Đường vào bản, ra tay giải cứu cô dâu
Về cực bắc, thu giang sơn vào trong tầm
mắt.
Kể từ khi được tôn làm “Minh chủ võ lâm”, thầy Thất Sách lấy làm
đắc ý trong lòng lắm. Mà ngẫm cho cùng, thầy đắc ý cũng phải. Vì cái danh xưng ấy
đã xác nhận rằng, thầy là một hiệp sĩ vĩ đại và xuất sắc nhất trong số các hiệp
sĩ trên đời. Dĩ nhiên rồi, không dưng mà tự nhiên người ta lại có thể mang cái
vinh dự ấy đến cho thầy được hay sao. Trước hết là vì thầy đã từng lập được nhiều
chiến công hiển hách, xứng tầm với một hiệp sĩ trứ danh. Kế đến là thầy đã nêu
cao được cái tinh thần hiệp nghĩa, làm cho đạo sáng rõ như ánh mặt trời, khiến
hào kiệt bốn phương có thể trông vào mà ngưỡng vọng. Cũng vì thế mà thầy nguyện
sẽ không ngừng rèn đức, luyện tài và ngày càng lập thêm nhiều chiến công hiển
hách hơn nữa để xứng đáng với ngôi vị chí tôn ấy vậy.
- Điều khiến ta cảm thấy hạnh phúc nhất là sau mỗi chuyến phiêu
lưu lại để lại phía sau những số phận được cứu rỗi, những lẽ công bằng được xác
lập. Với thanh trường côn thần thánh trong tay, ta đã xoá bỏ những bất đồng, đập
tan mọi định kiến. Để người người được sống trong hoà bình, yêu thương và thấu
hiểu. Đó chính là sứ mệnh cao cả, và cũng là những chiến công hiển hách nhất mà
chúng ta đã từng thiết lập! – Thầy Thất Sách nói.
Sau khi rời khỏi cánh đồng Lợn Lòi, cứ thế, hai thầy trò ngày đi
đêm nghỉ. Đói thì ăn ở quán ven đường, tối đến, lại tìm vào nhà trọ để nghỉ
ngơi. Những nơi không có nhà trọ, họ ghé vào nhà dân để xin ngủ nhờ. Thi thoảng
lại bắt gặp những chủ nhà tốt bụng, không chỉ cho họ ở nhờ mà còn tiếp đón và
khoản đãi tử tế nữa. Tam Văn đặc biệt thích những bữa ăn miễn phí như thế này.
Vì nó vừa ngon, vừa thịnh soạn, chứ không giống như những món ăn đạm bạc theo
khẩu phần của hai thầy trò chú. Quan trọng hơn nữa, được khoản đãi, cũng đồng
nghĩa với việc tiền ăn hôm ấy sẽ dư ra, vậy là thầy trò chú được lãi chứ còn ai
vào đây nữa. Đường phiêu lưu, tháng rộng, ngày dài, còn có nhiều thứ phải chi dụng
mà. Tiết kiệm được từng nào hay từng ấy. Cứ thế, họ sống mà chẳng cần phụ thuộc
vào ai cả. Đi đâu, làm gì là do mình chọn, mình tự quyết định. Khoẻ thì đi, mệt
thì nghỉ, đói lúc nào ăn lúc ấy. Thực là một cuộc sống thần tiên và tự do tự tại
vậy.
- Này Tam Văn! Đôi lúc ta cứ nghĩ, ngay đến cả các môn đệ của
Tiêu Dao Phái (Một môn phái trong tiểu thuyết kiếm hiệp của nhà văn Kim Dung),
cũng chỉ có được một cuộc sống thoải mái như hai thầy trò ta là cùng vậy! - Thầy
Thất Sách hãnh diện, nói.
Với đôi chân bền bỉ, họ đã đi qua biết bao là vùng đất và miền
quê xinh đẹp. Từ núi non, làng mạc, rồi thành phố, đồng bằng. Đôi khi là cả những
bản làng heo hút nằm cheo leo trên đỉnh núi cao hùng vĩ nữa.
Bấy giờ đang độ tháng chạp, hoa mận, hoa mơ nở trắng rừng. Hai
thầy trò Tam Văn đi giữa rừng hoa. Hoa bên phải, hoa bên trái, đằng trước, đằng
sau, chỗ nào cũng có hoa cả. Những bông hoa nở trắng muốt và lấm tấm như sao,
như được một bàn tay thần kỳ nào đó thêu dệt trên một khung nền màu xanh bạt
ngàn của núi rừng bất tận. Khung cảnh thật xinh đẹp, tựa như bồng lai tiên cảnh
vậy. Ở vùng này, hầu như nhà nào cũng có một vài cây mơ, cây mận trước hiên
nhà. Tết đến, xuân về, hoa nở trắng rừng, trắng nhà, chẳng còn phân biệt được
đâu là ranh giới giữa bản làng với thiên nhiên nữa.
Trong một không gian đẹp và lãng mạn như thế, dĩ nhiên là con
người thi sĩ của thầy Thất Sách lại trỗi dậy. Vai khoác áo Ba Đờ Xuy màu cứt ngựa,
tay chống gậy gỗ Lê, vừa đi miệng thầy vừa lẩm nhẩm để tìm gặp tứ thơ. Thế rồi
tức cảnh sinh tình, thầy Thất Sách cao hứng làm được một lúc ba bài thơ tứ tuyệt,
mà bài nào cũng hay, cũng đáo để cả. Rồi để cho khỏi quên, thầy đã cẩn thận ghi
chép những bài thơ ấy vào cuốn sổ mang theo để còn lưu lại cho hậu thế mai sau.
Đường đi chênh vênh, lúc này trước mắt họ hiện ra một bản làng nằm
heo hút trên sườn núi. Những ngôi nhà sàn kề nhau, mái úp như mai rùa và thấp
thoáng sau những ruộng nương xanh thẫm. Con đường vào bản nhỏ và hẹp, một bên
là vách núi dựng đứng lên tận đỉnh trời, bên kia là vực sâu thăm thẳm. Với con
mắt dụng binh của một người đã thuộc làu binh pháp Tôn Tử xưa nay, thầy Thất
Sách cho rằng, chỗ này rất hợp để dùng mai phục. Địa hình ở đây rất hiểm trở, dễ
thủ khó công, chỉ cần cho một đạo quân nhỏ án ngữ, thì dù có thiên binh vạn mã
cũng chẳng tài nào có thể vượt qua được.
Trong lúc thầy Thất Sách vừa đi vừa suy tưởng và nghiền ngẫm
binh pháp thì chợt nghe có tiếng la hét, tiếng huỳnh huỵch như bắt trộm vọng tới.
Trông ra thì thấy đằng trước có một toán người đang hò nhau lôi kéo như đang kéo
co. Đám ấy chừng hơn chục người, mặt mày ai nấy đều đỏ gay đỏ gắt như say rượu.
Nhìn kỹ, thì ra họ đang túm lấy một người con gái xinh đẹp mà lôi đi xềnh xệch,
nom rất thảm hại. Cô gái váy xống xộc xệch, hốt hoảng cố cưỡng lại, nước mắt
lăn dài trên khuôn mặt trắng trẻo và ngây thơ. Điều kì lạ là cô lại mặc một chiếc
váy xoè sặc sỡ như đuôi công, đầu đội khăn thêu hoa văn, nom chẳng khác nào một
cô dâu đang sắp về nhà chồng cả.
Thấy những kẻ kia ỷ mạnh hiếp yếu, thầy Thất Sách không thể kìm được
nỗi bất bình. Đợi cho đám người kia tới gần, thầy lập tức vác trường côn xông
ra chặn đường, quát lớn:
- Bớ quân cường đạo! Giữa ban ngày ban mặt mà dám ra tay bắt cóc
con gái nhà lành hay sao? “Quốc có quốc pháp, gia có gia quy”. Các ngươi coi
thường pháp luật quá đấy. Hãy mau thả người con gái ấy ra! Nếu không thì hãy
chuẩn bị mà đón nhận những đòn sấm sét từ thanh trường côn thần thánh của ta
đây!
Đám người khựng lại, ngơ ngác nhìn nhau. Một thanh niên mắt đỏ
ngầu, loạng choạng chỉ tay về phía thầy Thất Sách, cất giọng lè nhè:
- Ông già kia! Người ta bắt vợ thì can gì tới ông hả? Định làm Kỳ
Đà cản mũi chăng? Mau tránh sang một bên, kẻo lại làm hỏng giờ hôn sự của chúng
tôi bây giờ!
- Ta đây không tránh! Yêu cầu các ngươi phải thả ngay cô gái vô
tội kia ra?
Thấy thầy Thất Sách ngang ngạnh, đám người kia nóng mắt, lại
đang hơi men phừng phừng, họ chỉ muốn lao vào đánh nhau với thầy ngay tắp lự.
Nhưng vì đối phương có gậy, vài người trong đám thanh niên cũng nhanh trí bẻ những
cành cây gần đó để làm vũ khí. Thế rồi, kẻ tay không, người gậy gộc, cả mười mấy
người cùng lúc lao vào tấn công thầy Thất Sách tới tấp. Ít khó địch nhiều, lại
phải đối mặt với toàn thanh niên trai tráng, thầy Thất Sách chật vật chống đỡ,
một lúc sau thì đường côn đã có phần rối loạn. “Nghé tơ thì không sợ hổ”, những
thanh niên kia đang tuổi tráng niên, ngạo khí ngất trời, đâu có ngán gì thầy Thất
Sách, cho dù thầy có đang là đương kim minh chủ võ lâm đi chăng nữa.
Nghe tiếng gậy đập chan chát, tiếng đấm đá huỳnh huỵch, cô gái
ôm mặt sợ hãi, toàn thân run lên như cầy sấy. Tam Văn cũng vậy, chú cuống hết cả
lên, hai chân cứ dẫm lạch bạch liên hồi xuống đất như đang đứng trên một ổ kiến
lửa. Tình huống khốc liệt thế này, quả thực là chú cũng chưa biết nên xử trí ra
làm sao. Mặc dù thầy đang gặp nguy hiểm thật đấy, nhưng đám thanh niên kia thì
lại đang say rượu và hung dữ quá, cho nên chú cũng thấy sợ. Tiến thoái lưỡng
nan, lúc này Tam Văn chỉ còn biết nhắm mắt lại mà cầu trời khấn phật phù hộ để
cho thầy chú mau tai qua nạn khỏi.
Ở chỗ bìa rừng, từ nãy đến giờ vẫn
có một người đàn ông đứng yên để quan sát trận chiến. Anh ta mặc một bộ đồ kiểu
truyền thống, áo xẻ ngực, cổ tròn đứng, quần màu đen và có thắt dây lưng. Lúc
này người kia đã nhận ra có sự khác lạ. Hình như trong chuyện này có gì đó
không bình thường. Bởi vậy mà giữa lúc hai bên đang đánh nhau hăng, anh ta bèn
giơ tay, nói:
- Khoan đã! Tất cả hãy dừng tay!... Xin cho hỏi, vị hảo hán kia
là ai?
Đám người kia nghe vậy thì lập tức dừng tay lại. Thầy Thất Sách
cũng thu ngọn côn, đáp:
- Ta chính là hiệp sĩ Thất Sách. Người từng được đích thân vua
Hùng báo mộng. Hiện là đương kim minh chủ võ lâm.
Người ấy nghe xong thì gật gù, tự nhủ “Nếu vậy thì đúng rồi!”. Rồi
anh ta đi đến bên đám thanh niên kia, ghé tai nói nhỏ mấy câu gì đó. Đám người
từ chỗ tức giận, lúc này lập tức chuyển sang vui vẻ, nét mặt ai nấy đều tươi tỉnh
như chưa hề có chuyện gì xẩy ra vậy.
Kế đó, người đàn ông lại tiến đến trước mặt thầy Thất Sách, vòng
tay, lễ phép:
- Thưa hiệp sĩ vĩ đại! Các đồ đệ của tôi có mắt mà không nhìn thấy
núi thái sơn, bởi vậy mà đã trót mạo phạm tới ngài. Giờ đây, tôi xin thay mặt họ
để tạ lỗi với hiệp sĩ. Để chuộc lỗi, chúng tôi xin thả cô nương kia về với gia
đình ngay lập tức, và hứa là từ nay sẽ không bao giờ dám ức hiếp đàn bà, con
gái nhà lành nữa!
Thầy Thất Sách nghiêm sắc mặt, nói:
- Để không nuốt lời, các ngươi phải hứa trước mặt người con gái
này!
Người kia đưa tay vẫy đám thanh niên lại. Tất cả đều đồng thanh:
- Chúng tôi xin hứa!
Sau đó họ ra lệnh cho hai người đang canh giữ phải thả người con
gái ra. Cô gái ngơ ngác, bối rối đưa tay vuốt tóc, mãi mà vẫn chẳng hiểu chuyện
gì đang xẩy ra. Một thanh niên nháy mắt với cô:
- Cứ làm theo ý ông ta đi!
Lúc này thì cô gái đã hiểu ra sự tình. Rồi để cho hợp cảnh, cô vờ
lê bước thất thểu đến trước mặt thầy Thất Sách, nói:
- Xin đa tạ hiệp sĩ đã ra tay hào hiệp! Kiếp này thiếp thật chẳng
biết lấy gì để đền ơn?
Thầy Thất Sách cũng vòng tay, khiêm nhường:
- Không có gì! Cứu giúp người vốn là bổn phận và cũng là sứ mệnh
cao cả của ngành hiệp sĩ chúng tôi.
Cô gái nước mắt vắn dài, bái biệt hiệp sĩ rồi quay lưng bước đi.
Đám người bắt cóc tiếc nuối nhìn theo cho đến khi làn eo thon của cô khuất hẳn
sau những tán cây lùm xùm hai bên đường. Nhưng vì thầy Thất Sách vẫn chống gậy
gườm gườm đứng đó, cho nên chẳng có kẻ nào dám đuổi theo hay manh động gì cả.
Nhưng khi hai thầy trò Tam Văn vừa đi khỏi, họ lại tiếp tục diễn
lại cái trò bắt cóc như cũ. Đám đông lại lôi kéo, la hét, cô gái vẫn giãy dụa,
nước mắt vòng quanh. Tuy bị thầy Thất Sách làm gián đoạn một lúc, nhưng cuối
cùng màn cướp vợ vẫn diễn ra thuận lợi. Cô dâu được đưa về nhà chồng, và sau đó
họ sống với nhau hạnh phúc.
Nguyên đó là một phong tục lâu đời của người dân nơi đây, gọi là
“Tục bắt vợ”. Màn cướp dâu là do hai bên trai gái dàn cảnh, là tự nguyện chứ
không có ép buộc gì ở đây cả. Họ làm vậy, mục đích là để tuân theo quy ước tổ
tiên, để cuộc hôn nhân được hợp thức hoá theo luật tục. Trong thâm tâm, thầy Thất
Sách cứ nghĩ mình đã giải cứu được cô dâu, kỳ thực là thầy đã phá hỏng buổi lễ
trọng đại của người ta rồi vậy. Nhưng đó cũng là một kỷ niệm vui và đáng nhớ
trong cuộc đời cô dâu, chú rể, một kịch bản hoàn hảo ngoài ý muốn mà ông trời
bổng dưng ban tặng. Sau này, hẳn là họ sẽ rất vui vẻ khi kể lại chuyện này cho
con cháu và cả những thế hệ mai sau nghe. Hẳn là quý độc giả đang tò mò muốn biết
người đàn ông kia đã nói những gì với đám thanh niên mà khiến họ đang tức giận
thầy Thất Sách lại đổi sang làm vui? Chúng tôi xin bật mí luôn: Anh ta nói rằng,
thần kinh thầy Thất Sách không bình thường, vì vậy đừng chấp nhặt mà hãy chiều
theo ý thầy để cho xong chuyện.
Mặc dù đã giải cứu được cô dâu và lập thêm một chiến công hiển
hách, nhưng thầy Thất Sách cũng bị đám thanh niên kia đánh cho một trận khá
đau. Trên mặt cũng như khắp mình mẩy thầy, chỗ nào cũng có một vài chỗ sưng to
và tím bầm như quả sung chín.
- Thầy ơi! Hãy ghé vào chỗ gốc cây kia ngồi nghỉ tạm để con lấy
dầu cù là xoa bóp cho thầy. Chứ cứ để mặt mày sưng sẩy như thế, nếu nhỡ trên đường
có ai đó vô tình nhìn thấy thì sẽ ảnh hưởng đến hình tượng “Võ lâm minh chủ” của
thầy lắm! – Tam Văn nhìn chủ, xót xa nói.
Thầy Thất Sách xua tay, gạt phắt đi:
- Không sao đâu, Tam Văn! Không hành hiệp giang hồ thì không thể
trở thành hiệp sĩ. Chẳng có hiệp sĩ nào mà lại không bị đánh bầm dập và mình mẩy
không mang nhiều thương tích cả. Ngay đến cả “Võ lâm minh chủ” như ta đây cũng
không phải là ngoại lệ. Vậy nên, thay vì xấu hổ, ta hãy lấy đó làm vinh dự mới
phải.
Ngày lại ngày, đường đi cũng gian nan và khổ sở vô cùng. Toàn là
núi cao, dốc đứng, và đôi khi là cả những cung đèo khúc khuỷu dài đến hàng chục
cây số. Đó là một hành trình thử thách sự kiên nhẫn và lòng dũng cảm của con
người thực sự, chẳng khác nào là một vận động viên đang leo núi cả. Có cảm tưởng
như những cung đường hiểm trở cứ thế trãi dài ra vô tận trước mắt. Đối với Tam
Văn, hiểm nguy chú không từ, gian khổ cũng chẳng hề chi, nhưng điều chú muốn biết
là đích đến của chuyến đi. Chú cần phải biết là mình đang đi đâu và mất bao
lâu, thay vì thời gian cứ kéo dài vô định mãi như thế. Bữa ấy, trong lúc đang
đi, Tam Văn hỏi:
- Chúng ta đang đi đâu vậy thầy?
- Chẳng phải ta đã từng nói là sẽ đi đến cùng trời cuối đất hay
sao! – Thầy Thất Sách đáp.
- Nhưng trời đất bao la. Mà cứ đi bộ như thế này thì biết bao giờ
mới đến?
- Phải! Đó chỉ là một cách nói ước lệ thôi. Cùng trời cuối đất ở
đây chính là điểm cuối cùng của nước ta. Hôm nay thầy trò ta sẽ xuôi về cực bắc
của tổ quốc.
- Cực bắc là gì? – Tam Văn lại quên cả mệt, tò mò hỏi.
- Đó là điểm cuối cùng về phía bắc của đường biên giới nước ta.
- Thế đường biên giới là gì?
- Là đường phân định ranh giới giữa các quốc gia. Nói nôm na cho
dễ hiểu thì cũng như cái hàng rào nhà con với nhà hàng xóm vậy. Tuy nhiên, đường
biên giới quốc gia phức tạp hơn rất nhiều, vì nó dài và chạy qua nhiều địa hình
khó kiểm soát. Xa xưa, biên giới được phân định dựa trên các yếu tố tự nhiên
như sông ngòi, hồ nước, ngọn núi…; bây giờ khoa học phát triển, người ta đã sử
dụng công cụ đo đạc để tính toạ độ cho chính xác hơn.
Rồi thầy Thất Sách nói thêm:
- Ngoài ra còn có đường biên giới trên biển nữa. Gọi là lãnh hải.
Gồm có vùng nội thuỷ, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa…
- Vậy vùng biển không thuộc chủ quyền nước mình thì gọi là gì?
- Là lãnh hải quốc tế. Ở đó, thuyền bè tất cả các nước đều có thể
tự do đi lại cũng như tiến hành các hoạt động nghiên cứu đại dương.
- Lạ nhỉ!
- Như vậy cũng chưa lạ lắm đâu. Còn có cả đường biên giới trên
không nữa kia.
- Đường biên giới trên không thì gọi là gì hở thầy? – Tam Văn mở
to mắt thích thú, cảm giác như chú đang được ngồi trong lớp học và chăm chú
nghe thầy giáo giảng bài vậy.
- Gọi là không phận.
- Trời xanh bao la, làm cách nào mà phân định cho được?
- Có chứ! Không phận được chiểu theo đường biên giới trên bộ và
trên biển. Máy bay bay qua không phận nước nào thì phải được sự cho phép của nước
ấy.
- Cứ như con chim có phải là hay không. Thích bay đi đâu thì
bay, đến đâu thì đến. Chẳng cần phải xin phép ai cả - Tam Văn tếu.
- Đúng vậy! – Thầy Thất Sách xác nhận - Con chim thì chẳng cần
phải xin phép ai cả. Vì nó chẳng thuộc phạm vi điều chỉnh của bất cứ khái niệm
“Không phận” hay “Vùng cấm bay” nào sất.
Khi đến một bản làng nằm trên núi cao, thầy Thất Sách chỉ tay về
phía trước, nói:
- Con có thấy ngọn núi nom như bát úp kia không?
- Trên núi có cột cờ phải không thầy?
- Phải! Đó gọi là cột cờ Lũng Cú. Nơi ấy được coi là điểm cực bắc
của nước ta. Dĩ nhiên khi chọn nơi này, người ta cũng xem đó như là một biểu tượng
mà thôi. Kỳ thực thì điểm cực bắc còn nằm cách đó một đoạn khá xa nữa.
- Ngọn núi cao quá!
- Phải! Cao khoảng một ngàn năm trăm mét so với mực nước biển.
Họ bắt đầu leo lên những bậc đá, đích đến là ngọn cờ tổ quốc
đang tung bay phần phật trên cao. Bình sinh, Tam Văn làm việc nặng đã nhiều,
nhưng chưa bao giờ chú cảm thấy mệt và vất vả đến thế. Mồ hôi vã ra như tắm,
thi thoảng hai thầy trò lại phải dừng lại để uống nước. Chừng một tiếng đồng hồ
sau thì hai thầy trò Tam Văn leo lên đến đỉnh núi. Từ đây, họ nhìn xuống phía dưới,
thu vào trong tầm mắt muôn trùng nước non. Núi giăng luỹ giăng thành, hiểm trở
và cao vút đến tận trời. Dưới kia, dòng sông Nho Quế chảy quanh co giữa các sườn
đồi, nom như một con rồng xanh đang cuộn mình, uốn khúc.
Chẳng cầm lòng đặng trước giang sơn cẩm tú, thầy Thất Sách buộc
miệng, thốt lên:
- Hùng vĩ thay! Giang sơn tiên rồng tươi đẹp lắm thay!
Nói rồi, tráng sĩ chống trường côn đứng trên đỉnh núi, đưa cặp mắt
uy dũng mà nhìn ra khắp bốn phương. Hùng tâm thay! Tráng chí thay!