Quê nhà ngóng đợi
Buổi sáng, tại “Đạo Nhân Thi Quán”.
Đứa bé đeo cặp sách lên vai, rồi vẫy tay, nhí nhảnh:
- Chào bà! Cháu đi học đây ạ!
- Cháu đến trường ngoan nhé! Trưa lại về với bà! – Bà Lan đáp, rồi
nheo cặp mắt, âu yếm nhìn theo đứa cháu gái cho đến khi cái dáng mảnh khảnh của
nó khuất hẳn sau những đám hoa hồng dại phía cổng mới thôi.
Dạo thầy Thất Sách mới bỏ nhà ra đi, bữa ấy, đứa con gái lớn chở
con đến chơi. Trong lúc hai mẹ con ngồi nói chuyện, nó hỏi:
- Bố con có nói khi nào sẽ về không mẹ?
Bà Lan thở dài:
- Vẫn bặt vô âm tín con ạ. Theo như những gì ông ấy nói trong
thư, có lẽ chẳng biết đến đời thủa nào sẽ về đâu!
Hai mẹ con ngồi im một lúc, rồi cô con gái lại nói:
- Nhà mình rộng, vườn cây, ao cá thênh thang. Nếu mẹ cứ ở một
mình như thế thì buồn lắm. Con đưa cháu sang đây, để nó ở với bà cho vui. Có tiếng
trẻ con, nhà cửa cũng đỡ cô quạnh. Vả lại, cháu đã học lớp năm rồi, tự đi học
được, ngoài ra còn đỡ đần thêm việc nhà cho bà nữa đấy!
Bà kéo đứa cháu gái vào lòng, vuốt tóc nó, rồi lặng lẽ gật đầu.
Từ đó, nó để cháu ở lại đây cho bà nuôi. Hai bà cháu sớm tối có nhau, tỉ tê trò
chuyện, kể cũng vui cửa, vui nhà.
Tiễn cháu đi học rồi, bà Lan khoác thêm cái áo ấm, rồi bắt đầu
bê cái chậu nhôm ra bờ ao cho cá ăn. Không khí ban mai còn ẩm mùi cỏ cây, sương
từ những cành ổi bên đường vô tình chạm vào bàn tay nghe lành lạnh. Mùa đông lạnh
giá, mặt ao phẳng lặng như tờ, lũ cá giờ này còn trốn ở dưới hang dưới hốc hết.
Bà Lan vịn tay, bước xuống cái cầu ao được đặt xăm xắp sát mé nước. Bà vung
tay, ném những vốc cám trộn với chuối băm xuống mặt ao, âm thanh ràn rạt như tiếng
mưa rào. Đã thành nếp, thấy có động, lũ cá rủ nhau lũ lượt ngoi lên. Chúng lượn
lờ đớp mồi và quẫy đuôi lỏm bỏm dưới làn nước lạnh. Những cái mồm tròn tròn há
ra như tàu há mồm, mặt nước nhấp nháy, gợn sóng.
Từ dạo ông đi, bà Lan dành hết tâm trí để chăm sóc đứa cháu cùng
vườn tược để tạm quên đi cái sự gia môn bất hạnh bất ngờ ập đến với mình. Bà
làm nhiều việc hơn trước, cố gắng trông coi nhà cửa như lời ông dặn trong thư.
Hy vọng một ngày nào đó, khi trở về, ông sẽ cảm thấy vui và hài lòng về những gì
bà đã làm.
Thi thoảng, bác trưởng tộc và ông Thái hàng xóm cũng đến chơi để
hỏi thăm tin tức về thầy Thất Sách. Đáp lại, bà chỉ biết lắc đầu, nước mắt vòng
quanh. Mà đâu chỉ có hai người ấy, cả những người quen biết khác cũng vậy, hễ gặp
bà ở đâu là họ lại sốt sắng hỏi:
- Bà Lan ơi! Ông nhà ta đã về chưa?
- Ông nhà đi đâu vậy bà? Đã có tin tức gì về ông ấy chưa?
Bà cảm ơn họ, rồi với một vẻ mặt rầu rầu, bà đáp:
- Chẳng biết ông ấy đi phương nào. Mà cũng không có tin tức gì cả
bác ạ.
Rồi bà kéo sụp vành nón, tất tả bước đi, cố dấu những giọt nước
mắt, để người ta không nhìn thấy bà đang khóc.
Kể từ khi hai thầy trò Tam Văn bỏ nhà ra đi, bấm đốt ngón tay, đến
nay cũng đã hơn ba tháng rưỡi rồi. Từng ấy ngày, tháng là từng ấy thời gian bà
Lan trông mong và lo lắng. Dưới bàn tay quán xuyến của bà, công việc đạo nhân
thi quán vẫn ngăn nắp, cá dưới ao ngày một lớn, cây trái trong vườn vẫn ngát
xanh và trĩu quả. Chỉ có bóng dáng thân thuộc của thầy Thất Sách là vẫn “Bóng
chim, tăm cá” mà thôi.
Gió ở cầu ao thổi lạnh, bà Lan khẽ rùng mình, rồi khép vội vạt
áo lui cui đi vào. Vừa đến nửa hàng rào thứ nhất thì nghe có tiếng chó sủa rộ
lên như có người. Bà vội vạch lá ngó ra. Qua tán cây bưởi loà xoà, bà nhìn thấy
cái vóc dáng to béo của bà Huệ - vợ bác trưởng tộc - đang lạch bạch đi vào
trong sân.
- Bà Huệ đấy à?! Bà ngồi chơi. Đợi chút tôi vào ngay! – Bà nói vọng
vào.
Đi qua chỗ cây ổi đào, nhìn thấy có mấy quả chín treo lủng lẳng
trên cao, bà dừng lại, nhón người, rồi vin cành xuống để hái. Những trái ổi to
như nắm tay, căng mẩy và đã ngả sang màu vàng, thơm lựng.
Vừa thấy bà Lan từ vườn đi vào, bà Huệ đã cất tiếng lảnh lót:
- Bà đang làm vườn đấy à?
- Lúc nào tôi cũng làm việc cho khuây khoả bà ạ! Cứ nghĩ đến ông
ấy là lòng dạ lại rối bời! - Bà Lan đáp, rồi lựa tay đặt mấy quả ổi vào cái đĩa
sứ trên bàn.
Ổi gọt xong thì bổ ra, sắp đều vào đĩa, nom như hình cái rẽ quạt.
- Giống ổi này mềm, thơm ngon. Bà ăn thử đi! – Bà Lan đưa cho
khách một miếng ổi to, niềm nở.
- Bà cứ để mặc tôi!
Hai người đàn bà ngồi cạnh nhau, vừa ăn ổi vừa trò chuyện thân
tình. Ngày thường, họ vẫn hay đi chợ cùng nhau, có chuyện gì cũng nhỏ to gắn
bó, dốc hết bầu tâm sự.
- Cuộc sống lâu nay của bà vẫn ổn chứ? – Bà Huệ mở lời.
- Cảm ơn bà! Có đứa cháu ngoại ở đây, cửa nhà cũng vui. Thi thoảng,
con cái cũng đến thăm nữa. Vậy nên cũng không đến nỗi buồn lắm.
- Vậy ư! Dạo này ít thấy bà đi chợ?
- Thức ăn có sẵn, rau củ thì hái trong vườn. Với lại, nói thật với
bà: Từ dạo ông nhà tôi bỏ đi như thế, tôi cũng ngại, chẳng muốn đi đâu cả. Ra
chợ, gặp người quen người ta cứ hỏi, lại chẳng biết thế nào mà trả lời. Thêm
phiền lòng ra!…
- Khổ! Dạo này nom bà gầy và héo hon đi nhiều đấy! – Bà Huệ nhìn
chủ nhà, xót xa.
Bà Lan tủi thân, nước mắt lại trào ra, đôi vai gầy rung lên từng
chặp.
Bà Huệ cầm tay bà Lan, nói:
- Chị em chúng ta đều là phận làm dâu nhà họ Mạnh. Việc gì cũng
phải quan tâm, giúp đỡ lẫn nhau. Có gì khó khăn, bà cứ bảo với tôi. Rồi chúng
ta sẽ cùng nghĩ cách giải quyết!
- Vâng!...
Rồi bà Huệ hạ thấp giọng:
- Này! Tôi hỏi thật bà điều này nhé?...
- Bà cứ nói đi! – Bà Lan sụt sịt lau nước mắt, nói.
- Từ trước tới nay, bà có thấy những hiện tượng không bình thường
trong tính cách của ông ấy không? Nhất là khoảng thời gian sắp bỏ nhà ra đi ấy?...
Bà Lan ngồi ngẩn ra hồi lâu, rồi nói:
- Quả thực là tôi cũng thấy lạ!
- Lạ thế nào? – Bà Huệ xoay hẳn người về phía chủ nhà, nhìn thẳng
vào mắt, tò mò.
- Thấy ông ấy hay lẩm nhẩm những câu gì đó. Nhất là trong cách
xưng hô. Lắm lúc, ông ấy cứ nhầm tôi với cô nương hay tiểu thư nào đó. Có khi,
ông ấy còn gọi tôi là “Phu nhân” nữa kia đấy!…
Bà Huệ vỗ tay, cười ngất:
- Ấy đấy, chính như thế đấy! Có lần gặp tôi, ông ấy nói: “Chào
lão bà bà!”. Tôi cứ ngẩn ra mà chẳng hiểu gì cả. Về hỏi cả nhà nhưng cũng chẳng
ai biết. Mãi một lúc sau, đứa cháu nội mới bảo là nó biết. Tôi mắng “Ông nhà
mày chừng này tuổi mà còn chẳng biết. Mày là trẻ con, biết cái gì”. Nó cãi “Cháu
xem phim chưởng, thấy người ta cũng xưng hô như thế mà”. À, ra vậy! Tôi doạ nó
“Mày cũng bớt bớt xem cái thể loại phim chưởng ấy đi. Nếu không lại cứ ngẩn ngẩn
ngơ ngơ như ông ấy thì khốn đấy!”.
Hai người đàn bà vỗ vào vai nhau mà cười ngả nghiêng, cười đến ràn
rụa cả nước mắt.
Lát sau, bà Huệ kéo áo bà Lan, vẻ mặt nghiêm trọng:
- Tôi nghe người ta nói là ông ấy hơi có thần kinh nhẹ. Nguyên
nhân là do đọc quá nhiều sách đấy. Nhất là những cuốn sách kiếm hiệp gì gì đó…
Bà Lan gật đầu, tán thành:
- Tôi cũng nghĩ vậy. Ông ấy đọc sách đến độ cuồng, quên cả ngày
tháng, quên ăn, quên ngủ. Như thế thì thử hỏi làm sao mà không ảnh hưởng cho được
kia chứ!…
- Ấy, ta đã biết nguyên nhân như thế thì phải tìm cách chữa trị
bà ạ!
- Nhưng chữa bằng cách nào?
Bà Huệ ghé tai, thì thào:
- Ta sẽ dấu cái tủ sách đi. Ông ấy không có gì mà đọc nữa, tâm
trí sẽ trở lại bình thường thôi. Bà thấy thế nào?…
Bà Lan mừng rỡ:
- Nhưng biết dấu ở đâu bây giờ? Ông nhà tôi quý sách như tính mạng.
Số sách ấy là tâm huyết cả đời ông ấy tích cóp, sưu tầm được đấy. Nay bổng dưng
mất thì ông ấy chẳng nổi đoá mà phát điên lên à?…
- Không sao đâu! Thuốc đắng giã tật. Chỉ có cách dấu sách đi thì
ông ấy mới khỏi bệnh được. Cứ đưa sang nhà chúng tôi. Đảm bảo là số sách ấy sẽ
không suy suyễn gì đâu. Chỉ là để cách ly những cuốn sách tai hại ấy với ông
nhà mà thôi. Đợi đến khi tâm tính ông ấy trở lại bình thường, ta sẽ trả lại cho
chủ cũ.
- Vâng! Nếu vậy thì xin làm theo ý bà! – Bà Lan gật đầu, đồng tình.
Thế rồi hai người đàn bà dắt nhau đi vào trong nhà. Đứng trước
cái tủ sách khoá im ỉm bằng một cái ổ khoá to đùng, bà Huệ nói:
- Nguyên nhân của cái chứng khùng khùng, điên điên của ông ấy
chính là đây!
Bà Lan mím chặt môi, quả quyết:
- Đúng thế! Phải dấu tiệt đi mới xong!
Ngay hôm ấy, một chiếc xe bò được người ta đánh tới. Cái tủ
sách quý của thầy Thất Sách được khấp khểnh chở đi diễu một vòng quanh xóm, trước
khi đến đích là nhà của bác trưởng tộc. Tại đây, chiếc tủ lại được dấu một cách
kín đáo ở tận buồng trong. Ngoài vợ chồng bác trưởng tộc và bà Lan ra, còn lại
thì không một ai biết về sự tồn tại cũng như vị trí đích xác của chiếc tủ ấy cả.
Ngoài chiếc tủ sách ra, còn lại tất cả những đồ đạc khác của thầy
Thất Sách đều được bà vợ bảo quản chu đáo. Những bộ quần áo của ông được bà giặt
sạch, gấp gọn rồi để ngay ngắn vào một góc tủ. Những vật dụng thiết yếu mà ông
hay dùng cũng được bảo quản nguyên vẹn, hoàn hảo như hồi ông còn ở nhà. Có thể
nói, giờ này, “Đạo nhân thi quán” đã trở thành một viện bảo tàng, nơi trưng bày
những di vật sống động của hiệp sĩ Thất Sách nhà ta rồi vậy.
Vấn đề đồ đạc thì dễ, vì chỉ cần có ý thức bảo quản tốt là được.
Nhưng có một thứ mà người ta chẳng dễ gì đối mặt và xử lý cho rốt ráo, ấy chính
là những câu hỏi không hồi kết của xóm làng cùng những lời dị nghị vu vơ.
Đã có những ý kiến cho rằng, ông bỏ đi là vì chán bà, vì hai ông
bà đã mâu thuẫn với nhau đến mức không thể chung sống dưới cùng một mái nhà được.
Rồi cùng muôn vàn những lý do trời ơi đất hỡi khác nữa.
Cứ thế, cái danh dự, nhân phẩm của người phụ nữ đã bị những lời
ác ý như thế xoáy mòn, thiêu đốt, như một cái thân cây bị khô cành, rũ lá bởi
tiết trời khắc nghiệt.
Dù buổi bình minh hay ánh chiều tà, bà Lan thường nhìn ra phía cổng,
hy vọng cái bóng dáng quen thuộc của thầy Thất Sách đột nhiên xuất hiện. Cho dù
có là dáng vẻ rách rưới, gầy guộc sau những tháng ngày lang thang, cơ nhỡ ngoài
kia cũng được. Mỗi khi có tiếng chó sủa, hay có tiếng ai đó gọi giật giọng là
bà lại giật mình thấp thỏm, vì bà nghĩ rằng ông đã trở về. Thế nhưng, những ánh
mắt hy vọng ấy bao giờ cũng được đánh đổi bằng những tiếng thở dài thất vọng.
Và rồi cho đến tận hôm nay, cánh cổng của “Đạo nhân thi quán” vẫn đóng im ỉm, vẫn
chưa được một lần vui mừng, hớn hở đón chào bước chân quen thuộc của chủ nhân
quay về.