tươi cười:
- Xôi ngũ sắc do con dâu tôi làm đấy. Mời mọi người cùng ăn
tráng miệng!
Đúng như lời bà cụ, đĩa xôi rất đẹp mắt và có tất cả năm màu: Trắng,
xanh, đỏ, tím, vàng. Bà cụ dùng thìa, chia xôi vào bát cho từng người. Xôi
thơm, ăn ngon và rất dẻo. Tam Văn chưa bao giờ thấy loại xôi nào lại ngon và đẹp
như thế. Ở nhà chú đồ xôi cũng đã nhiều, nhưng cùng lắm cũng chỉ làm xôi gấc
vào những dịp lễ tết, chứ không có được nhiều màu như vậy. Thích quá, chú ăn liền
một lúc hai miếng, trong khi những người khác mỗi người chỉ thưởng thức một miếng
gọi là lấy lệ mà thôi.
Thầy Thất Sách nhìn cô gái – lúc này đang thu dọn bát đũa, khen:
- Nhà ta và cậu đây quả có phúc. Cưới được một cô con dâu vừa
xinh xắn, vừa ngoan hiền và đảm lược như thế về nhà.
Cô gái đỏ mặt thẹn thùng. Cụ bà nhanh nhảu đỡ lời:
- Vâng! Bác nói đúng! Từ khi cháu về đây làm dâu, nhà chúng tôi
cũng chưa có gì phải phàn nàn cả.
Kết thúc bữa ăn tối, Tam Văn lấy bánh trái mang theo trong túi
ra mời mọi người. Sau đó, ai đi làm việc nấy. Tam Văn cả ngày đi bộ đã mệt,
cũng xin vào phòng nghỉ sớm. Chàng nằm ở cái giường kê sát với phòng khách,
cách nơi chủ chú và cụ chủ nhà đang ngồi nói chuyện không xa. Chú nghe lỏm bỏm
cụ già nói:
- Bác biết không? Tổ tiên tôi cũng từ dưới xuôi lên đây. Thời Lê –
Mạc, chiến tranh loạn lạc, họ chạy loạn và chọn ở lại mảnh đất này để sinh cơ,
lập nghiệp. Từ bấy đến nay, kể cũng trên ba trăm năm rồi…
Tam Văn nghe kể đến đây thì hai mắt đã ríu lại, cả ngày lại đi bộ
mệt, lát sau chú đã ngủ thiếp đi lúc nào không hay.
Lúc tối
vì uống quá nhiều nước, nửa đêm thầy Thất Sách cảm thấy buồn đi giải. Sau một
lúc lần mò, cuối cùng thầy cũng mở được chốt cửa và cái thanh ngang bằng gỗ rồi
đi ra ngoài. Đêm ấy gần đến ngày rằm, ánh trăng sáng vằng vặc như ban ngày. Vừa
mắt nhắm mắt mở ra đến thềm, chợt thầy thấy dưới gốc cây dâu da trước cổng, có
hai bóng đen đang thậm thụt nhỏ to chuyện gì đó với nhau. Thầy Thất Sách chột dạ,
nghi có trộm, bèn dụi mắt để nhìn cho kĩ. Lại sợ chúng phát hiện ra mình, thầy
bèn lùi lại, nấp kín một chỗ vào sau bức tường để quan sát. Hai cái bóng ấy – một
cao, một thấp - nhìn trước ngó sau, rồi bắt đầu rón rén đi về phía chuồng trâu,
lẹ làng như hai con báo rình mồi. Lát sau, từ phía chuồng, chúng dắt ra hai con
trâu và một con nghé tơ đi ra.
Không nghi ngờ gì nữa, hai kẻ kia đích thị là đang ăn trộm trâu
rồi. Thế là, vừa khi chúng dắt trâu ra đến cổng, thầy Thất Sách cũng vác trường
côn xông ra, nhanh như một tia chớp:
- Bớ quân trộm đạo! Chớ có lộng hành. Hãy để trâu nghé lại
đây!...
Hai tên đạo chích thấy động, lại thấy có một hảo hán cầm gậy
hùng hổ xông ra thì hồn xiêu phách lạc. Chẳng ai bảo ai, cả hai cùng ném bỏ dây
thừng lại rồi cắm đầu cắm cổ chạy trối chết. Thoáng chốc, hai cái bóng đen ấy
đã mất hút sau những lùm cây um tùm phía trước cổng.
Vừa khi ấy, đèn trong nhà cũng bật sáng trưng. Nghe tiếng hô bắt
trộm của thầy Thất Sách, cả nhà đều đã hốt hoảng thức dậy.
Cụ chủ nhà là người chạy ra đầu tiên.
- Có chuyện gì vậy bác? – Cụ hỏi, rồi khom người, dáo dác nhìn
quanh.
- Có trộm! – Thầy Thất Sách đáp và chỉ tay về phía cổng.
Cụ già nhìn ra, thấy trâu đực, trâu mẹ và nghé con đang đứng ngơ
ngác như đi lạc. Chú nghé có vẻ sợ hãi, liên tục gõ móng và cọ cọ đầu vào bụng
mẹ. Thấy tài sản không bị mất, cụ mừng rỡ, tay chân vung vẩy không ngớt, cứ như
để tạ ơn trời vậy.
Cụ bà và cô con dâu đứng nép vào nhau trên thềm, sợ hãi nhìn ra.
Cả hai mặt mày xám ngoét, tim đập chân run.
Tam Văn và anh con trai thì xộc ra cùng lúc.
- Trộm ở đâu vậy? – Cả hai cất tiếng gần như đồng thanh.
- Bác khách đây phát hiện ra. Hiện chúng đã chạy rồi – Cụ già
nói.
- May quá! Của mất rồi mà còn lấy lại được! – Tam Văn nói.
Anh con trai dẫn Tam Văn đi sục sạo quanh nhà một vòng, nhưng
không phát hiện ra được gì, đành quay lại. Cụ già sai anh con trai dắt trâu,
nghé vào chuồng và dặn anh ta phải đóng chốt lại thật cẩn thận. Rồi cụ nắm lấy
hai bàn tay thầy Thất Sách, cảm động nói:
- Cảm ơn bác nhiều lắm! Nếu không có bác thì cả cơ nghiệp nhà
tôi coi như đi tong. Đối với nhà nông chúng tôi, con trâu là đầu cơ nghiệp.
Trâu kéo gỗ, trâu kéo cày, tất cả đều phải trông chờ vào trâu cả, bác ạ!...
Cụ già nói xong, lại mang một cái khoá dây ra khoá cổng ngõ lại
cho thật chắc chắn. Tối qua, vì nhà có khách và thức khuya, cụ đã quên khoá cổng.
Kẻ gian đi qua, thấy sơ hở nên đã nhân cơ hội đó để đột nhập vào.
o0o
Bị tiếng
chim trên đồi đánh thức, thầy Thất Sách vươn vai tỉnh dậy và nhìn ra bên ngoài.
Trời đã sáng rõ, những tia nắng mặt trời đầu tiên chiếu qua kẽ lá lung linh,
soi cả vào tận giường ngủ. Nhìn đồng hồ, thấy đã hơn năm giờ sáng, thầy vội lay
anh chàng Tam Văn lúc này vẫn đang nằm ngáy o o ngon lành. Bị đánh thức giữa chừng,
chàng ta ú ớ một lúc rồi mới ngồi dậy dụi mắt, trong khi miệng vẫn cằn nhằn vì
cứ nghĩ là đang ở nhà mình.
Thầy Thất Sách cất giọng ôn tồn:
- Dậy rửa mặt cho tỉnh đi con. Rồi thầy trò ta chuẩn bị lên đường!
Lúc này Tam Văn mới tỉnh hẳn. Nhớ tới nhiệm vụ của mình, anh chàng
bèn vội vàng đi rửa mặt.
Lúc hai thầy trò lên đường, ông lão đã dẫn cả nhà ra đứng trước cổng
để tiễn khách.
Thầy Thất
Sách chắp tay:
- Hẹn
ngày tái ngộ!
Cụ chủ
nhà hiểu tính thầy, cũng chắp tay, đáp:
- Ân nhân
bảo trọng!
Thật là một
cuộc chia li đậm chất kiếm hiệp. Thầy Thất Sách hài lòng lắm, quay lưng, chống
gậy xăm xăm bước đi.
Hai thầy trò lần theo lối mòn để đi ra khỏi thôn trang. Đến một
đoạn đường vắng, bất ngờ từ trong bụi cây um tùm có hai kẻ lạ mặt cầm hung khí
lao ra chặn đường. Một gã bé loắt choắt, gã còn lại thì cao lớn dữ tợn.
Gã loắt choắt giơ dao, quát:
- Hai tên ăn mày kia! Muốn sống thì hãy để hành lý lại đây rồi
tìm đường cút mau!
Tam Văn lùi lại một bước, dạng chân ra thủ thế. Thầy Thất Sách
thì vẫn tỏ ra điềm tĩnh. Thầy chống gậy xuống đất, hỏi lại:
- Các ngươi là ai? Giữa chúng ta không hề quen biết, lại không
có thù oán. Cớ sao lại cản đường chúng tôi?
Tên cao lớn tức giận gầm lên:
- Nhà ngươi còn dám nói là không có thù hằn hay sao. Vậy chứ tối
qua, đứa nào đã dám cả gan phá rối chuyện làm ăn của chúng ông?
Thầy Thất Sách nhíu mày, rồi chợt vỗ tay lên trán mà “À” lên một
tiếng. Giờ thì thầy đã nhớ ra, thì ra chúng là hai tên trộm trâu tối qua đã bị
thầy phát hiện.
Bọn này nguyên là cường đạo trong vùng. Hai tên này, cùng với một
đám lâu la nữa, chuyên rủ nhau đi làm những chuyện chướng tai gai mắt, khiến
cho dân chúng vùng này vô cùng điêu đứng và khổ sở.
Thầy Thất Sách bĩu môi, nói:
- Bây giờ ban ngày ban mặt, đã rõ mặt phường đạo chích rồi nhé.
Rõ đẹp mặt chưa! Ta sẽ dạy cho chúng bay một bài học, để từ nay không còn dám
làm hại đến dân lành nữa!...
Hai gã đạo chích nghe vậy thì nổi giận, lập tức cùng vác dao
xông vào.
Thầy Thất Sách cũng vung gậy đánh trả. Một bên dao, một bên gậy,
cứ gọi là đấu nhau chan chát. Thầy Thất Sách hăng tiết, vung trường côn múa
tít, như gió táp mưa sa, khiến cho hai tên kia sây sẩm mặt mày mà chẳng tài nào
chống đỡ nổi. Một tên vì sợ quá, lúng túng đánh rơi cả vũ khí. Chớp lấy thời
cơ, Tam Văn cũng rút đoản đao ra trợ chiến. Chú dồn được tên loắt choắt vào sát
gốc cây, rồi đá cho hắn một chặp, khiến hắn phải lăn lộn dưới đất mà van nài
xin tha thống thiết. Tên còn lại cũng bị thầy Thất Sách đánh cho một gậy vào
lưng đau điếng. Thấy thầy Thất Sách thân thủ phi phàm, võ công cái thế như vậy,
biết là chạm mặt phải cao thủ, cả hai tên trộm hốt hoảng vùng được dậy rồi hè
nhau tháo chạy.
Nhìn hai tên trộm đang co giò chạy thục mạng mà không dám ngoái
đầu lại, Tam Văn khoái chí, hỏi:
- Sao thầy không đuổi theo bọn chúng?
Thầy Thất Sách vuốt râu, đáp:
- Hãy tha cho chúng lần này. Từ nay chúng ắt hẳn phải tu tỉnh, sẽ
không bao giờ dám ngông nghênh bách hại dân lành nữa đâu!…
o0o
Sau khi đã dạy dỗ cho hai tên đạo chích một bài học, thầy trò
Tam Văn lại tiếp tục nhắm hướng Bắc đi tới. Trên đường, họ đi qua một thị tứ
đông đúc, phồn thịnh. Chợ búa, hàng quán ở đây tấp nập, hàng hoá cũng
phong phú nom chẳng khác gì dưới miền xuôi cả. Hai thầy trò quyết định dừng lại
ở đây một lúc để mua sắm những vật dụng thiết yếu. Họ bước vào một ngôi hàng tạp
hoá ven đường, chọn mua mấy cặp pin cho chiếc radio nhỏ của thầy, rồi thuốc
lào, bật lửa. Đặc biệt, thầy Thất Sách còn mua thêm một chiếc đèn pin để dùng
đi lại trong những lúc trời tối trên đường.
Tam Văn cho tất cả những thứ mới mua vào cái túi hồ lô của mình,
rồi hai thầy trò ghé vào một ngôi quán gần đó để ăn thắng cố.
Hôm nay gặp đúng bữa chợ phiên. Người đi lại ngoài đường tấp nập,
đông vui. Những người phụ nữ mặc váy thêu, đầu đội khăn sặc sỡ, lưng đeo gùi
trĩu nặng. Trong gùi đựng nào là thổ cẩm, trái cây, rau củ. Đàn ông thì mặc quần
áo đen, tay dắt theo trâu, ngựa, thong dong đi trên đường. Dòng người chen
chúc, quần áo, váy xống sặc sỡ, nom hệt như một vườn hoa đang di động. Cách thầy
trò Tam Văn một dãy bàn, có mấy người đàn ông đang ngồi chuyện trò rôm rả. Họ vừa
ăn thắng cố vừa uống rượu, mặt mày ai nấy đều đỏ gay đỏ gắt như mặt trời. Họ uống
rượu bằng bát, đó là một thứ rượu ngô trong như mắt mèo, mùi vị rất thơm ngon.
Những người phụ nữ khác thì ăn phở, ăn bánh trước khi vào chợ để trao đổi, mua
bán.
Tam Văn vừa ăn, vừa ngẩn ngơ ngắm nhìn dòng người qua lại. Điều
khiến chú ấn tượng và thích mắt nhất là sắc màu trang phục của những người đi
đường. Chú nhận xét rằng, ở đây, người ta đi chợ mà cứ như đang đi tham dự một
lễ hội trình diễn thời trang vậy.
Hai thầy trò ăn xong thì lại tiếp tục lên đường.
Đến một vùng đất nọ. Bữa ấy đi đường đã mệt, hai thầy trò bèn ngồi
xuống nghỉ dưới một gốc cây to bên đường rồi giở lương khô ra ăn. Trong lúc họ
đang chuyện trò thì chợt nghe có tiếng cãi cọ ồn ào vọng tới. Nhìn xuống, thấy
dưới bãi đất trống gần đó có hai đám người đang xô xát nhau và la lối om sòm.
Thầy Thất Sách vội ra dấu cho học trò im lặng, rồi cả hai cùng nấp vào một tảng
đá gần đó để theo dõi.
Dưới kia, một người chỉ tay, nói:
- Từ khi khai phá cánh đồng Lợn Lòi này (Sở dĩ có tên gọi như vậy,
vì xưa kia có nhiều Lợn Lòi thường hay đến đây quấy phá hoa màu), cụ tổ đã chia
cho ngành trên từ hàng cây ngô đồng về phía bắc, còn từ phía nam đổ xuống thì
thuộc về ngành dưới. Sau này ngành trên đã cậy vai vế mà lấn thêm mấy mẫu đất
canh tác. Bây giờ, chúng tôi phải thay mặt con cháu để đòi lại lẽ công bằng. Vậy
các người có trả lại đất không thì bảo?
Một người
phía bên kia, nói:
- Phần đất
đó là để phúng viếng tổ tiên, giao cho ngành trưởng quản lý. Chứ không phải là
lấn chiếm gì hết. Vậy nên nhất quyết không thể trả lại được!
Rồi cứ thế,
hai bên cãi cọ và xô xát gay gắt với nhau một hồi. Sau cùng, một người cao lớn
nhảy ra, hùng hổ nói:
- Ân oán
đã gần trăm năm. Nay phải giải quyết một lần cho xong mới được. Nói lý không được
thì phải dụng đến vũ lực thôi. Nếu đã không chịu trả. Hẹn đến ngày mai ra đây
giao chiến. Bên nào thắng, bên đó sẽ sở hữu phần đất ấy. Như vậy có dám không?
Bên kia
cũng không chịu lép:
- Đấu thì
đấu. Sợ gì! Ngày mai, nếu kẻ nào không đến thì coi như kẻ đó là con Thỏ Đế!
Nói xong,
bên nào kéo về nhà ấy.
Đám người
đi rồi, thầy Thất Sách thở dài, nói:
- Như vậy
là họ đã phê vào chiến thư rồi đấy!
- Chiến
thư là gì hả thầy?
- Là thư
hẹn giao chiến. Nếu bên kia phê vào, có nghĩa là đã nhận lời.
Rồi thầy
Thất Sách trầm ngâm, tự nhủ: “Vậy là một trận huyết chiến đã sắp xẩy ra ở đây,
ngay trên cánh đồng Lợn Lòi này. Không! Ta phải làm điều gì đó để ngăn chặn mới
được!”.
- Này Tam Văn! Vậy là hai thầy trò ta vẫn chưa thể tiếp tục lên
đường được rồi – Thầy Thất Sách nói.
- Vì sao vậy thầy?
- Vừa rồi ngươi không thấy những người kia cãi nhau hay sao?
- Cãi nhau là chuyện của họ. Còn đi là chuyện của mình. Liên
quan gì đến nhau mà không thể tiếp tục lên đường?
- Ngươi nói thế không được. Trước đây, vua Hùng đã từng báo mộng
và giao cho ta sứ mệnh khôi phục nền phong hoá, giữ gìn phong tục cha ông. Nay
anh em trong cùng một dòng họ mà lại đánh nhau để tranh giành đất đai canh tác
như thế thì coi sao được. Nhất định ta phải khiến cho họ tỉnh ngộ mà chung sống
hoà bình với nhau thì mới xong.
Tam Văn định can, nhưng thấy thầy đã nhất quyết như thế thì cũng
đành phải im lặng mà không dám nói thêm gì nữa.
Hôm sau, hai thầy trò lại đến chỗ cũ, cùng nấp sau tảng đá để
nghe lén. Y hẹn, hai đám người kia lại kéo đến dưới bãi đất trống, rồi dàn hàng
ngang đối địch. Một đám từ hướng bắc kéo tới, đám kia từ phía nam đi lại. Họ
mang theo tất cả những gì là dụng cụ nhà nông như cuốc, thuổng, gậy, gộc để làm
vũ khí chiến đấu. Sau một lúc lời qua tiếng lại, hai bên hùng hổ chuẩn bị lao
vào đánh nhau.
Vừa khi ấy thì có một tiếng thét vang lên như xé trời:
- Hãy khoan!...
Dứt lời, thầy Thất Sách chạy băng băng tới giữa đám người, rẽ họ
ra hai bên rồi vung trường côn múa tít. Cả hai phe cùng giật mình trông ra. Thấy
thầy Thất Sách mình tung cánh hạc, tay múa trường côn, mịt mù như bây bay khói
toả, chẳng biết đằng nào mà lần thì kinh hãi vô cùng. Thân pháp kỳ dị, võ công
phi phàm, thực đúng là một cao thủ xuất sơn vậy.
Thầy Thất Sách múa côn xong, nói:
- Thưa
các bậc trưởng bối, cùng các huynh đệ có mặt trên cánh đồng Lợn Lòi hôm nay!
Xin hãy dừng tay. Để cho tôi đây có đôi lời bày tỏ!
Từ đám người phía nam, có một cụ già tiến lên, nói:
- Người kia là ai? Xin cho biết quý danh?!
- Tôi chính là hiệp sĩ Thất Sách. Người đã được đích thân vua
Hùng báo mộng. Nay có việc phải đi kinh lý qua đây.
Từ đám người phía Bắc, lại một người khác bước lên, nói:
- Nếu đã chính danh như vậy. Xin cho được nghe cao kiến!
Thầy Thất Sách đứng thẳng người lên, chắp tay:
- Thưa các bậc trưởng lão, cùng các huynh đệ anh em! Ngày hôm
qua, tôi đã nấp sau tảng đá kia và nghe rõ sự tình – Thầy Thất Sách chỉ tay về
phía Tam Văn đang nấp. Cả đám người đều nhìn theo. Tam Văn hết hồn, vội cúi đầu
xuống và thu mình nhỏ lại vì nghĩ là đám người kia đã phát hiện ra mình. Kỳ thực,
chú nấp khá kỹ, khoảng cách từ tảng đá đến đám người kia lại khá xa, vậy nên họ
không thể nhìn thấy chú được – Thầy Thất Sách lại nói tiếp – Hẳn là các ngươi
đã từng nghe câu “Bầu ơi thương lấy bí cùng. Tuy rằng khác giống nhưng chung một
giàn”? Bầu, Bí khác giống mà còn biết thương yêu nhau, huống chi các người cùng
một tổ tiên sinh ra? Lại có câu “Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ
chớ hoài đá nhau”. Nay các ngươi tranh giành, đấu đá, hơn thua, lại còn sắp diễn
ra một cuộc chiến huynh đệ tương tàn, nồi da nấu thịt nữa. Sự thể như thế, thử
hỏi ai mà không đau lòng? Một mai các người có chết đi, liệu còn mặt mũi nào mà
tìm gặp tổ tiên dưới suối vàng nữa? Một chiếc đũa dễ bẻ, nhưng không thể bẻ được
một nắm đũa. Đoàn kết thì sống, chia rẽ thì chết. Vì vậy ta mong các ngươi hãy
đoàn kết, hãy thương yêu và đùm bọc lẫn nhau. Hãy cởi bỏ giáp trụ để vui sống
hoà bình. Hãy sử dụng binh khí để làm công cụ sản xuất. Hãy vì đại nghĩa mà bỏ
qua những mâu thuẫn, gác lại những bất đồng. Có như vậy thì khi sống mới không
bị thiên hạ chê cười, lúc chết lại không hổ thẹn với tổ tiên. Các ngươi thấy lời
ta có đúng không?
Những người kia nghe xong lời thầy Thất Sách thì lặng người đi,
ai nấy đều xấu hổ, cúi gằm mặt. Vài người trong số đó còn cảm động đến mức khóc
rưng rức như cha chết. Thế rồi thần kỳ làm sao, tuyệt diệu làm sao, họ đã quyết
định cùng nhau làm lành. Họ bắt tay nhau, ôm nhau thắm thiết, rồi nhỏ to giãi
bày tấc lòng.
Một người hướng về phía thầy Thất Sách, nói:
- Nếu ngài đã đứng ra làm chủ. Vậy xin hãy ra quyết định, để
chúng tôi còn có căn cứ về sau!
Từ nãy đến giờ, Tam Văn đã vô cùng lo lắng, vì chú cứ sợ thầy
mình sẽ bị đám người kia nổi giận mà đánh cho một trận tơi bời. Chừng ấy người
mà ra tay thì chỉ có thịt nát xương tan chứ còn sống sao nổi. Nhưng bây giờ thấy
thầy đã xoay chuyển được tình thế, đã thuyết phục được đám người kia. Tự
nhiên chú cảm thấy tự hào và bội phục chủ mình vô cùng.
Bấy giờ thầy Thất Sách đáp lời:
- Thưa các trưởng lão và các huynh đệ! Nay tôi có thiển ý thế
này, chẳng biết mọi người có nghe hay chăng?
- Xin ngài cứ nói – Những người có mặt đều đồng thanh.
Thầy Thất Sách tiếp lời:
- Theo thiển ý của tôi, phần đất tranh chấp ấy sẽ không thuộc về
một bên nào cả, mà sẽ giao cho một người trong dòng họ canh tác. Toàn bộ hoa lợi
thu được trên khoảnh đất ấy sẽ dành để hương khói, thờ phụng tổ tiên, một phần
trong đó sẽ được trích ra để trả công cho người chăm sóc theo định kỳ vậy!
Trời ơi! Thầy Thất Sách vừa dứt lời thì những tiếng vỗ tay đã lập
tức vang lên không ngớt. Kèm theo đó là những tiếng hô vang như sấm dậy:
- Muôn năm!...Muôn năm!....Muôn năm!....
Người ta hào hứng, người ta hoa chân múa tay, mặt mày ai nấy đỏ
gay đỏ gắt vì phấn khích và vì thán phục. Kế đó, họ lại tụm lại với nhau, bàn
tán điều gì đó một hồi rất lâu. Sau cùng, một cụ già râu tóc bạc phơ tiến đến
trước mặt thầy Thất Sách, nói:
- Tôi sống đến nay là đã gần một trăm tuổi. Cuộc sống gian khó,
những mâu thuẫn họ hàng âm ỉ từ bấy đến nay chưa thể nào dứt được, khiến tôi cảm
thấy vô cùng đau lòng. Cách đây tám mươi năm, có một câu sấm đại ý rằng, tám
mươi năm sau sẽ có một bậc chân nhân chống gậy đi qua vùng này. Người đó sẽ
mang lại thái bình và hoá giải hận thù cho dòng họ chúng tôi. Từ đó đến nay vừa
tròn chừng ấy năm. Đúng lúc ngài đi qua đây, tay cũng chống gậy như thế. Ngài
chính là bậc chân nhân ứng trong câu sấm ấy, chính là người trời vậy. Chúng tôi
đây xin cảm phục! Nhất loạt cùng tôn vinh ngài lên làm võ lâm minh chủ!
Thầy Thất Sách xua tay, nhưng còn chưa kịp từ chối thì những người
phía sau đã lập tức ùa tới công kênh thầy lên. Cứ thế, hai bên tranh chấp, mỗi
khi hễ bên này xướng:
- Võ lâm minh chủ!
Là bên kia lại hoạ:
- Muôn năm!
Cứ thế lặp đi lặp lại hồi lâu, âm thanh vang vọng khắp cánh đồng,
cách xa hằng dặm vẫn còn nghe thấy. Cứ như thể là đang có cả một đạo binh khổng
lồ đang náo nức dàn quân, tập trận vậy.
Thực là:
Ân oán trăm năm ấy quản gì
Một mình một gậy quét sạch khi
Võ lâm minh chủ như lời sấm
Từ nay tỏ mặt đấng tu mi.