Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XIII)

 

Bóng người dưới Trăng

Nửa đêm, Tam Văn lay thầy, rồi cất giọng thảng thốt:

- Thầy ơi!...Dậy đi!...Thầy nhìn kìa….

Thầy Thất Sách giật mình, mở choàng mắt:

- Có chuyện gì thế?...

Ánh mắt lạc đi vì sợ hãi, Tam Văn chỉ tay ra ngoài cửa sổ:

- Lại bóng người ấy…Thầy thấy không?...Nó đang đi kìa!…

Thầy Thất Sách dụi mắt, ngó quàng qua cửa sổ. Dưới ánh trăng nhạt nhoà như sương khói, bóng một người con gái mặc áo trắng đang lặng lẽ bước đi trong màn đêm. Cái bóng ấy bồng bềnh, hư ảo, như đang lướt đi trên mặt đất, lang thang và thất thểu như một người mộng du. Đến chỗ bãi đất trống, nó dừng lại để quan sát một lúc, rồi lại tiếp tục tiến đến chỗ cái miếu hoang gần đó. Ngay khi vừa chạm tay vào bức tường vôi loang lổ, nơi đặt cái bệ thờ để thắp hương, cái bóng ấy nhoè dần, mờ đi, rồi đột nhiên biến mất ở đó.

Hai hôm trước, họ đã đặt chân đến đây, một ngôi làng bé nhỏ nằm nép mình dưới chân những ngọn đồi thoai thoải.

Đi qua một cây cầu nhỏ bắc qua con sông đào là vào đến trong thôn. Ngôi làng hiện ra với những hàng Cau thẳng tắp, những ngôi nhà lợp ngói đỏ và vườn cây ăn trái sum suê. Ở ngay rìa làng, có một cái trại nuôi vịt rộng chừng vài héc ta. Lũ vịt ngụp lặn và bơi lội dưới ao, chúng vừa vươn mình vỗ cánh vừa kêu lên quàng quạc như trong một buổi chợ làng. Ở trên bờ, dưới bóng những tán cây loà xoà vươn ra sát mép nước, số thì rỉa lông, số khác nằm lim dim mắt để nghỉ ngơi, thư giãn.

Họ đi qua một cái nhà văn hoá thôn nằm cạnh đường. Trên nóc ngôi nhà ấy, có hai chiếc loa phóng thanh được cột vào một cái cọc sắt và chĩa về hai hướng khác nhau. Đằng trước có một sân bóng chuyền, lưới vẫn mắc sẵn trên cọc, dù lúc này chẳng thấy ai chơi cả. Trên mặt bức tường bao hướng ra phía mặt đường, người ta phủ một lớp vôi trắng, rồi vẽ nhằng nhịt lên đó những bích chương và khẩu hiệu cổ động bầu cử đủ màu sắc sinh động.

Khi nhìn thấy có một đám phụ nữ đang đứng túm tụm trước cổng, thầy Thất Sách liền chống gậy tới gần để hỏi thăm.

- Mọi người làm ơn cho hỏi! Thôn ta đây tên là gì vậy?...

Đám người ngưng chuyện trò, đáp:

- Đây là Bích Câu thôn!

Thầy Thất Sách lại hỏi:

- Chúng tôi là khách nhỡ độ đường. Muốn tìm một nơi để trọ được chăng?

Một chị ngưng nhai trầu, hỏi lại:

- Thế hai người từ đâu tới đây?

- Chúng tôi ở xa lắm. Tận miền trung kia! – Tam Văn nhanh nhảu đáp.

- Vậy thì các ông tìm gặp trưởng làng. Ông ấy là người giải quyết mọi việc ở đây đấy! – Người đàn bà đứng cạnh chị nhai trầu, bỏ cái nón lá sùm sụp ra khỏi đầu, nói.

Thầy Thất Sách đang toan hỏi nữa thì bà ta đã trỏ tay:

- May quá! Ông ấy kia!

Một người đàn ông khoác áo Kaki, trạc sáu mươi tuổi, trên tay cầm một cuốn sổ bìa đen, đang từ trong nhà văn hoá đi ra.

Người ấy tiến lại phía cổng, gật đầu chào mọi người và cất giọng lởi xởi:

- Đã họp xong mà mọi người vẫn chưa chịu về nhà hay sao? Còn ở lại đây làm gì thế này?

Đám đông ồn ào đáp lại:

- Chào trưởng thôn!

- Có người cần gặp ông đấy!...

Bấy giờ thầy Thất Sách mới có dịp nhìn kĩ người ấy. Đó là một người mảnh khảnh, nước da nâu, trán cao và hơi hói. Mỗi khi ông ta nói, những nếp nhăn quanh miệng cứ nhảy múa, và ánh mắt thì reo vui, sóng sánh như đang cười. Có vẻ như đó là một người vui tính, hoạt bát và hoà đồng.

- Ông Vương đấy. Ông ấy là trưởng làng đấy! – Người phụ nữ nhai trầu quay sang nói với thầy Thất Sách.

- Ai đang tìm tôi vậy? – Người đàn ông tên Vương dừng lại và đưa mắt nhìn quanh.

Người ta giới thiệu thầy trò Thất Sách với người trưởng làng. Ông ta chắp tay sau lưng, chăm chú lắng nghe, thi thoảng lại đánh mắt nhìn sang phía hai người khách lạ. Sau khi hỏi han qua lại với thầy Thất Sách một lúc, ông ta gật đầu, rồi ngoắc ngón tay:

- Mời hai người đi theo tôi!

Chừng dăm phút sau, họ dừng lại trước một ngôi nhà mái bằng ba gian được quét vôi trắng sạch sẽ. Khu nhà nằm biệt lập với xóm làng, khuất dưới những tán cây nhãn cổ thụ, um tùm.

Ông Vương đã làm trưởng làng được hơn hai mươi năm nay. Là mẫu người của công việc, năng nổ và nhiệt tình, bởi vậy cho đến nay, ông vẫn được người dân tín nhiệm mà giao phó trọng trách. Lúc này, ông nhanh nhảu bước lên thềm, rút chùm chìa khoá ra và bắt đầu tra vào ổ lách cách.

- Đây là nhà khách của thôn. Mỗi dịp có hội làng hay con cháu ở xa về, họ đều đến ở đây cho tiện! Mời các ông cứ tự nhiên cho! Cần gì cứ gọi tôi nhé. Tôi ở ngay trong làng kia! – Trong lúc mở khoá, ông Vương ngoái lại và nói với thầy trò Tam Văn như vậy.

- Cảm ơn cụ rất nhiều! Cụ thật tốt quá! – Thầy Thất Sách xoa hai bàn tay vào nhau, nói.

Cụ già xua tay:

- Ấy!...Không có gì! Làng chúng tôi vẫn được tiếng là mến khách mà – Rồi cụ vui vẻ, nói thêm – Phương châm của chúng tôi là: “Vui lòng khách đến, vừa lòng khách đi” đấy nhé!

Cánh cửa mở, họ bước vào bên trong. Trong nhà có kê một bộ bàn ghế sa lông hộp, một chiếc tủ đứng bằng gỗ tạp để đựng hành lý, đồ đạc. Gian trong có giường chiếu đầy đủ, đồ đạc ngăn nắp. Từ căn phòng này, nhìn ra cửa sổ là khoảng đất trống và một ngôi miếu hoang toạ lạc gần đó.

Sau khi giới thiệu sơ lược và dặn dò vài thứ cần thiết, người trưởng làng chào hai thầy trò rồi ra về. Nhưng khi vừa ra khỏi cửa được mấy bước, như sực nhớ ra điều gì đó hệ trọng, ông hấp tấp quay ngược trở lại.

- Còn chuyện này!...Suýt nữa thì tôi quên mất! – Ông cụ vẫy tay, nói.

- Ông còn muốn dặn gì nữa chăng? – Thầy Thất Sách hỏi.

Người trưởng làng bước tới, kéo khuỷu tay thầy Thất Sách, rồi hạ thấp giọng như sợ có ai đó nghe thấy:

- Có điều này cần phải dặn hai người. Đến đêm khuya, hễ mà nghe có tiếng ai đó gõ cửa thì chớ trả lời. Cũng tuyệt đối không được mở cửa. Nghe chửa!

Tam Văn trố mắt, ngạc nhiên:

- Sao lại vậy, thưa cụ?!

Vẻ mặt đầy bí hiểm, ông cụ nói, giọng lúc này đã gần như thì thầm:

- Cách đây đã lâu lắm rồi, cũng khoảng chừng vài năm gì đó. Cứ nửa đêm về sáng, những ngôi nhà trong làng thường có tiếng gõ cửa, nhưng khi mở ra thì lại không thấy ai cả. Làng này, hầu như nhà nào cũng bị như vậy. Nghe người ta đồn đó là hồn ma của một cô gái thì phải. Vì đã có vài người trông thấy rồi đấy!…

Cụ già kể xong thì lại vội vã ra về, bước thấp bước cao, cứ như sợ có ai đó đang đuổi theo sau lưng vậy.

Chỉ còn lại hai thầy trò trong ngôi nhà xa lạ. Tam Văn như người mất hồn, chú ta chống tay, thẩn thờ ngồi phịch xuống ghế sa lông.

- Nếu như ở trong làng đông đúc thì còn đỡ sợ. Đằng này ở đây lại tách biệt, vắng vẻ. Những hồn ma là chúa thích những nơi như thế này đấy! – Chú nói, nét mặt lộ vẻ lo lắng, căng thẳng.

Thầy Thất Sách gạt phắt đi:

- Nhà ngươi đừng quá nhạy cảm với những chuyện tâm linh như thế. Ma quỷ họ sống ở một thế giới khác với chúng ta. Tuy là cũng có những lúc nhìn thấy nhau thật đấy, nhưng họ chẳng bao giờ làm hại ai cả. Có phúc lắm thì mới gặp được ma đấy! Nhà ngươi đừng có tưởng!...

Tam Văn nổi quạu lên, phụng phịu:

- Con sợ thật đấy! Không đùa đâu. Hay là chúng ta vào trọ trong làng đi. Đừng ở đây nữa! Thầy!...

Thầy Thất Sách lục khăn gói, điềm nhiên lấy thuốc lào ra hút. Thầy ngửa cổ nhả khói, rồi nói, giọng nghiêm nghị:

- Chúng ta là khách qua đường, được ở một nơi rộng rãi như thế này là tốt lắm rồi. Đừng có được voi đòi tiên mà làm phiền người ta thêm nữa. Ta đã quyết định ở lại đây. Thôi! Mau đi dọn đồ đạc đi! Ta cũng phải nghỉ ngơi một lát đây.

Tam Văn miễn cưỡng đi đến bên tấm gương, cầm chiếc lược sừng lên và cẩn thận chải lại mớ tóc đen rối bù vì gió bụi. Sau đó thì chú bắt đầu lúi húi dọn dẹp đồ đạc. Cửa tủ không khoá, chùm chìa khoá vẫn còn treo lủng lẳng trên ổ. Tam Văn đưa tay kéo nhẹ cánh tủ, một âm thanh cọt kẹt phát ra, bụi và mối mọt rơi xuống lả tả.

- Cha chả! Đến là lắm bụi! – Tam Văn giật mình kêu lên và vội vàng né sang một bên. Có lẽ đã lâu không có ai ở, ngôi nhà mới lắm bụi và mối mọt như vậy.

Tam Văn lấy khăn mặt và mấy món đồ thường dùng để riêng lên cái ngăn cao nhất. Rồi chú bê nguyên cả cái tủi để vào cái hộc tủ phía dưới rồi khép cánh cửa lại. Có một cái chổi đót treo trên một cái móc gần đấy. Sau vài giây lưỡng lự, chú lấy chổi xuống và bắt đầu quét dọn cho sạch bụi. Chiếc chổi lia đến đâu, những đám bụi li ti lại bay lả tả đến đó, dưới ánh sáng hư hao chiếu qua khung cửa, chúng cuộn lên và di động như hình thù của một làn khói mỏng.

Lúc này, ở phòng trong, thầy Thất Sách cũng đã ngã lưng trên chiếc giường đôi kê cạnh cửa sổ, chiếc túi vải treo cạnh bên. Thầy cần phải nghỉ ngơi để lấy lại sức lực, cả ngày đi bộ, khiến cho thân thể và tay chân thầy nhức mỏi, rã rời.

Câu chuyện hồi chiều cứ ám ảnh và thôi thúc tâm trí Tam Văn. Bởi vậy mà sau bữa ăn tối, trong lúc hai thầy trò đang ngồi uống trà, chú nói:

- Con nghĩ là bao nhiêu người chết thì sẽ có bấy nhiêu hồn ma. Tuy nhiên, có mấy khi thấy họ sinh sự đâu. Vậy tại sao lại có những linh hồn cứ đêm đêm lại đi gõ cửa để quấy nhiễu nhà người ta như thế thầy nhỉ?

Thầy Thất Sách cầm tách trà lên định uống rồi lại đặt xuống.

- Thường thì đó là những oan hồn. Tam Văn! – Thầy đáp, ánh mắt nhìn vào khoảng không vô định - Họ có một nỗi oan khuất nào đó lớn lao. Và vì khí oan tích tụ, oan hồn kết oán, mãi mà vẫn chưa tan. Vậy nên theo một cách nào đó, họ muốn thông báo cho những người còn sống biết.

- Nhưng mà họ cứ quấy nhiễu mãi như thế thì được ích gì cơ chứ? – Tam Văn vẫn chưa hết bức xúc.

- Họ muốn những người sống giúp đỡ. Giúp họ giải oan hoặc làm một việc gì đó theo ý nguyện.

- Vậy thì làm thế nào để kết thúc?

- Phải cởi bỏ được nổi oan.

- Bằng cách nào?

- Bằng cách làm cho sự thật được sáng tỏ. Sau đó thì cúng tế, để cho oan hồn được siêu thoát. Khi ấy, linh hồn sẽ thanh thản rời đi mà không còn vướng vất nơi trần gian này nữa.

Tam Văn ngồi nhấp nhổm, lòng đầy bất an. Chú đưa tay vuốt vuốt những cánh hoa lụa trên bàn, cặp lông mày nhíu lại, cong vút lên như hai cánh cung. Lát sau, chú nói:

- Thầy là người biết tuốt. Từ thuật bói toán, nghi thức cúng tế, cho đến tam giáo cửu lưu …khoa nào cũng giỏi cả. Sao thầy không nhân dịp này mà trổ tài giải oan cho cô gái ấy. Đó là một cái việc nhân đức và ý nghĩa. Vừa cứu rỗi linh hồn, vừa giúp cho dân làng được bình yên, đền cái ơn họ đã cho thầy trò ta tá túc…

Thầy Thất Sách vuốt râu, có ý cân nhắc ý kiến của học trò.

- Kể ra ngươi nói cũng phải! – Thầy đáp – Ta cũng muốn làm như vậy lắm. Nhưng mà…

 - Nhưng mà gì nữa! – Tam Văn tiếp ngay lấy lời thầy - Việc tốt như thế, thầy làm ngay đi. Cứu đời, giúp người vốn là tiêu chí của ngành hiệp sĩ chúng ta mà. Chẳng phải là thầy cũng đã từng nói như vậy hay sao?...

Sở dĩ Tam Văn sốt sắng dục chủ làm như vậy, vì chú muốn thoát khỏi nỗi sợ. Đó là liều thuốc tinh thần dành cho những người yếu bóng vía và hay sợ ma như chú vậy. Nhưng dẫu sao, ý kiến đó cũng thật tốt và đáng khen. Xem ra chẳng kém những vị quân sư thông thái và lẫy lừng xưa nay là mấy cả.

Thầy Thất Sách thở dài:

- Nhưng mà còn để xem nhân duyên thế nào đã. Dù sao hai bên cũng phải kết nối được với nhau thì mới biết rõ căn nguyên để mà hoá giải. Nếu họ không tìm đến ta, không cho ta biết sở nguyện, thì dẫu ta đây có tài giỏi đến mấy cũng chẳng có cách nào để mà giúp cho được!…

Tối hôm ấy, trăng thanh, gió mát. Không gian tĩnh mịch, gió thổi nhẹ, lay động đám cành lá trên cao. Ở cuối bãi đất, ngôi miếu hoang nằm im lìm dưới bóng những tán cây rậm rạp, càng tăng thêm phần bí hiểm, hoang vu. Ánh trăng hắt lên cái mái cong của ngôi miếu một vệt sáng, lấp loá màu vàng nhạt, tương phản với những vệt tối nhạt nhoà phía dưới, nom hệt như con mắt của màn đêm. Bóng cây Đa phất phơ xuống nền đất bạc màu phía dưới, in rõ những đám cành lá rậm rạp, đung đưa. Phong cảnh rất nhã, thực là một đêm trăng đẹp nơi thôn dã yên bình.

Nhưng tâm trạng Tam Văn thì cứ nặng chình chịch như đeo chì, chú chẳng có bụng dạ nào để mà ngắm trăng hay vịnh cảnh cả. Trời vừa tối, vì sợ ma, chú vội vã tót thẳng lên giường đắp chăn đi ngủ sớm. Tuy nhiên, làm sao mà chú có thể ngủ cho được. Hai mắt chú mở to thao láo, tai thì vểnh lên như hai cái ăng-ten để bắt sóng và nghe ngóng động tĩnh. Thầy Thất Sách ngồi xem sách và hút thuốc lào vặt một lúc thì cũng tắt đèn, lên giường đi nghỉ. Tuy không ai bảo ai, nhưng cả hai đều cố ý lắng nghe xem có tiếng gõ cửa không, mọi việc có diễn ra đúng như lời người trưởng làng đã nói lúc chiều hay không. Thế nhưng, đến tận khuya mà vẫn chẳng thấy có gì cả. Chỉ nghe tiếng muỗi vo ve và tiếng Thạch Sùng đuổi nhau lách chách trên tường nhà. Cho đến khi, họ đã cảm thấy mệt lử và díu mắt vì buồn ngủ thì mọi việc mới lại bắt đầu. Chừng giữa đêm, họ nghe có tiếng gõ cửa gấp gáp của một ai đó. Hai thầy trò bấm bụng, nằm im thin thít đến nỗi không dám thở. Tam Văn cảm thấy một luồng điện rân rân chạy dọc khắp sống lưng, tim đập mạnh, trán dâm dấp mồ hôi. Chú kéo chăn trùm kín đầu, nhưng tai thì vẫn vểnh lên để lắng nghe mọi di biến động bên ngoài. “Tiếng gõ cửa đấy. Thầy ơi!” – Tam Văn thì thầm trong chăn. Thầy Thất Sách không đáp lại. Sự im lặng của thầy khiến cho Tam Văn cảm thấy càng sợ hãi hơn. Tưởng chừng mọi việc đã kết thúc, nhưng lúc sau lại có tiếng gõ cửa, lần này thì nhẹ nhàng và dè dặt hơn trước. Rồi sau đó không gian chìm vào im lặng, không có tiếng người, cũng không có tiếng bước chân đi.

- Hình như con ma đi rồi. Thầy ạ! – Tam Văn khẽ nói và đưa tay từ từ kéo tấm chăn trùm đầu ra.

Hai thầy trò nhổm dậy, lặng lẽ đưa mắt nhìn qua khe cửa sổ. Họ thấy có bóng một người con gái, từ chỗ gốc cây Đa cổ thụ đi qua khoảng đất rộng, đến chỗ ngôi miếu hoang thì đột nhiên biến mất.

Liền hai đêm, họ đều nghe tiếng gõ cửa và nhìn thấy như vậy cả.

o0o

Đến đêm thứ ba, trong giấc ngủ, thầy Thất Sách đã gặp phải một giấc mơ kỳ lạ. Đêm ấy, theo thói quen, thầy lại chong đèn ngồi đọc sách trước bàn. Đương khi mơ màng, chợt có một cơn gió nổi lên khiến cho những trang sách trên bàn bị lật giở tứ tung. Cánh cửa ra vào cũng tự động mở ra. Thầy Thất Sách kinh ngạc, nhìn lên. Từ phía cửa, một cô gái trẻ bước vào. Cô đứng ở ngưỡng cửa một lúc có vẻ do dự, rồi bắt đầu từ từ tiến đến chỗ thầy Thất Sách đang ngồi. Đó là một cô gái còn trẻ, dung mạo vô cùng xinh đẹp và diễm lệ.

Thấy cô gái cứ đứng nhìn mình ngập ngừng, thầy Thất Sách hỏi:

- Chẳng hay cô nương là ai?

Cô gái đáp:

- Tiện thiếp tên là Tuyết Lan. Trước đây cũng là người trong thôn này.

- Vậy bây giờ cô ở đâu? Đến gặp ta có chuyện gì?

Cô gái sụt sịt khóc:

- Sở dĩ tiện thiếp báo mộng cho ngài, là để mong ngài giúp cho một việc oan khuất!…

Thầy Thất Sách càng tỏ ra hồ đồ, không hiểu:

- Việc oan khuất ư? Vậy thì cô nương cứ hãy nói ra. Liệu xem tại hạ có thể giúp đỡ được gì chăng?

Tuyết Lan nỉ non kể:

- Hai năm trước đây, tiện thiếp đi xem phim về qua đây. Trời khuya, đường vắng, lại đi một mình. Lúc đến chỗ này, thiếp đã bị một bọn du côn từ nơi khác đến đây bắt cóc và làm nhục. Sau đó chúng đã nhẫn tâm giết chết thiếp, rồi chôn xác ngay dưới gốc Đa cổ thụ này. Từ đấy, tiện thiếp phải chịu sự cô đơn, và lạnh lẽo nơi chốn này. Linh hồn đói khát phải, tiện thiếp phải chọn ngôi miếu hoang để làm nơi trú ngụ…

Thầy Thất Sách nghe xong thì kinh hãi:

- Có chuyện như vậy ư? Thật là đáng thương! Vậy giờ đây cô nương có ý nguyện gì không?

Cô gái kéo vạt áo, lau nước mắt:

- Tiện thiếp chỉ muốn thi hài của mình được dời lên khu nghĩa địa ở trên đồi. Nơi mà ông bà, tổ tiên và bao người thân yêu khác của tiện thiếp đã yên nghỉ…

Thầy Thất Sách trầm ngâm, hỏi:

- Vì sao cô nương lại báo mộng cho ta? Mà không phải là người khác?

Cô gái đáp:

- Vì ngài là người chính trực, chí công vô tư. “Đức trọng quỷ thần kinh” vậy.

Thầy Thất Sách chắp tay, cảm động:

- Đa tạ cô nương! Nếu vậy, tại hạ nguyện sẽ làm hết sức mình để đền đáp sự tin tưởng ấy.

Cô gái cúi đầu, mừng rỡ:

- Đa tạ ân nhân!

Vừa khi ấy, có tiếng gà gáy sáng cất lên râm ran. Cô gái đột nhiên hốt hoảng, dáo dác nhìn quanh. Rồi trong chớp mắt, cô đã vụt biến mất không để lại dấu vết. 

Thầy Thất Sách cũng giật mình, choàng tỉnh. Thì ra đó là một giấc mộng. Thầy xoay mình, nhìn sang, thấy Tam Văn vẫn đang nằm ngáy ngon lành. Hồi khuya, vì sợ quá nên chú đã ngủ thiếp đi tự lúc nào.

Hôm sau, khi trời vừa tinh mơ, thầy Thất Sách ăn vận lịch sự rồi tìm đến nhà trưởng làng. Đó là một ngôi nhà nằm sâu trong thôn. Sân vườn rộng rãi, cây cối um tùm, xanh tốt. Thầy đi dọc theo con ngõ sâu hun hút có hai hàng dâm bụt được cắt xén ngay ngắn để đi vào trong sân.

Chủ nhà vừa mới ăn sáng xong, đang ngồi uống trà ở phòng khách. Nghe tiếng bước chân dẫm lên lá lạo xạo, ông ngoái đầu nhìn ra. Khi thấy Thầy Thất Sách đang xăm xăm đi vào, ông đã không dấu nổi ngạc nhiên:

- Ô!... Ông khách! Làm sao lại biết được nhà tôi thế này?...Hỏi thăm đường hả?...- Chủ nhà hỏi, giọng gần như reo lên.

- Vâng! Người ta chỉ cho tôi vào đây! – Thầy Thất Sách bước chân lên khỏi bậc thềm, đáp.

- Mời ông ngồi!...May quá! Ông đến sớm còn gặp. Tôi đang định đi lên xã có việc…

Thầy Thất Sách chống tay, lặng lẽ ngồi xuống ghế.

Căn nhà rộng rãi và bề thế, nhưng chỉ có hai vợ chồng trưởng làng ở đây. Vợ ông là một người phụ nữ thanh mảnh và có tính cách lặng lẽ. Bà bước ra chào khách, rồi lại ý tứ lui vào trong.

Chủ nhà là một người vui tính, rót nước mời khách xong thì hỏi han và kể lể đủ thứ chuyện. Hết kể chuyện nhà mình, ông ta lại kể đến những chuyện xẩy ra trong thôn, chuyện chủ trương, chính sách. Thầy Thất Sách đã bắt đầu cảm thấy sốt ruột. Thầy ngồi nghe, nhưng cứ nhấp nhổm, đầu óc để tận đâu đâu.

- Thế này!...Ông trưởng làng ạ! – Thầy quyết định ngắt lời chủ nhà - Tôi đến đây là để nói với ông một việc!...

- Ông có chuyện gì sao? – Chủ nhà nhấp một ngụm trà, hỏi.

- Vâng! Vâng!...Chính là cái chuyện mà ông đã từng nói với tôi ấy. Chuyện hồn ma ấy.

- Hồn ma? – Chủ nhà kinh ngạc nhắc lại - Thế ông có nghe tiếng gõ cửa không?...

- Có…có…Tôi cũng có nghe!...

Nét mặt người trưởng làng trở nên nghiêm trọng. Ông nói trong hơi thở gấp gáp:

- Chuyện xẩy ra thế nào nào? Ông hãy kể tôi nghe!...

Thầy Thất Sách ngồi thẳng người lên, hít một hơi thật sâu và bắt đầu cất tiếng. Thầy đem chuyện nghe tiếng gõ cửa, chuyện nhìn thấy hồn ma, rồi cả chuyện báo mộng thế nào kể lại hết một lượt.

Vị trưởng làng ngồi nghe mà miệng cứ há hốc ra vì kinh ngạc, nét mặt linh động của ông cứ liên tục thay đổi theo từng diễn biến câu chuyện. Trong lúc nghe kể, ông đã châm lửa hút liền ba điếu thuốc lào bởi vì hồi hộp và căng thẳng. Nghe xong, ông ngồi chống cằm, ánh mắt mơ màng, sâu thẳm. Ông chắp nối lại những sự kiện đã xẩy ra trong làng này kể từ trước tới nay. Những sự kiện ngẫu nhiên, những lời nói vô tình mà ông đã từng nghe, thừng thấy. Vậy là giờ đây ông đã tin. Đã có người mắt thấy, tai nghe kể lại cho ông tất cả. Hoá ra câu chuyện về hồn ma là hoàn toàn có thật chứ không chỉ là những lời đồn đại vô căn cứ nữa.

Người trưởng làng nghĩ đến chức phận của mình, bèn hỏi:

- Hượm đã!...Ông khách vừa nói cô gái kia tên là gì nhỉ?

Thầy Thất Sách nghĩ vài giây, rồi quả quyết:

- Tuyết Lan. Tôi nhớ rõ là Tuyết Lan!….

Chủ nhà nhíu mày, gật gù:

- Nếu vậy thì đúng rồi. Trong thôn tôi cũng có một cô gái tên Tuyết Lan mất tích cách đây đã hai năm. Lần ấy cô đi xem phim, trên đường về thì đột nhiên mất tích. Bố mẹ cô đã nhờ người tìm kiếm khắp nơi nhưng đều không thấy. Công an cũng đã vào cuộc, nhưng vì không tìm thấy manh mối nào cho nên sau đó vụ án cũng tạm khép lại. Gia đình cứ nghĩ là cô tuổi trẻ bồng bột, nhất thời bỏ nhà đi theo tiếng gọi của tình yêu rồi sau đó sẽ quay về. Thời gian trôi đi, họ cứ chờ đợi, hy vọng, và rồi câu chuyện cũng qua đi mà chẳng mấy người còn nhớ đến nữa. Nếu quả thực như ông nói, vậy là vụ án mất tích năm xưa giờ đây đã có lời giải rồi…

Thầy Thất Sách cả mừng:

- Vậy thì tốt rồi! Tôi đến đây gặp ông cũng là để nhằm xác minh cái sự thật ấy!...

Vị trưởng làng nghĩ đến chức phận của mình, bèn hỏi:

- Sự thể như thế. Vậy theo ông, chúng ta phải làm gì bây giờ?

Thầy Thất Sách vuốt râu, nói:

- Chuyện đó cũng chẳng khó gì. Trước hết, với tư cách là trưởng thôn, ông hãy báo án để bên công an họ khai quật hiện trường. Công việc pháp y, điều tra là của họ. Còn chúng ta thì sẽ lập đàn cúng tế để an ủi vong linh của người đã khuất.

o0o

Đầu giờ chiều hôm ấy, những người làm đồng nghe tiếng còi hụ thì ngẩng đầu lên và nhìn thấy một chiếc xe cảnh sát đang hộc tốc chạy thẳng vào làng Bích Câu. Chiếc xe chạy ngoằn ngoèo, dích dắc trên đường, cuốn theo phía sau những đám bụi mù như khói. Khi đến chỗ nhà văn hoá thôn, nó bất ngờ rẽ ngoặt, rồi đổi hướng chạy thẳng về phía cuối làng. Đích đến của nó là cây Đa cổ thụ cạnh ngôi miếu hoang của làng. Tại đây, đã có một đám đông hiếu kỳ đứng túm tụm, họ chen lấn, xô đẩy, họ bàn tán ồn ào như vỡ chợ. Ai cũng tò mò, cũng lo lắng, sợ hãi trước những thông tin rò rĩ và một sự thật kinh hoàng sắp được phơi bày, khai quật. Ở một góc khác, thầy Thất Sách và ông trưởng làng đang đứng cạnh nhau, vừa rì rầm trao đổi vừa chờ đợi đội điều tra xuất hiện với một thái độ bồn chồn lộ rõ. Kia rồi! Chiếc xe bắt đầu giảm tốc độ, chạy từ từ, rồi đỗ xịch ngay dưới gốc cây Đa cổ thụ. Cửa xe mở, từ trên xe bước xuống ba viên cảnh sát, cùng hai nhân viên pháp y mặc áo blu trắng, tay xách theo ca táp đựng dụng cụ. Viên cảnh sát trưởng dáng người tầm thước, da ngăm đen và có nét mặt hơi có vẻ nghiêm nghị. Anh ta đưa tay giữ chặt lấy vành mũ, chật vật len lỏi qua đám người đang đứng chen chúc vì tò mò để cố bước vượt lên phía trước.

Một viên cảnh sát trẻ đeo lon thiếu uý, đang đứng bên cạnh cửa xe, có vẻ như để nắm bắt tình hình. Mặt mày đỏ gay đỏ gắt, anh ta hướng ánh mắt về phía đám đông ồn ào, rồi nâng cái loa cầm tay lên ngang miệng, bắt đầu cất giọng oang oang:

- A lô!...A lô!... Cơ quan chức năng đang tiến hành thực thi nhiệm vụ! Đề nghị mọi người hãy lập tức rời khỏi hiện trường! A lô!...

Đám đông lập tức nghe lời, họ bảo nhau đứng tản ra, tuy nhiên những tiếng rì rầm, bàn tán thì cứ vẫn nổi lên không ngớt.

Bằng một thái độ cẩn trọng, lúc này người cảnh sát trưởng bắt đầu tìm hiểu và quan sát hiện trường một cách kỹ lưỡng. Anh đứng như chôn chân, đưa cặp mắt dài và linh động nhìn một lúc rất lâu lớp đất rắn và bạc phếch, lồi lõm như sống trâu quanh gốc cây cổ thụ. Sau một hồi suy tính, anh ta nheo mắt, gật đầu rồi sải những bước chân bước rất nhanh để tiến đến chỗ người trưởng làng.

- Cần phải tìm vài người đàn ông…khoẻ khoẻ một chút…để đào!....Ông hiểu ý tôi chứ? – Anh ta nhìn người trưởng làng, vừa vung tay ra dấu vừa nói.

Trưởng làng nghiêng tai lắng nghe, gật đầu lia lịa rồi lập tức quay người tất tả đi ngay. Chừng dăm phút sau, ông quay lại cùng hai người thanh niên lực lưỡng với cuốc, thuổng trên tay.

- Ai biết rõ vị trí? – Người cảnh sát lại cất tiếng, hỏi.

- Người này!...Ông ấy...- Trưởng làng chỉ tay về phía thầy Thất Sách.

Người cảnh sát nhìn thầy Thất Sách, hỏi:

- Ông chắc chắn ở vị trí này chứ?

Thầy Thất Sách nhíu mày, cố để nhớ lại giấc mơ đêm qua. Sau cùng, thầy cúi xuống, chỉ ngón tay vào cái rễ cây nổi lên khỏi mặt đất như một cái gờ, quả quyết:

- Đây! Ngay chỗ này!....Trong mơ tôi thấy như vậy!...

- Bắt đầu đào đi! – Viên cảnh sát ngoảnh lại, ra lệnh.

Những nhát quốc, thuổng bắt đầu thi nhau bổ xuống chan chát. Đất cứng, lưỡi cuốc nẩy lên như lò xo khi vừa chạm xuống. Mồ hôi hai người thanh niên bắt đầu chảy xuống, ròng ròng.

Đã gần mười phút trôi qua, nhưng vẫn chưa nhìn thấy gì ngoài những lớp đất rắn như đá thách thức sức mạnh cơ bắp và lòng kiên nhẫn của con người. Người ta lại bàn tán và bắt đầu tỏ ra nghi ngờ.

- Hay là không phải chỗ này!...

- Đào sai rồi cũng nên!...

- Tin gì vào một giấc mộng vu vơ kia chứ!....

Ông trưởng làng cũng bắt đầu tỏ ra hoang mang, lo lắng. Dưới áp lực của thực địa và dư luận, ông không thể dằn lòng mà kiên nhẫn thêm được nữa. Nét mặt đầy căng thẳng, ông hấp tấp kéo riêng thầy Thất Sách ra một góc, thì thầm:

- Ông khách nói thật đấy chứ? Đây là cái chuyện nghiêm túc. Động đến pháp luật và công sức của bao người. Không thể đùa được đâu!....

Thầy Thất Sách xoè hai bàn tay, phân trần:

- Rõ ràng là trong giấc mơ tôi đã thấy như vậy. Tôi tin là oan hồn không bao giờ báo mộng sai đâu! Mọi người cần phải chờ đợi thêm chút nữa…

Cuốc, thuổng lại tiếp tục bổ xuống, chan chát, chan chát. Mọi ánh mắt lúc này đều đổ dồn vào cái hố đất đã được đào bới nham nhở, sâu hoắm…

Hai phút, rồi năm phút nữa trôi qua, không khí như căng ra vì căng thẳng và chờ đợi.

- Đây rồi!....- Có tiếng của một người công nhân. Anh ta hốt hoảng kêu lên và vội vàng nhảy bổ sang một bên miệng hố.

Mọi người có mặt lập tức nhìn xuống cái hố. Dưới đó, những mảnh xương trăng trắng bắt đầu lộ ra sau lớp đất vừa được đào lên. Viên cảnh sát trưởng giơ cánh tay lên, nói lớn:

- Ngừng đào!

Tiếng đào bới cũng lập tức ngừng hẳn. Một vòng dây cảnh báo màu đỏ, vàng lập tức được người ta chăng quanh khu vực đào bới để bảo vệ hiện trường.

Cảnh sát trưởng cùng hai viên pháp y đeo găng tay cao su vào, ngồi xổm xuống hố và bắt đầu dùng tay để đào, bới một cách cẩn thận. Lớp vải mục lộ dần ra, rồi một cái đầu lâu, những đốt xương, tất cả tạo thành hình hài một bộ xương người co quắp như đang trong tư thế nằm ngủ.

Đám đông lại bắt đầu rộ lên, chỉ trỏ, bàn tán:

- Đúng là linh ứng thật!

- Một vụ án mạng chứ chẳng chơi!...

- Thảo nào mà oán hồn mãi không tan!...

Sau những lớp đất đen, mặc dù quần áo đã mục nát, nhưng vẫn còn sót lại một mảnh vải dệt màu xanh đỏ to bằng bàn tay. Người ta còn phát hiện ra một cái kẹp tóc bằng nhựa có hình con bướm, một chiếc vòng mã não màu xanh lá cây có khắc chữ “T.L” trên đó. Tất cả những thứ đó được cẩn thận để riêng sang một bên, trên một tấm ni lông trãi sẵn.

- Ối con ơi!... Sao con tôi chết thảm thế này? Sao con lại bỏ nhà cửa mà nằm ở một nơi hoang lạnh như thế này?... Con ơi!... - Bổng từ trong đám người, một tiếng thét xé lòng vang lên, khiến cho ai nấy đều phải rùng mình.

 

Một người phụ nữ tóc tai rũ rượi, đang cố vươn tay về phía cái hố mà gào, mà khóc. Bằng linh cảm của một người mẹ, bà đã nhận ra được ngay những kỷ vật của con mình mà người ta vừa mới đào từ dưới đất lên kia.

- Bà bình tĩnh đã nào? Đã lấy gì đảm bảo đâu. Chắc gì đó đã là con Lan nhà mình!? – Người chồng vừa giữ chặt lấy một bên tay vợ, vừa cố khuyên can, nhưng bản thân ông cũng đã nước mắt lưng tròng tự khi nào.

- Còn sai làm sao được. Con mình nó đã báo mộng cho người ta, nói rõ cả tên tuổi, nguồn cơn như thế rồi còn gì? – Người phụ nữ vẫn vừa mếu máo, vừa gào lên trong tuyệt vọng.

- Hãy lập tức đưa bà ấy rời khỏi đây ngay! – Người trưởng làng lập cập chạy lại, chỉ tay vào khổ chủ và nói.

Nhưng ngay cả khi đã được người ta dìu đi rồi, người đàn bà vẫn cố ngoái đầu lại, bước đi loạng choạng như người say rượu, bà gào lên trong nước mắt:

- Tuyết Lan ơi!...Con ơi!...

Tiếng kêu ám ảnh, bi thương, như xoáy sâu vào tim óc và lương tri của những người ở lại.

Hai ngày sau, người dân đã lập xong một cái đàn ở ngay dưới gốc cây Đa cổ thụ. Dưới sự chủ trì của người trưởng làng, thầy Thất Sách mặc áo lễ trang nghiêm, thân hành thắp hương cúng tế. Những người chứng kiến bấy giờ đều cảm động, ai cũng ứa nước mắt, sụt sùi than khóc. Sau đó, hài cốt của cô gái Tuyết Lan cũng được người ta cải táng lên khu nghĩa địa cao ráo của làng ở lưng chừng đồi.

Từ đấy về sau, Bích Câu thôn trở nên yên tĩnh. Bóng người con gái cũng không còn gõ cửa từng nhà và đi lang thang trong những đêm sáng trăng nữa.