Thứ Ba, 23 tháng 9, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương VII)

 

Vượt ngàn dặm, chẳng quản xa xôi

Về đất tổ, hiệp sĩ được vua Hùng báo mộng.

Vùng đất Phú Thọ xưa nay vốn nổi tiếng với những đồi Cọ trập trùng và đẹp như tranh vẽ. Hình tượng cây Cọ ở đây đã đi vào thơ ca, nhạc hoạ và làm say lòng biết bao tao nhân mặc khách bốn phương. Ngã ba Bạch Hạc là nơi hợp lưu của ba con sông lớn là sông Đà, Sông Lô và sông Hồng. “Minh đường tụ thuỷ”, nơi này vừa là đầu mối giao thông đường thuỷ, vừa thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp và quốc kế dân sinh. Có núi cao án ngữ, có sông dài chở che, Phong Châu thật xứng là vùng đất đế đô bền vững muôn đời của các vua Hùng tự ngàn xưa vậy.

Cho nên, đất tổ không chỉ linh thiêng, mà còn là một miền đất vô cùng xinh đẹp và nên thơ.

Một lòng hướng về đất tổ, hai thầy trò Tam Văn vẫn ngày đêm miệt mài rảo bước đi mau. Đồi cao, dốc đứng, núi thẳm, sông dài, chẳng khó khăn, gian khổ nào mà họ chưa từng nếm trãi. Theo bước chân lữ khách, những xóm làng, thôn trang lần lượt hiện ra trước mắt. Những đồi cọ xanh mướt, lá cọ nghiêng che trên đầu như những tán lọng tròn. Gió lộng trên đồi cao, mưa bay nơi đồng vắng, chẳng nơi đâu mà không in hằn những dấu chân của người hiệp khách. Thực là:

Non xanh nước biếc dạt dào

Cõi trần ai biết nơi nao là nhà

Tìm trong trời đất bao la

Tổ tiên nguồn cội ông cha sinh thành

Khi đến khu vực đền Hùng, trời cũng đã bắt đầu nhập nhoạng tối, hai thầy trò bèn tìm thuê một căn nhà trọ để nghỉ ngơi.

Hôm sau, từ sáng tinh mơ, họ đã lo lỏm đi ra phố để sắm lễ. Lễ gồm có đủ sáu món: Hương, hoa, trầu cau, mâm ngũ quả, bánh chưng và bánh dày.

Sau đó họ tắm gội, trai giới rồi đợi đến chiều thì đi lên viếng mộ vua Hùng. Trên con đường hai bên mọc đầy cỏ dại, thầy chống gậy gỗ Lê đi trước, học trò thành kính bưng lễ theo sau.

Đã đến dưới chân núi Nghĩa Lĩnh. Còn mấy tháng nữa mới đến hội, bởi vậy mà quang cảnh hãy còn vắng vẻ, yên bình. Nhưng cũng chính sự cô liêu ấy càng làm toát lên cái vẻ bí ẩn và trang nghiêm của một vùng đất thiêng. Tại đây, họ dừng lại bên một ngôi hàng để chỉnh đốn lại trang phục và sửa sang lễ vật. Sau đó hai thầy trò lại tiếp tục dóng bước để tiến vào đền Hạ.

Đền Hạ có lối kiến trúc kiểu chữ “Vương”, gồm các toà Đại Bái, Tiền Tế và Thượng Cung. Cây cối bao bọc, những tán cây cổ thụ lùm xùm che kín một bên mái ngói cong vút phía trên.

Thầy Thất Sách đỡ lấy mâm ngũ quả từ tay học trò rồi thành kính đặt lên ban thờ trong ngôi điện. Sau khi dâng hương, thầy lùi lại ba bước và khom mình quỳ mọp xuống, bắt đầu rì rầm khấn vái.

Tam Văn cũng chắp tay và im lặng quỳ bên cạnh chủ. Không khí linh thiêng, chú chẳng dám ngẩng mặt nhìn lên, chỉ thấp thoáng nhìn thấy những khói hương nghi ngút và màu sơn son thếp vàng lấp loá trong khoảng không gian tranh tối tranh sáng. Thứ duy nhất mà chú có thể nhìn rõ lúc này là vạt áo khoác Ba Đờ Xuy của chủ. Mỗi khi thầy chú cúi lạy, cái áo ấy lại cọ cọ vào người và phát ra những âm thanh sột soạt đều đều như kéo sợi.

Cứ thế, thầy Thất Sách sì sụp khấn vái hồi lâu, nhỏ to giãi bày tấm lòng thành của một người con xa xứ khi về với đất tổ.

Kết thúc buổi lễ, lúc đứng dậy, hai chân Tam Văn đã cứng đơ và tê dại vì chuột rút. Khi họ vừa ra khỏi đền Hạ thì lại bắt gặp một đoàn năm, sáu người nữa đi vào. Giống như thầy trò chú, những người kia cũng đội mâm ngũ quả trên đầu, tay cầm theo hương, hoa để cúng kiếng. Họ nói năng e dè, đi lại khúm núm, vẻ mặt ai nấy đều lộ vẻ tuân phục, trang nghiêm.

Lúc đi lên, Tam Văn mới bắt đầu dám mở miệng. Chú hỏi:

- Mình vừa dâng hương ở mộ tổ hả thầy?

- Chưa! Đó là đền Hạ, tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, tức là tất cả nòi giống người Việt ta.

- Vậy bây giờ chúng ta sẽ lên mộ tổ chứ?

- Cũng chưa! Bây giờ ta sẽ dâng hương ở Tổ Miếu, gọi là đền Trung.

- Vậy mộ tổ ở đâu?

- Trên đỉnh núi. Nơi giao thoa giữa trời và đất, là nơi cao và linh thiêng nhất, gọi là đền Thượng.

Họ lại dìu nhau leo lên những bậc đá, lối đi này do nhân tạo, hai bên có đắp hai hàng con chạch chạy dài và uốn lượn quanh co. Lúc này mới thấy cây gậy trong tay thầy Thất Sách tỏ ra vô cùng hữu dụng, nó như là một cái chân thứ ba của thầy vậy, giúp cho chủ nhân luôn bước đi vững vàng mà chẳng hề mệt mỏi gì cả.

Đền Trung nằm ở lưng chừng núi, toạ lạc giữa một khoảng đất rộng và bằng phẳng. Phía trước đền có chín tảng đá nom như những cái đôn được xếp thành hình tròn, tảng đá to nhất đặt ở chính giữa. Theo truyền thuyết, nơi đây vua Hùng đã cùng với các Lạc Hầu, Lạc tướng ngồi để bàn việc nước.

Thầy Thất Sách lại dâng lễ, lại khấn vái rồi tiếp tục đi lên đền Thượng.

Leo thêm mấy trăm bậc đá nữa thì bắt gặp một cái cổng tam quan cao lớn. Trước cổng có tượng hai ông tướng cầm đao đứng gác. Trên cổng đắp nổi rồng phượng và có bốn chữ nho rất lớn: “Kính Thiên Lĩnh Điện”.

Bên trong đèn nến sáng choang, hoa cúng chất đầy, long ngai, đồ thờ sơn son thếp vàng rực rỡ. Tượng vua Hùng ngồi uy nghiêm ở chính điện. Một không khí trang nghiêm dễ khiến cho người ta có cảm giác sợ hãi và choáng ngợp.

Vừa nhìn thấy tượng vua Hùng ngồi ngự trên long ngai, thầy Thất Sách đã lập tức cúi người quỳ mọp xuống. Hồi lâu, thầy mới dám ngẩng mặt lên, rồi chắp tay, bắt đầu khấn vái. Trong bài khấn của mình, thầy đã thống thiết xin các vua Hùng phù hộ và cho phép mình được đi chu du thiên hạ để hành hiệp trượng nghĩa, thế thiên hành đạo.

Lễ xong thì cũng đã chiều muộn. Thầy Thất Sách quyết định sẽ ngủ lại một đêm trên núi Nghĩa Lĩnh để hấp thụ linh khí tổ tiên. Bởi vậy mà từ chập tối, hai thầy trò đã trãi chiếu ra một chỗ góc tường để chuẩn bị nghỉ ngơi.

Trong lúc làm, thầy Thất Sách nói:

- Này trò! Con có hiểu vì sao di tích đền Hùng lại phân thành ba khu vực là “Đền Hạ”, “Đền Trung” và “Đền Thượng” hay không?

- Vì người ta gọi tên theo vị trí. Hạ là dưới, trung là ở giữa, còn thượng là trên cùng – Tam Văn vừa giũ tấm ga phần phật, vừa đáp.

- Về lý thuyết thì quả đúng như vậy. Nhưng ở đây còn hàm chứa một ý nghĩa to lớn và sâu xa hơn rất nhiều - Thầy Thất Sách nói - Đền Hạ là nơi tương truyền mẹ Âu Cơ sinh hạ ra bọc trăm trứng. Đó là nơi thấp nhất, giống như một con người khi mới ra đời, nhưng cũng mang tính nền tảng và quan trọng nhất. Có trước thì mới có sau vậy. Đền Trung là nơi vua Hùng bàn việc nước với các Lạc Hầu, Lạc Tướng. Khi con người ta trưởng thành thì sống giữa cuộc đời và cũng phải lo toan việc đời sống. Còn đền Thượng ở trên cùng, nơi đặt mộ tổ. Ý muốn nói, con người ta khi chết đi sẽ bắt đầu sự sống đời đời, sẽ hoá thành khí thiêng sông núi. Cả ba ngôi đền, thượng, trung, hạ tượng trưng cho ba giai đoạn của cuộc đời một con người, từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành và chết đi. Đấy, tổ tiên ta đã gửi gắm cái triết lý sâu xa đến những thế hệ con cháu mai sau như vậy đấy!

Trời bắt đầu sầm sập tối mau. Cái cổng tam quan lừng lững, cả những hình rồng phượng đắp nổi trên đó cũng bắt đầu nhoè dần, chẳng còn nom rõ hình thù gì nữa. Những sơn son thếp vàng cũng vậy, lúc này đã chuyển dần sang màu đen  thẫm, nhạt nhoà. Thị giác đã không còn hoạt động, chỉ còn thính giác là có thể phát huy tác dụng mà thôi. Đã không còn nhìn thấy những tán cây trên cao nữa, thay vào đó, chỉ nghe được những tiếng cành cây cọ vào nhau, tiếng gió thổi rì rào trên tán lá.

Tam Văn quấn khăn quanh người và ngồi thu lu vào một góc, hai con mắt chú dài ra, đầy vẻ lo lắng, sợ hãi. Vốn là người tinh ý, thầy Thất Sách nhìn học trò, hỏi:

- Trò bị làm sao thế?

- Thầy ơi!...Con sợ! - Tam Văn cất giọng run run.

- Trò sợ gì? - Thầy Thất Sách hỏi và đặt tay lên vai học trò. Thấy toàn thân chú đang run lên bần bật như cầy sấy.

- Sợ ma! Thầy xem…trời thì tối, lại chỉ có hai thầy trò ta ở trên đỉnh núi này. Xung quanh toàn là cây cối rậm rì. Lại ở ngay cạnh đền miếu nữa…

Giọng thầy Thất Sách vang lên trong bóng tối:

- Trò nghĩ sai rồi! Ở đây đã có anh linh các vua hùng và các thánh trấn giữ. Làm gì có ma quỷ nào dám bén mảng đến đây để quấy nhiễu thầy trò ta. Vả lại, đã có ta bên cạnh. Con chớ có lo!...

Tam Văn im lặng không đáp. Được thầy trấn an, chú cũng cảm thấy đỡ sợ đi phần nào. Tuy vậy, tiếng chân của những loài thú ăn đêm, tiếng chuột chạy, tiếng loạc xoạc của các loài bò sát trườn trên lớp lá khô, khiến cho chú thần hồn nát thần tính, thi thoảng lại rùng mình mà sởn hết gai ốc.

Gió thổi miên man, như mơn trớn và khơi gợi cơn buồn ngủ. Hai thầy trò đặt mình nằm xuống, và chỉ vài phút sau, họ đã bắt đầu chìm vào giấc điệp mơ màng.

Nửa đêm trong giấc ngủ, thầy Thất Sách mơ thấy từ trong chính điện có một luồng khí xanh bay ra. Luồng khí ấy sáng rực như một ngôi sao trên trời, bay là là qua những mái đền, những tháp, những tán cây cổ thụ um tùm. Luồng khí vụt đến trước mặt thầy Thất Sách, rồi biến thành một người đàn ông tướng mạo khôi vĩ, râu dài, mắt sáng. Người ấy mình mặc triều phục, lưng đeo gươm báu, đầu đội mũ có giắt lông chim thành tua như những tia nắng mặt trời.

Người đó cất giọng vang vang như sấm:

- Hỡi Thất Sách! Ta chính là vua Hùng đời thứ sáu đây! Niệm lời cầu khẩn, nay ta hiện về báo mộng cho con được biết: Nay ta trao cho con sứ mệnh giữ gìn phong tục, dựng lại nền phong hoá non nước tiên rồng. Con hãy đi khắp bốn phương, làm thật nhiều việc nghĩa, lập thật nhiều chiến công. Nhưng hãy nhớ, con phải một lòng vì nước vì dân, trừ gian diệt ác, tuyệt không được lạm sát những người vô tội! Hãy đem hết tài trí của mình ra mà khuông phò chính nghĩa, cứu khốn phò nguy, để cho bá tánh lê dân được yên hưởng thái bình. Khâm thử!

Nói xong, người ấy lại biến thành luồng khí xanh, rồi theo đường cũ, bay vào trong chính điện. Âm thanh từ lời nói trầm hùng ấy vẫn còn vang vọng mãi, hồi lâu mới tan hết.

Thầy Thất Sách giật mình bừng tỉnh, trong lòng muôn phần kinh sợ, mồ hôi khắp người chảy ra ướt đầm như tắm. Lúc này, thần trí thầy cứ bồi hồi, nôn nao như một người vừa mới ốm dậy. Nhìn sang, thấy anh cháu vẫn nằm ngáy pho pho, thầy bèn lay chú dậy:

- Này!... Tam Văn. Dậy đi!...

- Có chuyện gì…vậy thầy!...- Tam Văn quờ tay, ú ớ.

- Vừa rồi nhà ngươi có mơ thấy gì không?

Tam Văn ngồi dậy, ngơ ngác:

- Không! Con có mơ thấy gì đâu!...

Thầy Thất Sách bồi hồi:

- Lạ thật! Ta thì lại mơ thấy…

Tam Văn dụi mắt, vươn vai để cố cưỡng lại cơn buồn ngủ. Chú ngáp dài, nói:

- Có thể hôm qua thầy leo núi mệt. Cho nên tối ngủ mê đấy thôi. Âu đó cũng là sự thường mà!...

- Không! Là ta mơ thấy vua Hùng. Phải! Chính vua Hùng thứ sáu đã báo mộng cho ta đấy!...

Tam Văn sợ quá, tỉnh hẳn cả ngủ.

- Là thầy…nói…sao? – Chú lắp bắp, đảo mắt nhìn quanh, kinh hãi.

Thầy Thất Sách bắt đầu kể lại sự tình trong giấc mơ cho học trò nghe.

Tam Văn ngồi ngẩn ra, hồi lâu mới nói:

- Vậy là lòng thành của thầy đã được các vua Hùng chứng dám rồi đó. Lời nguyện cầu nay đã được linh ứng!…

- Có thể vậy!...

Đêm về khuya, sương rơi dày, lạnh giá. Thầy Thất Sách lục lấy cái áo Ba Đờ Xuy khoác lên người, rồi từ đấy hai thầy trò cứ ngồi nói chuyện để chờ sáng, hầu như không ngủ thêm được phút nào nữa.

Hôm sau, thầy trò Tam Văn thắp hương bái lạy các vua Hùng, rồi cùng đi xuống núi, bùi ngùi tạm biệt đất tổ.

Đi được một thôi đường, họ bắt gặp một đứa trẻ đội nón lá đang lùa đàn bò đi thong dong trên đường. Thầy Thất Sách vẫy nó lại, nói:

- Này, tiểu đồng!…cho ta hỏi…

Đứa bé ngước cặp mắt tròn xoe, ngơ ngác:

- Tiểu đồng là gì ạ?

- À!... cháu bé! Đường đến bến phà đi lối nào vậy?

Đứa bé trỏ roi, nhanh nhảu:

- Bác cứ đi theo lối kia. Đến chỗ cây Đa cổ thụ thì rẽ phải. Men theo bờ sông một đoạn nữa là bến phà đó!

Dọc bờ sông, cây cỏ mọc um tùm, xanh tốt. Những cây dứa dại, cây chùm ngây ken dày và chen chúc nhau như xây luỹ, xây thành. Đã nhìn thấy bến phà phía trước mặt. Dựa lưng vào triền đê, có một ngôi quán làm bằng tre nứa, mái lợp lá cọ, bên trong có chừng hơn chục người khách đang ngồi. Thầy trò Tam Văn, người chống gậy, kẻ vác bao, chậm rãi bước vào. Trong lúc đợi phà, người ta uống nước, hút thuốc và ăn bánh trái. Những người khác thì tỉ tê trò chuyện để giết thời gian và để cho đỡ sốt ruột.

Dòng sông lấp lánh ánh bạc, uốn lượn và lững lờ chảy về chốn xa. Trời mây, non nước một màu, chẳng còn phân biệt được đâu là trời, đâu là nước nữa. Thầy Thất Sách đặc biệt thích cảnh này, vì nó rất giống phong cảnh được miêu tả trong những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp mà ông đã từng được đọc trước đây.

Cách chỗ thầy Thất Sách chừng hai hàng ghế, có một gã đại hán lực lưỡng, đầu cạo trọc lốc đang ngồi bắt chân chữ ngũ. Trên khuôn mặt chữ điền xạm đen của gã, hai hàng lông mày rậm rì xếch lên nom rất dữ tợn. Gã để thanh giới đao bên cạnh (thực ra là một con dao bầu mổ lợn), áo cởi phanh ra cho mát, để lộ bộ ngực nở nang đầy lông lá. “Chẳng hiểu hắn ta thuộc môn phái nào nhỉ? Với một thanh Nhất Đao và sức vóc như thế, nếu hắn nhắm vào mình mà tấn công thì quả thật là nguy hiểm. Chưa kể, nếu hắn luyện cả “Cửu Dương Thần Công” nữa thì vô cùng tai hoạ. Tốt nhất là hãy đề phòng, để nhỡ hắn có tung chiêu thì ít ra mình cũng còn kịp ra tay ứng phó” – Thầy Thất Sách nghĩ thế, rồi bất giác sờ vào thanh trường côn của mình, ánh mắt gườm gườm cảnh giác. Thực ra, gã kia là một tay đồ tể chuyên làm nghề giết mổ thuê. Hôm nay, gã sang sông là để làm thịt trâu cho một đám cưới to ở làng bên cạnh.

Họ phải chờ khá lâu, đã gần nửa tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng con phà đâu cả. Tam Văn đã bắt đầu tỏ ra bồn chồn, nhiều người khách khác cũng vậy. Nhưng thầy Thất Sách thì chẳng bụng dạ đâu mà sốt ruột, vì thầy còn phải vận dụng hết tâm trí để mà đề phòng đối thủ tiềm tàng của mình là gã đại hán kia.

- Kia rồi! – Một người khách đưa tay chỉ.

Giữa dòng nước bàng bạc như sương khói, chiếc phà xuất hiện như một chiếc lá Đa nổi trôi giữa dòng. Mũi phà hiện ra lớn dần, rõ dần, tiếng máy nổ phành phạch vọng vào bờ. Đã nhìn thấy những người, xe lố nhố đứng, ngồi trên đó.

Mũi phà cập bến, đưa theo những con sóng vỗ ì oạp vào bờ. Hai người đàn ông khoẻ mạnh lôi ra hai tấm ván dài và rộng bản, rồi hò nhau thả xuống để làm cầu tàu. Hành khách, xe cộ lục tục đi xuống. Đợi cho khách xuống hết, những người ngồi đợi lại bắt đầu đi lên phà.

Phà ra giữa dòng, lúc này mới thấy hết cái sự rộng lớn và hùng vĩ của con sông mà khi còn ở trên bờ người ta không thể nào hình dung được. Bờ đất lúc này chỉ còn là một dãi mờ xanh, kéo dài như nét vẽ trong tranh.

Trong lúc ngồi trên phà, thầy Thất Sách vẫn không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác. Thi thoảng, thầy lại liếc nhìn gã đồ tể với một ánh mắt đầy vẻ dè dặt, đề phòng. Thật chẳng khác nào một con hổ vằn đang kình nhau với một con báo đốm khi chúng vô tình chạm mặt nhau trên thảo nguyên bao la vậy.

Phà cập bến, hành khách kéo xuống, rồi mỗi người tản đi một ngả. Sau khi xuống phà, gã đồ tể bước nhanh đến chỗ một chiếc xe máy đang đợi sẵn. Tay trái gã cắp đao, tay phải vịn vai người kia và ngồi lên xe. Chiếc xe nổ máy rồi phóng vụt đi, để lại phía sau một đám khói mỏng mảnh màu trắng nhạt. Thầy Thất Sách nhìn theo, thở phào nhẹ nhõm, rồi giục học trò đỡ lấy hành lý và bắt đầu đi xuống phà.

Lên đến bờ, thầy Thất Sách rỉ tai, nói:

- Này, Tam Văn! Nhà ngươi có biết là lúc nãy chúng ta đã gặp nguy hiểm như thế nào không?

Tam Văn ngơ ngác:

- Phà vẫn chạy bình thường, người lên rồi người xuống. Con có thấy chuyện gì khác thường đâu?

Thầy Thất Sách lắc đầu:

- Nhà ngươi thật là vô tâm như nghé. Hồi nãy, nếu không có ta để ý đề phòng, tên đại ma đầu kia đã ra tay động thủ rồi ném xác hai thầy trò ta xuống sông để làm mồi cho cá rồi cũng nên!

- “Đại ma đầu” nào? – Tam Văn lại càng ngạc nhiên, không hiểu.

- Ngươi có thấy gã đầu trọc ngồi cạnh buồng lái, bên cạnh là một thanh nhất đao sáng loáng hay không?

Tam Văn đưa tay bóp trán, rồi nói:

- À!...Cái gã mặc áo phanh ngực, đầu cạo trọc chứ gì?

- Phải! Chính hắn!

- Đó là một người làm nghề giết mổ. Cái anh cu sứt làm thịt lợn làng mình cũng vậy. Đi đâu cũng mang theo một con dao chọc tiết Lợn như thế đấy!...

Thầy Thất Sách vẫn lắc đầu, quả quyết:

- Ngươi thật chẳng hiểu gì sất. Hắn ta chính là một tên “Đại ma đầu” chính hiệu đấy! Ngươi lầm chứ ta thì không thể nào lầm được đâu!

Với Tam Văn mọi thứ đều bình thường, nhưng với thầy Thất Sách thì câu chuyện lúc nào cũng trở nên nghiêm trọng cả. Nguyên nhân vì chú là người tỉnh táo, còn chủ chú thì lại hoang tưởng và nhìn đời qua lăng kính của những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp. Tất cả đều là do thầy chú tự tưởng tượng ra, chứ thực chất làm gì có gã “Đại ma đầu” nào kia chứ. Thường thì Tam Văn vẫn hay nhường chủ, nhưng lần này chú dám chắc gã kia chỉ là một người làm nghề giết mổ mà thôi, vì vậy mà không ai chịu ai cả. Nhưng để tiếp tục cuộc hành trình, cả hai đều phải cùng nhìn về một hướng. Vì vậy mà Tam Văn đã không tranh cãi nữa, chú quyết định gác lại chuyện bất đồng quan điểm với thầy mình sang một bên.

- Giờ thì chúng ta sẽ đi theo hướng nào, hở thầy? – Tam Văn vác cái túi lên vai, hỏi.

Thầy Thất Sách khoát tay:

- Hãy đi đến bất cứ nơi nào mà đôi chân có thể đưa ta đến. Thầy trò ta sẽ đi đến cùng trời cuối đất, cho đến khi không còn chỗ nào để đi nữa mới thôi. Đôi chân ta dẻo dai, cánh tay ta dũng mãnh, còn trái tim ta thì nóng bỏng và tràn đầy nhiệt huyết. Này Tam Văn! Nhà ngươi đã quên rồi hay sao? Ngay từ khi còn ở “Đạo Nhân Thi Quán” ta đã từng nói, rằng chúng ta ra đi là để tìm kiếm phiêu lưu và để lập nên những chiến công hiển hách kia mà!