Thứ Năm, 9 tháng 10, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XI)

 Lời nguyền ngôi mộ cổ

Chiều miền quê, khói sương bảng lãng, bốn bề quạnh quẽ, đìu hiu. Khăn gói trên vai, thầy trò Tam Văn vừa đi vừa ngơ ngác nhìn quanh, có ý tìm người để hỏi đường. Đến một ngã rẽ, thấy có ba người đàn ông đang ngồi khuất sau những bụi dứa dại um tùm bên đường. Tuy nhiên, thái độ của mấy người đó thì lại nom có vẻ lén lút, thậm thụt lắm. Trước mặt họ, thấy trãi ra một tờ giấy nhàu nát, trong đó nhằng nhịt những hình thù và chú thích như sơ đồ, ma trận.

Dường như không phải là người địa phương, vì vẻ mặt họ nom ngơ ngác, hai chiếc xe máy chở theo đồ đạc lỉnh kỉnh thì dựng ở ngay bên cạnh. Tuy vậy, thầy Thất Sách vẫn quyết định tiến lại gần và cất tiếng hỏi:

- Chào các vị! Xin cho hỏi: Đường vào Thạch Gia Thôn đi lối nào?

Đám người thấy hai thầy trò tới gần thì tỏ vẻ đề phòng, thái độ cũng trở nên cảnh giác, dè chừng hẳn. Họ im lặng, không nói và cũng chẳng bàn tán gì thêm nữa. Một gã tướng mạo hộ pháp, mặt rỗ nhằng rỗ nhịt, quờ tay gấp vội tấm bản đồ lại. Những tên khác cũng nhăn mặt, tỏ vẻ khó chịu.

- Đi lối kia! Rẽ phải ấy! – Gã mặt rỗ chỉ tay, gắt gỏng, cốt để đuổi thầy trò Tam Văn đi mau cho khuất mắt.

- Cảm ơn các vị! – Thầy Thất Sách lịch sự đáp, dường như chẳng để ý gì đến thái độ khiếm nhã của đối phương.

Hai thầy trò đi rồi, ba gã kia lại tiếp tục giở sơ đồ ra, chụm đầu vào nhau mà bàn tán thậm thụt như trước. Đi được một quãng rồi mà họ vẫn còn nghe thấy loáng thoáng bọn kia xì xầm với nhau nào là sơ đồ kho báu, rồi mộ cổ gì gì đó.

- Những kẻ kia có vẻ đáng nghi lắm! Xem ra chúng chẳng phải là người tử tế gì đâu. “Lén lút như rắn mồng năm” thế kia, nếu không phải là phường gian manh thì cũng là quân trộm đạo chứ chẳng sai! – Tam Văn hằn học, nói.

- Dù họ là ai thì cũng chẳng hề liên quan gì tới ta. Việc họ họ làm, việc ta ta làm. Vả lại, nhận xét về người khác khi ta chưa biết gì về họ là việc không nên! Tam Văn! – Thầy Thất Sách bình thản đáp.

Đi thêm chừng trăm mét, hai thầy trò bắt gặp một cái cổng làng cổ kính có vọng lâu, phía trên đề: “Thạch Gia Thôn”. Vậy là đã đúng địa chỉ, họ yên tâm bảo nhau đi vào trong thôn mà không còn sợ bị lạc đường hay mất phương hướng nữa.

Ở rìa thôn, hiện ra một ngôi mộ lớn sừng sững bên đường. Ngôi mộ hình vòm, rêu mờ che phủ, cây dại và những đám dây leo nhằng nhịt bám đầy xung quanh. Ở giữa có một ô vuông lớn nhô hẳn lên nom như hình một cái cuốn thư. Bên trong có khắc những hoa văn kỳ lạ, không rõ là hình thù gì, nghi là văn tự cổ. Phía trước lại có tượng của hai con Voi bằng đá khổng lồ, nằm phủ phục như để trấn giữ và canh chừng cho ngôi mộ.

- Chà! Ngôi mộ lớn ghê! Chắc hẳn là mộ tổ thầy nhỉ? – Tam Văn hướng ánh mắt về phía ngôi mộ, tò mò hỏi.

Thầy Thất Sách dừng lại, chống gậy nhìn kỹ một lúc, rồi lắc đầu:

- Ngôi mộ tuy bề thế thật, nhưng đó không phải là tổ mộ. Nếu là mộ tổ thì sẽ được con cháu quanh năm hương khói, thờ phụng. Nhưng ngôi mộ này phong cảnh lại hoang tàn, lạnh lẽo. Vả lại, lối kiến trúc cũng không giống kiểu truyền thống của người Việt ta. Nếu ta đoán không nhầm, có thể đó là một ngôi mộ cổ của người phương bắc. Tam Văn!

Tam Văn vẫn còn bán tín bán nghi, vì mọi sự vẫn chưa có gì làm bằng chứng cả. Ở quê chú cũng có một ngôi mộ cổ, nhưng từ thời chiến tranh đã bị người ta tàn phá hết rồi, nay chỉ còn trơ lại một con rùa bằng đá trấn yểm phía trước. Vì vậy mà chú cũng không biết hình hài mộ cổ ấy như thế nào. Chú chỉ nghe người ta truyền tai nhau rằng, ngôi mộ cổ rất linh thiêng. Vào những đêm trăng sáng, thường có một đàn lợn bạc từ trong ngôi mộ chui ra và đi lại long nhong trên đường. Có lẽ vì ngôi mộ ấy chôn toàn bạc trắng, cho nên mới có đàn lợn bạc ấy hiện hình.

Vào đến trong thôn, hai thầy trò xin tá túc được tại nhà một cụ ông tốt bụng. Đó là một cụ già quắc thước, râu dài, tóc bạc phơ nom y hệt như một ông tiên vậy. Lúc ấy, cụ đang ngồi uống trà trước mái hiên, phong thái trầm mặc và rất mực ung dung, tự tại.

Thầy Thất Sách bước đến bên dậu cúc tần, ngập ngừng:

- Thưa cụ!...

Cụ già vểnh chòm râu bạc, nhìn lên:

- Các anh là ai?...

- Chúng tôi là khách bộ hành qua đây…

- Đường xa vất vả. Ngồi xuống đi đã rồi hãy nói! - Cụ già nói và chỉ tay vào chiếc ghế dài đối diện.

- Cảm ơn cụ! - Thầy Thất Sách đáp, rồi bỏ mũ, ngồi xuống. Tam Văn cũng đặt hành lý xuống bậc thềm rồi khép nép ngồi cạnh chủ.

- Ở đây người ta vẫn gọi tôi là Thạch Công. Cứ gọi như vậy là được rồi! – Cụ già nói và thuận tay rót trà.

Thầy Thất Sách kính cẩn:

- Vâng! Thưa Thạch Công!

- Còn chuyện ở thì đơn giản thôi! – Cụ già nói tiếp - Ở nông thôn chúng tôi nhà cửa vốn rộng rãi. Có ai tiếc gì một chỗ ở cho người nhỡ độ đường kia chứ. Nhà chúng tôi lại chỉ có hai ông cháu. Vậy nên hai anh cứ ở lại đây, chừng nào không muốn ở nữa thì lại lên đường!...

Không ngờ mọi sự lại thuận lợi đến thế, thầy Thất Sách mừng rỡ, bèn chắp tay cảm tạ ông lão. Kế đó, thầy nói:

- Thôn ta đây khí tượng trong sáng, cảnh trí nên thơ. Ắt hẳn đây là một vùng đất văn hiến, địa linh, nhân kiệt. Cụ là bậc cao niên, sống nhiều biết lắm, chắc là cũng am tường về gốc tích ngôi làng?...

Cụ già chậm rãi ẩy chén trà về phía khách:

- Các anh hãy uống nước đi!...Còn về lịch sử ngôi làng ấy à?...

- Vâng!...Vâng! – Thầy Thất Sách đỡ lấy chén chè, mắt mở to, ngóng đợi.

- Làng này vốn là do tổ tiên dòng họ Thạch chúng tôi khai phá – Cụ già vuốt râu và bắt đầu dòng hồi tưởng - Cách nay cũng đã mấy trăm năm rồi đấy. Khi ấy, các cụ tổ đã đặt tên là “Thạch Gia Thôn”, với ý nghĩa là thôn trang của người họ Thạch. Ban đầu chỉ có người họ Thạch ở đây thôi. Dần dà, dân tứ chiếng và những dòng họ khác cũng đến đây để chung sức khai phá. Kết quả là đã hình thành nên một vùng dân cư đông đúc, trù phú như các vị đã thấy. Để ghi nhớ công lao những người đã khai phá, mọi người vẫn quyết định giữ nguyên tên thôn như thủa ban đầu…

- Ngay từ khi đặt chân đến đây, chúng tôi đã cảm nhận được cái linh khí ngàn năm của mảnh đất này. Giữa nơi đất đai bằng phẳng, lại mọc lên một ngọn núi thấp, phía dưới chân núi lại có dòng sông uốn lượn, ôm ấp lấy thôn trang. Đó chính là khí tượng sẽ phát tích văn nhân lỗi lạc - Thầy Thất Sách chống tay mơ màng, như đang vẽ ra ra trước mắt mình một bức tranh bằng trí tưởng tượng.

- Xem ra anh cũng là người am hiểu thuật phong thuỷ lắm! - Cụ già vuốt râu, gật gù. Cảm thấy hứng thú với người khách mới quen, cụ tiếp lời - Quả vậy! Từ trước tới nay, làng chúng tôi cũng đã có nhiều người đỗ đạt và làm quan to. Có người là đồng tiến sĩ xuất thân, rồi bảng nhãn, hoàng giáp cũng nhiều. Cũng được coi là đất học và khoa bảng trong vùng vậy!

Từ phía cổng, có một bé trai chừng mươi tuổi, cặp sách trên vai, đang tung tăng đi vào. Đứa bé ấy nom kháu khỉnh và nhanh nhẹn, dường như là vừa đi học về thì phải. Nó bước lên thềm, thẹn thùng chào khách rồi đi nhanh vào nhà.

- Cháu đích tôn của lão đấy. Bố mẹ nó mua nhà ở ngoài thị trấn. Bà lão nhà tôi thì đã mất, nhà cửa rộng thênh thang, vậy nên vợ chồng nó để cháu lại đây ở với ông cho vui cửa vui nhà! – Ông lão nhìn theo đứa bé, nói.

Đứa bé cất cặp sách, rồi lại quay trở ra. Nó tiến đến bên ông, níu áo, nũng nịu:

- Ông ơi! Cháu ra bãi chơi đá bóng ông nhé?!

Ông cụ xoa đầu cháu, âu yếm:

- Ừ! Cháu đi chơi một lúc, rồi còn về ăn cơm!

- Vâng! – Đứa bé đáp rồi co giò, chạy vụt đi, những bước chân bé nhỏ của nó dẫm thình thịch trên nền gạch mốc meo.

Mọi người lại quay lại với câu chuyện còn bỏ dở.

Vừa khi ấy, chợt có tiếng xe máy xành xạch từ phía ngõ vọng vào, mỗi lúc một gần hơn. Mọi người ngơ ngác nhìn ra thì thấy có ba người ăn mặc bụi bặm, đi trên hai chiếc xe máy đang chạy thẳng vào trong sân. Tam Văn nhận ra ngay đó là ba kẻ mà họ vừa hỏi đường lúc nãy. Nhất là cái gã mặt rỗ kia thì chẳng lẫn vào đâu được. Nhưng vì chẳng có thiện cảm, chú chỉ ngồi im và quan sát với một thái độ bàng quan.

Hai chiếc xe máy chạy vào đến sân thì dừng lại. Gã đi đầu xuống xe, hỏi:

- Cụ ơi! Chúng tôi là thợ sơn tràng. Vì đường còn xa, nên ghé vào xin cụ cho ở nhờ một đêm được không? Chúng tôi sẽ gửi tiền cụ hẳn hoi.

Ông cụ nheo cặp mắt mờ đục, nhìn đám người một lúc, rồi nói:

- Còn một ngôi nhà ngang để không kia. Nếu các anh thấy ở được thì ở. Ai mà chả nhỡ độ đường. Các anh cứ thu dọn mà ở, chẳng cần phải tiền nong gì đâu!

- Vậy thì cảm ơn cụ quá! – Cả đám mừng rơn, ồ lên. Rồi cùng bảo nhau dắt xe đi về phía ngôi nhà ngang cuối dãy.

Gã mặt rỗ cố nán lại, gãi đầu gãi tai:

- Cụ ơi! Trên đường vào đây, chúng tôi có nhìn thấy một ngôi mộ bên đường to lắm. Mộ ấy thờ ai vậy cụ?

- Đó chẳng phải mộ của ai cả. Là mộ cổ đấy! – Cụ già đáp.

Hai thầy trò Tam Văn đưa mắt nhìn nhau. Đến lúc này, Tam Văn mới công nhận lời của thầy mình nói lúc chiều là đúng.

Gã kia nghe vậy thì như mở cờ trong bụng. Hắn cúi đầu, gật gù như đang toan tính điều gì đó. Hắn chào mọi người rồi vội vã dắt xe đi theo hai gã kia về phòng. Trước khi đi, hắn còn ngoái lại nhìn Tam Văn với một vẻ dò xét, nghi hoặc. Ánh mắt khiến cho Tam Văn cảm thấy sởn hết gai ốc vì cái vẻ côn đồ, bặm trợn trong đó.

- Chẳng biết hôm nay là ngày gì mà lắm người đến xin ở nhờ thế không biết? – Ông cụ nhìn theo bóng lưng to như tấm phản của gã kia, lẩm nhẩm.

Ba người khách mới đến từ khi vào phòng thì đóng kín cửa không thấy ra ngoài. Chẳng hiểu là họ đang bàn bạc hay làm những gì trong đó nữa.

- Cụ ơi! Cụ có thể kể cho cháu nghe về ngôi mộ cổ kia được không? – Đầu óc Tam Văn vẫn để ở nơi ngôi mộ cổ. Bởi vậy mà chú khẩn khoản, nói.

- Phải đấy! Cụ hãy kể đi. Chính tôi cũng đang rất tò mò muốn nghe đây! - Thầy Thất Sách chêm vào.

Sau thoáng ngần ngừ, cụ chủ nhà vuốt râu, nói:

- Khách lạ đến đây, ai cũng hỏi về ngôi mộ cổ ấy cả. Vì nó bí ẩn, cổ kính và hoang vu…

Rồi với ánh mắt lim dim, cụ già bắt đầu dòng hồi tưởng:

“Từ hồi nhỏ, chúng tôi đã được người lớn kể cho nghe về ngôi mộ cổ ấy. Nó đã có từ lâu, rất lâu rồi, từ khi nước mình còn lệ thuộc vào nước Tàu phương bắc kia. Khi xưa, gặp lúc biến loạn, người phương bắc rút chạy về nước. Người thì chạy được, nhưng của cải thì không kịp mang theo, bởi vậy mà họ đã chôn xuống đất rồi xây mộ lên để cất dấu. Những ngôi mộ ấy đều được trấn yểm và có đánh dấu sơ đồ hẳn hoi để sau này còn quay trở lại lấy. Người già kể rằng, vào ban đêm, người ta thường nhìn thấy những ánh hào quang phát ra từ ngôi mộ ấy. Từ nơi hang hốc sâu thăm thẳm ăn sâu vào huyệt mộ, có một con rắn hổ mang chúa ẩn mình trong đấy. Đã nhiều lần người ta nhìn thấy nó bò từ trong hang ra và nằm phơi nắng trước mộ. Đó là một con rắn hổ chúa màu đen óng ánh, có những sọc khoang vằn vện, mình dài đến ba mét, hai mang của nó khi phùng ra nom như hai cái quạt mo. Tương truyền, đó chính là thần giữ của bảo vệ cho ngôi mộ.

Thần giữ của thiêng lắm. Dường như đã có một lời nguyền định sẵn, tất cả những kẻ có ý đồ đào trộm hay xâm phạm đến ngôi mộ đều phải chịu báo ứng hoặc một kết cục thảm thương. Những kẻ đó nếu không chết phi mạng thì cũng phát điên hoặc gặp phải tai ương, tật ách.

Cách nay đã lâu, ở làng bên có một gã phú hộ tham lam và gian ác. Dù đã có tiền muôn ức vạn, nhưng gã vẫn còn muốn giàu thêm. Biết được ngôi mộ cổ có chứa nhiều châu báu, lòng tham hắn liền trỗi dậy và bốc cháy ngùn ngụt như ngọn lửa mà chẳng thể nào dập tắt được. Thế rồi, sau nhiều đêm nằm vắt tay lên trán suy tính, hắn quyết định rủ thêm người đầy tớ của mình cùng đi trộm mộ.

Bữa ấy, gã nhà giàu và anh người ở mang theo dây thừng, xô chậu, cuốc, thuổng rồi lén lút đi ra ngôi mộ cổ. Sau một lúc đào bới mệt đến bở hơi tai, họ thấy phía dưới lộ ra một cái hang sâu hun hút và tối đen như đường xuống âm phủ.

Tên phú hộ chống thuổng, bặm môi suy tính một lúc. Vốn gian hiểm, hắn đảo mắt, nói:

- Bây giờ tao sẽ giòng dây để mày xuống đó. Nếu thấy có báu vật gì, cứ việc cho vào xô rồi giật dây báo hiệu để tao biết mà kéo lên. Nghe chửa!

Vốn tính thật thà, người đầy tớ chẳng mảy may nghi ngờ gì cả. Anh ta vui vẻ cầm theo cái xô rồi lập tức bám vào sợi dây và nhanh chóng tụt xuống hang.

Lúc chân vừa chạm đất, trước mắt anh ta hiện ra cả một thế giới ngầm đầy bí hiểm. Khu hầm mộ được xây bằng gạch nung hình vòm, có nhiều ngách và hang hốc như một mê cung. Vàng ngọc, châu báu thì để ngổn ngang, nhiều vô số kể, đến nỗi anh ta nhìn đến loá cả mắt. Mừng rỡ, anh đầy tớ vơ vội những thứ ấy cho vào xô, rồi giật dây ra hiệu. Gã chủ ở trên thấy sợi động thì vội dùng hết sức bình sinh kéo dây lên. Thấy có nhiều vàng ngọc, hắn sướng đến rơn người, chỉ còn nước muốn phát điên. Sau khi đã trút hết số châu báu ra đất, hắn lại tiếp tục thòng dây xuống. Cứ thế, chuyến nào hắn cũng kéo lên được một xô đầy những vàng ngọc, châu báu. Nhiều đến nổi đã chất thành gò, thành đống trên mặt đất.

Chuyến sau cùng, thấy chỉ có cái xô không, hắn biết là bên dưới đã hết của cải. Nhìn đống của cải chất đầy như núi, lòng tham nổi lên, hắn liền nghĩ bụng:

 - Nếu kéo thằng đầy tớ lên, ta sẽ phải chia kho báu này với hắn. Chi bằng, nhân lúc nó đang ở dưới kia, ta lấp đất chôn sống hắn luôn cho rồi. “Nhất cử lưỡng tiện”, vừa không phải chia của, lại vừa chẳng ai biết, ai hay!

Người đầy tớ ở dưới hang, chờ mãi mà vẫn không thấy sợi dây thòng xuống để kéo mình lên thì lấy làm sốt ruột lắm. Vừa khi ấy thì chợt thấy đất đá từ trên dội xuống ào ào như thác lũ. Hốt hoảng, anh vội chui vào một cái ngách gần đó để ẩn nấp, tránh bị đất đá rơi vào người. Vài phút sau, cửa hang phía trên đã tối bưng, không còn thấy một chút ánh sáng nào nữa. Lúc này, anh mới bàng hoàng nhận ra là mình đã bị tên chủ lừa gạt và chôn sống. Mệt mỏi, lại vừa uất ức vừa sợ hãi, anh ngồi tựa lưng vào thành hang nghỉ ngơi và rồi thiếp đi.

Lúc tỉnh dậy, anh đầy tớ thấy có một cụ già đang đứng trước mặt và nhìn mình chằm chằm. Sợ quá, anh vội quỳ xuống, sụp lạy. Cụ già nói:

- Nhà ngươi đã bị chủ nhân phản bội và giam hãm ở đây. Đáng thương thay! Niệm tình ngươi là người thật thà, tốt bụng, ta sẽ cứu vớt để ngươi còn về với vợ con. Bây giờ thì hãy đi theo lối này mà về nhà!

Như chết đuối vớ được cọc, anh đầy tớ mừng rỡ, vừa vái lạy vừa cảm tạ luôn mồm. Đang lúc anh toan đi thì cụ già lại nói:

- Khoan đã! Nhà ngươi đã đến đây chẳng lẽ lại về tay không. Hãy nhặt thứ gì đó trên đường đi mang về để làm kỷ vật.

Anh ta nghe lời, liền nhặt đại mấy hòn đá cuội bên đường, nhét đầy vào hai túi rồi đi về. Sau một lúc lần mò trong bóng tối, quả là anh đã lên được đến mặt đất. Khi về nhà, anh đầy tớ lấy những hòn đá cuội ấy ra xem. Nào ngờ tất cả đều đã biến thành vàng ròng cả. Lúc này anh mới biết, ông lão kia chính là thần rắn, vị thần giữ của mà thiên hạ vẫn lưu truyền.

Lại nói về tên hào phú nọ. Sau khi làm cái việc thất đức là chôn sống người đầy tớ của mình, hắn vội vàng vận chuyển hết số của cải đào trộm được kia về nhà. Thế nhưng hôm sau, chẳng hiểu vì sao, toàn bộ số vàng ngọc châu báu ấy đều đã bị biến thành gạch, đá cả.

- Ôi! Đâu rồi…Vàng bạc của tôi!...Châu báu của tôi! – Gã vốc lên một nắm gạch, đá và gào lên như hoá điên hoá rồ.

Từ đó, vì tiếc của, gã phú hộ đã phát bệnh điên rồi bỏ nhà đi lang thang, biệt tích”.

Tam Văn ngồi lặng thinh trên ghế, nét mặt bần thần. Câu chuyện của ông lão khiến chú cảm thấy mê hoặc và bâng khuâng. Chú nhận thấy rằng, quanh những ngôi mộ cổ bao giờ cũng có những câu chuyện ma quái, huyễn hoặc như vậy. Chẳng hiểu là có thật hay do người đời sau nghĩ ra nữa.

- Chà!...Chà!...Xem ra thần giữ của cũng biết phân biệt chính, tà. Cũng biết thương người tốt bụng và căm ghét kẻ gian tham! – Tam Văn buộc miệng, nhận xét.

- Đúng thế! “Ác giả ác báo, thiện giả thiện lai”. Nhân nào thì quả nấy vậy! – Ông lão gật gù, nói.

- Câu chuyện thật hay và nhuốm màu huyền bí! - Thầy Thất Sách bồi hồi.

Hoàng hôn dần buông. Ráng chiều đỏ rực phản chiếu những đám mây, khiến cho những ánh hào quang toả ra như hình một chiếc rẻ quạt.  Khu vườn trước sân nhạt nhoà, những cành cây rậm rạp đung đưa cũng chìm dần vào bóng tối. Mái ngói xô nghiêng, in thành những mảng màu đen thẫm trong khoảng không sáng tối nhạt nhoà. Cảnh vật không còn nhìn rõ nữa, chỉ còn nghe thấy những âm thanh, những tiếng rạt rào của cơn gió thổi qua cành lá…

Lúc này, trong căn phòng chật hẹp của ngôi nhà ngang. Dưới ngọn đèn điện đỏ quạch, ba cái đầu đang chụm vào nhau để bàn bạc, mưu tính. Chúng ngồi thành vòng tròn, quanh tấm sơ đồ bí hiểm, mọi ánh mắt đều nhìn dán vào đó với một vẻ chăm chú và tập trung cao độ.

Với nét mặt lo lắng, gã mặt rỗ hạ thấp giọng, thì thầm:

- Không ngờ hai cái gã mà chúng ta gặp hồi chiều cũng đang có mặt ở đây. Cái gã đen lùn thì không chấp làm gì, nhưng cái lão cầm gậy, nét mặt lúc nào cũng khó đăm đăm ấy thì xem ra không thể xem thường được đâu. Nhỡ chúng đánh hơi được, rồi làm hỏng kế hoạch của chúng ta thì sao?

Gã đầu đảng chống tay lên cằm, đảo mắt suy nghĩ rất lung, cặp lông mày chổi sể của hắn nhíu lại như hai thanh kiếm vút cong. Lát sau, gã xốc lại chiếc áo bò bạc phếch đang mặc trên người, phẩy tay:

- “Đánh rắn động cỏ”. Mặc kệ chúng đi! Cứ im lặng mà làm, chớ có đánh động chúng mà hỏng việc. Vả lại, việc của chúng ta là ở ngoài kia chứ có phải là ở đây đâu mà sợ!

Hai gã kia thấy thế thì cũng tỏ ra yên tâm, không nói gì thêm nữa. Rồi chúng lại cúi xuống tờ giấy, vừa thì thầm vừa chỉ trỏ như đang nghiên cứu và phân tích địa đồ vậy.

Khoảng cuối giờ Hợi đêm ấy. Khi cảnh vật “Cửu Trại Thôn” đã chìm vào giấc ngủ say. Cánh cửa phòng trọ đột nhiên mở toang, rồi ba bóng đen từ trong bước ra, chúng vác theo cuốc, thuổng và đồ nghề trên vai rồi lẻn ra khỏi nhà như những bóng ma. Sau khi đã mở cánh cổng khép hờ, chúng lách người qua rồi men theo con đường làng khấp khểnh mà bước đi mải miết. Gió trên những đám cành lá vẫn vi vút thổi, lành lạnh và thê lương.

o0o

Sáng hôm sau, trong lúc thầy Thất Sách cùng cụ chủ nhà đang ngồi uống trà trước hiên nhà thì thấy đứa bé bổng từ đâu hớt hải chạy về.

Cặp mắt nó mở to, mặt mày tái xanh tái xám. Có vẻ như nó đang sợ hãi điều gì đó lắm thì phải. Vừa thở hổn hển, nó vừa cất giọng lắp bắp:

- Ông!...Ông ơi!...

- Có chuyện gì mà hốt hoảng thế? – Ông cụ nhoài hẳn người về phía trước, hỏi dồn.

- Mấy người khách nhà ta… Họ bị…bị điên rồi…

- Ở đâu?

- Ngoài ngôi mộ cổ ấy. Họ cứ nói năng lảm nhảm, tóc tai thì rũ rượi. Vừa bò lê dưới đất, họ vừa khóc lóc vừa luôn miệng cầu xin được thần rắn tha tội…

- Thế họ không còn ở trong nhà sao? – Ông lão hỏi và nhìn về phía cánh cửa nhà ngang khép hờ.

- Không! – Thằng bé lắc đầu quầy quậy – Lúc nãy cháu cũng đã xem rồi. Chẳng còn thấy ai ở trong đó cả.

- Thế họ làm gì ở ngoài ấy?

- Cháu nghe nói là họ đào trộm mộ!

Ông cụ quay nhìn thầy Thất Sách, nói:

- Vậy là họ đã bị thần giữ của trừng phạt đấy! Tôi đã nói rồi. Thần giữ mộ thiêng lắm. Ngài thường hiện hình trong hình hài của một con rắn hổ mang chúa…Đúng là như vậy!...

- Thì ra đó là những kẻ trộm mộ! – Thầy Thất Sách thốt lên bàng hoàng.

- Cha chả!... Hôm qua, ngay từ lúc gặp họ, chúng tôi cũng đã sinh nghi rồi! - Tam Văn vỗ tay lên trán, chua thêm.

Quả thế! Ba gã kia chính là những kẻ chuyên đi săn tìm kho báu và đào trộm mộ xưa nay. Sở dĩ, chúng nhắm vào nhà ông lão, là vì ở đây gần với vị trí của ngôi mộ. Chúng thuê ở đây là để dễ bề quan sát và hành động. Còn tờ giấy bí ẩn mà chúng luôn mang theo bên mình kia, chính là bản đồ kho báu mà bằng một cách nào đó, chúng đã có được trong tay vậy.