Thứ Tư, 29 tháng 10, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XVIII)

 PHẦN IV: NAM CHINH

Thầy Thất Sách diện kiến Tuyết Sơn Cư Sĩ

Núi Phượng Hoàng gặp Bạch Hổ, Chằn Tinh

Khác với lần trước ra Bắc, lần này hai thầy trò Tam Văn lại xuôi tận vào Nam. Trên xe, họ đã không ngớt kể lể cho nhau nghe bao nổi đắng cay trong suốt thời gian bị giam cầm, quản chế, và tỏ ra vô cùng hỉ hả về chuyến vượt ngục thành công mỹ mãn của mình. Nhưng khi mà những dư âm và phong vị quê nhà đã dần lùi lại phía sau, họ cũng cần phải tính đến những bước đường phiêu lưu phía trước. Thầy Thất Sách ngồi đặt hai tay lên đùi, trầm ngâm một lúc, rồi nói:

- Ta nghe nói, trên đỉnh núi Phượng Hoàng có một cao nhân ẩn dật tên là “Tuyết Sơn Cư Sĩ”. Người này kiến thức cao thâm, lại có thể nhìn thấu quá khứ, biết trước tương lai. Trước khi tiếp tục hành trình, ta muốn lên núi để tìm gặp và xin ý kiến của người về chuyến xuất chinh lần này xem sao!

- Núi Phượng Hoàng ở đâu hả thầy? – Tam Văn tò mò, hỏi.

- Cách đây khoảng mấy chục cây số nữa. Đến đó ta sẽ xuống xe và hỏi đường sau.

Chừng nửa tiếng đồng hồ sau thì đến nơi. Hai thầy trò xuống xe giữa một vùng đồng không, mông quạnh. Nhìn suốt con đường, chẳng có lấy một ngôi nhà hay bóng người nào cả, trước mặt, chỉ nhìn thấy những hàng cây xà cừ cổ thụ chạy dài đến ngút tầm mắt.

Thầy Thất Sách đang lo lắng không có người để hỏi đường thì chợt Tam Văn đưa tay chỉ:

- Có người kìa thầy!

Từ đằng xa, có một nông phu đang vác quốc đi lại. Đợi cho người kia tới gần, thầy Thất Sách chắp tay, nói:

- Phiền ông cho hỏi, đường lên núi Phượng Hoàng đi lối nào?

Người nông phu nhìn hai thầy trò có ý đoán định, rồi trỏ tay, nói:

- Ngọn núi cao, quanh năm mây phủ kia chính là núi Phượng Hoàng đó. Nhìn gần thế thôi, nhưng đi cũng phải mất ba, bốn cây số nữa mới tới nơi. Mà đường lên núi cũng gian nan lắm!

Thầy Thất Sách nói:

- Không hề chi! Đã gọi là tầm sư học đạo thì đâu dám quản đường đi khó!

Họ chào người nông phu, rồi cùng men theo một lối mòn quanh co để đi về hướng núi Phượng Hoàng. Con đường xuyên qua cánh đồng và những bãi đất trống, hai bên mọc đầy những cây trinh nữ, cây cúc áo và xuyến chi xanh tốt. Màu tím của hoa trinh nữ, xen lẫn với sắc trắng, đỏ của hoa cúc áo, xuyến chi, khiến cho cảnh tượng thiên nhiên thêm phần tươi thắm. Đường xuân nhẹ bước, tâm hồn phơi phới, thênh thênh.

Thực là:

Xuân đến, xuân đi vốn lẽ thường

Đời người phiêu dạt chốn phong sương

Hoa nở bên đường khoe sắc thắm

Chút tình non nước, mãi còn vương

Đúng như người nông phu đã nói, phải đi chừng mấy cây số nữa thì họ mới đến được chân núi Phượng Hoàng. Đứng dưới nhìn lên, chỉ thấy đỉnh cao chót vót, hun hút như đường lên trời. Mây mù che khuất, đùn lên như khói toả, đến nổi chẳng thể nhìn thấy được đường đi. Mất một lúc tìm kiếm, sau cùng họ cũng tìm được một lối mòn và bắt đầu đi lên. Càng lên cao, cây cối càng rậm rì, xanh tốt, gió thổi vi vút như chuông, cảm giác đến lạnh người.

Lên khỏi chân núi được một đoạn, họ bắt gặp một tiểu đồng đang hái nấm bên đường. Chú bé nhổ từng cây nấm, bỏ vào một cái giỏ tre, rồi bắt đầu cất tiếng hát véo von. Giai điệu bay bổng, dìu dặt, lời bài hát lại rất thanh nhã, họ chưa từng được nghe thấy bao giờ cả.

Thầy Thất Sách quay sang, bắt tay làm loa, rồi hỏi vọng xuống:

- Này tiểu đồng! Chỗ ở của Tuyết Sơn cư sĩ ở đâu vậy?

Tiểu đồng ngửa mặt, chỉ tay lên cao:

- Núi này chỉ có mỗi đường mòn đi lên. Ông cứ đi theo lối ấy. Lên đến đỉnh núi là sẽ nhìn thấy am của Tuyết Sơn cư sĩ ở đó!

- Đa tạ tiểu đồng!

- Nhị vị bình an!

Tạm biệt tiểu đồng, hai thầy trò lại nhắm hướng đỉnh núi leo lên. Trên đường đi, họ nhìn thấy những cây dây leo, những bụi phong lan bám vào vách đá treo lủng lẳng, nở hoa sặc sỡ. Cảnh tượng thật là tươi đẹp và hùng vĩ. Bởi vậy, họ vừa đi vừa mải mê ngắm nhìn đến nỗi quên hết cả gian nan, mệt nhọc.

Đến lưng chừng núi, vừa qua một khúc quanh, bất chợt họ nghe thấy một tiếng gầm dữ dội vang lên, âm thanh dội vào cành cây, vách đá rất chi là rùng rợn. Còn chưa kịp hiểu chuyện gì, thì từ trong bụi rậm, một con hổ trắng lao ra chặn đường. Nó nghênh nghênh cái đầu, nhe nanh, giơ vuốt như chực ăn tươi, nuốt sống hai thầy trò vậy. Tam Văn co rúm cả người lại, mắt mở to, miệng há hốc. Chú đảo mắt nhìn quanh, những muốn tìm đường tẩu thoát, nhưng không hiểu sao cứ đứng chôn chân tại chỗ mà chẳng tài nào nhúc nhích nổi. Bình sinh, chú chưa từng gặp hổ bao giờ, huống chi lại ở nơi thâm sơn cùng cốc u tịch thế này. Vì vậy mà chú sợ đến nỗi đờ cả người ra, thần hồn nát thần tính vậy.

Sau phút bất ngờ, thầy Thất Sách định thần, rồi lấy hết dũng khí múa trường côn xông lên. Nhưng kỳ lạ thay, con hổ trắng đã không kháng cự, nhằm khi thầy Thất Sách vừa lao tới là nó liền nhảy vụt vào bụi rậm gần đó và biến mất.

Trạng thái tâm lý lúc này của Tam Văn cứ gọi là xoay như chong chóng. Từ sợ hãi, chú chuyển sang kinh ngạc, rồi tung hô, mừng rỡ. Chú chạy đến bên thầy, hoa chân múa tay như nhảy múa, rồi lại mở to mắt để nhìn kỹ xem thầy mình còn đó thật không hay là đã bị con hổ kia tha đi mất rồi. Cũng từ lúc ấy, Tam Văn cứ theo sát chân thầy mà không rời nửa bước. Chú sợ rằng, bất chợt, nhỡ con hổ lại từ đâu lao ra rồi vồ lấy chú mà tha vào rừng thì thật là khốn. Nhưng càng sợ hãi bao nhiêu, chú lại càng khâm phục chủ mình bấy nhiêu. Vừa tấp tểnh bước đi, chú vừa luôn miệng tấm tắc:

- Một con Bạch Hổ to lớn và dữ tợn thế kia, vậy mà thầy vừa mới múa côn xông tới là nó đã sợ hãi mà bỏ chạy mất tăm. Uy vũ và thần lực của thầy thật chẳng khác nào Võ Tòng Hành Giả đánh hổ trên đồi Cảnh Dương khi xưa vậy!

Thầy Thất Sách phổng mũi, đáp:

- Nhà ngươi cũng biết đến tích này chăng?

Tam Văn nói:

- Hồi còn ở “Đạo Nhân Thi Quán”, chẳng phải là thầy đã từng kể cho con nghe rồi hay sao?!

- Ờ!... Phải! – Thầy Thất Sách nhớ ra, gật gù.

Càng lên cao, sương càng dày đặc, mờ mịt, gần như không còn nhìn thấy lối đi nữa. Hai thầy trò phải căng mắt ra để dò dẫm từng bước một, đường đi hết sức gian nan. Vách đá lại trơn trượt, hễ vịn vào là tuột ra, dễ mà ngã dúi ngã dụi như chơi. Tưởng rằng khó khăn, thử thách đến thế là cùng, nhưng chưa. Vừa khi ấy, lại nghe có tiếng phun phì phì như thổi bễ, rồi một con trăn hoa mắt đỏ đòng đọc bổng từ đâu lao ra chắn ngang đường. Con trăn (còn gọi là chằn tinh) to như cột nhà, khắp mình vằn đốm, hai hàm răng nhọn hoắt như hai bàn cào sắt nhe ra dữ tợn. Ôi thôi! Vừa mới thoát khỏi nạn Bạch Hổ, nay lại đến hoạ Chằn Tinh vậy.

Tam Văn lại được thêm một phen hồn vía lên mây nữa. Nhưng thầy Thất Sách thì vẫn không hề nao núng chút nào, thầy lại vung quyền, múa gậy xông tới. Kỳ lạ thay, khi thầy Thất Sách vừa tới gần, con chằn tinh kia cũng lại lao vào bụi rậm mà biến mất.

Thấy thầy mình đã đánh đuổi được Chằn Tinh, Tam Văn nhảy cẫng lên vì vui sướng. Chú vỗ tay bồm bộp, nói như reo:

- Hoan hô thầy! Sức mạnh của thầy thật chẳng khác nào chàng Thạch Sanh đánh Chằn Tinh khi xưa cả!

Thầy Thất Sách vuốt râu:

- Ngươi nói thế cũng phải. Nhưng ngươi không có ý nịnh ta đấy chứ?

- Chiến công của thầy là có thật, có con chứng kiến, chứ có phải bịa ra đâu mà bảo nịnh với bợ – Tam Văn quả quyết đáp.

Thầy Thất Sách nói:

- Có vẻ như nhà ngươi ngày càng khá hơn rồi đấy. Đối đáp và trích dẫn điển tích đâu ra đấy cả.

- Học trò của thầy mà lị. Gần đèn thì phải sáng chứ! – Đến lượt Tam Văn phổng mũi.

- Tuy nhiên, ta lại thích được so sánh với sự tích chém rắn khởi nghĩa của Hán cao tổ khi xưa hơn – Thầy Thất Sách nói - Cuối thời nhà Tần, tại núi Mang Đãng, Lưu Bang (tức là Hán cao tổ) đã vung ba thước gươm, chém rắn, đuổi hươu để phất cờ khởi nghĩa. Nay ta cũng đánh Bạch Hổ, đuổi Chằn Tinh để lên núi tầm sư học đạo vậy!

Cứ thế, hai thầy trò vừa đi vừa mãi nói chuyện về hai chiến công hiển hách vừa rồi mà quên hết cả khó khăn, mệt nhọc. Đường đi cũng vì thế mà như được rút ngắn lại, chẳng mấy chốc đã lên đến đỉnh núi Phường Hoàng.

Lúc này, trãi ra trước mắt họ cơ man nào là những gốc tùng cổ thụ. Thân cây cao vút, mây trắng vờn quanh, cành lá bồng bềnh, lâng lâng thanh khí. Thấp thoáng dưới bóng Tùng, một căn nhà gỗ nằm chênh vênh, mái nhẹ và cong vút lên, nom rất thanh nhã. Trước thềm, có trồng rất nhiều giống hoa thơm, cỏ lạ. Mái liếp che nghiêng, thềm hoa rủ bóng. Thực là chốn phật, cảnh tiên để dành cho cao nhân ẩn dật và lánh xa tục luỵ vậy.

Từ trong nhà, có một chú tiểu đồng đang thong thả đi ra. Nhìn kĩ thì đúng là chú tiểu đồng mà hai thầy trò họ đã bắt gặp ở dưới chân núi lúc nãy. Họ còn chưa hết kinh ngạc thì tiểu đồng đã cất tiếng:

- Ngài đây có phải là hiệp sĩ Thất Sách chăng?

Hai thầy trò lại được một phen kinh ngạc nữa. Chẳng hiểu vì sao mà tiểu đồng lại có thể biết được tên thầy Thất Sách? Trong khi họ chưa từng nhắc đến, cũng như chưa hề giới thiệu với chú ta bao giờ cả. Thật là vi diệu, thật là thần thông quảng đại vậy.

Như đoán được suy nghĩ của họ, tiểu đồng nói tiếp:

- Sư phụ tôi nói, hôm nay có hiệp sĩ Thất Sách từ “Đạo nhân thi quán” tới thăm. Vậy nên dặn tôi ra đây để đón tiếp.

- Sư phụ của chú là ai? – Thầy Thất Sách hỏi.

- Là Tuyết Sơn Cư Sĩ!

- Vậy thì đúng rồi! – Thầy Thất Sách cả mừng - Phiền tiểu đồng dẫn chúng tôi vào ra mắt sư phụ chú được không?

- Xin mời nhị vị tráng sĩ! – Tiểu đồng khoát tay, nói.

Hai thầy trò dắt díu nhau, theo chân tiểu đồng đi vào trong am. Bên trong được bài trí ngăn nắp, đơn sơ và thanh tịnh. Phía trên điện, có một người đang ngồi thiền trên một tấm nệm tròn được đan bằng rơm, hai mắt nhắm nghiền, vẻ mặt thư thái, vô vi. Người ấy mặc một bộ đồ trắng muốt, mình thông cốt hạc, râu tóc bạc phơ, mày thanh, mắt sáng, da dẻ hồng hào như một tiên nhân. Đó chính là Tuyết Sơn Cư Sĩ vậy.

Tiểu đồng mời hai thầy trò Tam Văn ngồi, rồi đến bên cư sĩ, vòng tay:

- Bẩm thầy! Có hiệp sĩ Thất Sách xin được diện kiến!

Đạo sĩ từ từ mở mắt ra, thở nhẹ, dồn khí xuống đan điền, rồi nói:

- Nhị vị thí chủ lặn lội đường xa tới đây. Xin hãy cho biết sở nguyện?

Thầy Thất Sách chắp tay, thưa:

- Chẳng dấu gì đạo sĩ. Từ lâu đã nghe danh ngài là người thông kim bác cổ, thấu triệt lẽ đời. Bởi vậy mà tại hạ chẳng quản đường xa tới đây, xin được có đôi lời muốn hỏi!

- Nhị vị cứ hỏi!

- Thưa cư sĩ! Ngày nay, chánh đạo ngả nghiêng, nhân tâm li tán. Tại hạ những muốn dốc hết tâm sức để sửa sang giường mối, nâng đỡ càn khôn. Nhưng ngặt nổi tài sơ, trí thiểu, sức lực lại có hạn. Nay tại hạ đến đây, cúi xin tiên sinh rủ lòng thương mà chỉ dẫn đường đi, nước bước cho!

Cư sĩ vuốt râu cười lớn, rồi cất giọng vang vang:

- Khá khen cho hiệp sĩ Thất Sách! Nhà ngươi một lòng, một dạ vì đại nghĩa, những mong cứu giúp cho đời. Cái tâm trong sáng đó thật đáng để cho người đời ngưỡng mộ. Những việc làm của ngươi cũng vì xuất phát từ tình yêu thương đồng loại, chẳng có gì đáng để chê trách cả. Ta chỉ muốn khuyên nhà ngươi một điều, ấy là mọi việc hãy để tuỳ biến, tuỳ duyên. Chỉ cần tiến thoái cho hợp lẽ là được!…

Thầy Thất Sách lạy tạ, nói:

- Được nghe những lời cao luận của tiên sinh, tại hạ như được vén mây mù mà nhìn thấy ánh mặt trời vậy. Cúi xin người hãy chỉ bảo tường tận hơn!…

Cư sĩ vuốt râu, nói:

- Ở đời, mỗi người theo đuổi một chí hướng. Ai cũng có giấc mơ riêng của mình cả. Vì vậy mà chẳng thể cưỡng cầu. Điều cốt yếu là cái tâm phải trong sáng, thiện lương. Tâm tốt thì làm việc gì cũng tốt. Đạo nào thì cũng phải lấy cái tâm làm gốc cả.

Thầy Thất Sách rập đầu, nói:

- Tại hạ cũng biết thế sự khôn lường, nghiệp duyên vô định. Từ lâu đã muốn gác bỏ sự đời, tìm nơi quy ẩn, mặc cho năm tháng dần trôi. Nhưng ngặt nỗi, nghiệp trần chưa dứt, lại không nỡ nhìn con đỏ xoay vần trong  bể khổ, vì vậy mà còn muốn đem chút hơi tàn để giúp sức cho đời. Những mong có ngày mây mù dần tan, ánh mặt trời ló rạng, thiên hạ lại được thái bình. Khi ấy, tại hạ lại bắt chước Trương Tử Phòng khi xưa, xin được theo tiên sinh lên núi quy ẩn, nhất quyết không còn màng gì đến thế sự nữa!

- Thí chủ nói cũng phải. Muôn sự phải tuỳ duyên. Thí chủ còn muốn hỏi gì nữa không?

Thầy Thất Sách ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi:

- Tại hạ muốn được tiên nhân cho biết: Chuyến xuất chinh lần này của tại hạ liệu có thành tựu hay không?

Cư sĩ Tuyết Sơn nói:

- Sự đời vô cùng, sóng sau xô sóng trước, vô thuỷ vô chung. Vì vậy mà nói thành tựu hay không thì e là hơi khiên cưỡng. Ta tặng ngươi ba câu này, hãy dụng tâm mà suy nghĩ thì mới được: “Hai năm trời lưu lạc. Gặp Lợn thì vinh. Gặp Muỗi thì hết”.

- Xin người hãy giảng rõ nghĩa hơn! – Thầy Thất Sách nói.

Cư sĩ xua tay, đáp:

- Số trời mờ mịt, đến lúc ứng nghiệm thì sẽ biết!

Thầy Thất Sách lại toan hỏi nữa, nhưng cư sĩ đã nhắm mắt, nói:

- Đã đến giờ ta phải tịnh cốc tu luyện rồi. Tiểu đồng. Tiễn khách!

Hai thầy trò cúi đầu, bái biệt cư sĩ rồi lui ra. Lúc xuống núi, quả không còn thấy Bạch Hổ hay Chằn Tinh nào chặn đường quấy nhiễu nữa. Lúc leo lên muôn vàn gian nan, khi xuống lại mau chóng và thuận lợi như được ai đó chắp cho một đôi cánh thần tiên vậy. Bấy giờ thầy Thất Sách mới biết, cả bạch hổ và chằn tinh kia đều là do cư sĩ biến hoá thành để thử lòng dũng cảm cũng như quyết tâm của hai thầy trò họ đấy thôi.

Khi xuống đến chân núi, họ đã lại thấy tiểu đồng đang đứng hái nấm ở đó. Tiểu đồng nhìn sang, rồi vẫy tay chào họ như thể đã quen biết từ lâu rồi vậy.

- Quái lạ! – Tam Văn kinh ngạc - Vừa rồi mới thấy tiểu đồng trên kia, sao giờ này lại có một tiểu đồng ở đây nữa? Phải chăng có lối tắt nào khác ở trong núi? Hay là chú ta có phép màu biến hoá, phân thân?

Thầy Thất Sách vừa cúi đầu bước đi, vừa chau mày, suy nghĩ. Đúng vậy, với một con người thông tuệ và đã từng đọc nhiều tiểu thuyết kiếm hiệp cũng như sách thần tiên như thầy mà còn chẳng tài nào vắt óc nghĩ ra nỗi, huống chi là Tam Văn.