Tế mộ tổ, hảo hán cao chạy xa bay
Nhẹ đường mây, giang hồ thênh thang thẳng
lối.
Mùa xuân về trên “Đạo nhân thi quán”. Muôn hoa đua nở, cây cỏ
đâm chồi, nẩy lộc tốt tươi. Hoa hồng, hoa thược dược, cúc hoạ mi, hoa lay ơn,
violet cùng nhau đua sắc, như khoa trương những vẻ đẹp vô ngần. Gió xuân phe phẩy,
lay động những búp non, lá nõn trên cành. Đất trời cùng giao hoà làm một, muôn vật
đều nẩy nở, sinh sôi. Thực là một cảnh tượng xinh đẹp và tốt tươi, tựa như chốn
thiên đường nơi cõi thế vậy.
Thế nhưng, cái khung cảnh diễm lệ ấy đã không thể nào trói buộc
được lòng người, không làm cho cái tráng chí trong lòng thầy Thất Sách hư hao đi
chút nào cả. Dòng máu anh hùng, nghĩa hiệp vẫn không ngừng cuộn chảy bên trong
huyết quản của thầy. Cái chí hành hiệp giang hồ vẫn như ngọn lửa âm ỉ không
thôi, chỉ chờ một cơn gió thổi qua là sẽ bùng cháy lên thành biển lửa ngút
ngàn.
Vậy nên, giữa cái khung cảnh tưởng chừng như thái bình, thịnh trị
ấy lại đang giam hãm một bóng hình ủ dột, một tâm hồn chất chứa muôn vàn nỗi cô
đơn. Nhân vật ấy chính là thầy Thất Sách, vị hiệp sĩ anh hùng và vĩ đại của
chúng ta vậy.
Như đã nói, việc phải chịu đựng một cuộc sống quản thúc và bó buộc
đã khiến cho thầy Thất Sách buồn rầu khôn xiết. Thầy đi lại và sinh hoạt trong
“Đạo nhân thi quán” như một cái bóng âm thầm của chính mình. Hằng ngày, thầy
làm những công việc vặt vãnh để giải khuây, để quên đi cái thực tại u buồn, tăm
tối mà chính mình cũng chưa biết làm cách nào để thoát ra.
Cuộc sống của thầy giờ đây đã khác xưa, và cũng không thể quay
trở lại như trước được nữa. Khi đã quen sống trong tăm tối nô lệ, không biết đến
ánh sáng tự do là gì, thì anh không bị đề phòng, nghi kị. Vì anh chỉ là một sản
phẩm bị cai trị và nhồi sọ, là một công cụ trong tay người khác mà thôi. Khi đã
quen và chấp nhận với điều đó, anh vô hại, anh chẳng thể giải phóng cho chính
mình và cũng chẳng giúp ích được cho ai. Nhưng một khi đã từng vươn tới ánh
sáng tự do, anh chẳng thể làm nô lệ như trước đây được nữa. Điều đó khiến cho
những thế lực thống trị cảm thấy nghi kị anh (Thầy Thất Sách gọi những kẻ mưu
toan quản chế mình là tầng lớp thống trị). Vì thế mà anh phải bị kiểm soát, bị
giam hãm và đề phòng. Họ sợ anh sẽ đem thứ ánh sáng tự do ấy chiếu rọi lên đời
sống, giác ngộ những thân phận nô lệ vùng lên đập tan xiềng xích, xoá bỏ bất
công. Trong một môi trường mà tư tưởng cấm đoán thống trị thì những tư tưởng tự
do, khai phóng sẽ bị kìm hãm và trói buộc. Thầy Thất Sách hiểu rằng, muốn thoát
khỏi cảnh ấy, đòi hỏi người ta phải có trí tuệ, sự kiên trì và lòng dũng cảm vô
song. Những thứ ấy tuy hiếm, nhưng lại là phẩm chất sẵn có ở thầy, một hiệp sĩ
vĩ đại, người đã được vua Hùng đích thân báo mộng và đã lập được vô số những
chiến công hiển hách.
Ngoài việc ức chế vì bị hoàn cảnh kìm hãm, việc phát hiện ra cái
tủ sách của mình bị mất càng khiến thầy Thất Sách trở nên u buồn hơn. Đối với
thầy, những cuốn sách ấy là linh hồn, là lẽ sống của thầy vậy. Thử hỏi, một khi
con người ta bị lấy mất đi cái linh hồn thì sẽ còn lại những gì? Chỉ còn là một
cái xác khô, không có sức sống và cũng không còn mục đích gì để tồn tại nữa.
Cũng vì việc này mà thầy đã buồn rầu đến nỗi bỏ ăn đến hai ngày. Người thầy gầy
rộc đi, ngẩn ngơ như một người mới phát bệnh tâm thần vậy. Đến nỗi bà Lan phải
phát hoảng và đứng ngồi không yên. Vô kế khả thi, bà cầu cứu bác trưởng tộc để
tìm cách giải quyết. Đáp lại, bác trưởng tộc vẫn kiên định với mục tiêu: “Thuốc
đắng giã tật. Có làm như thế thì ông ấy mới khỏi bị ảnh hưởng bởi những cuốn
sách kiếm hiệp tai hại kia” – Bác nói.
Nhưng thầy Thất Sách chỉ buồn mà bỏ ăn chứ thầy đâu có ý định
tuyệt thực. Vì vậy mà đến ngày thứ ba thì thầy chấp nhận ăn uống trở lại như
bình thường.
Điều khiến thầy Thất Sách cảm thấy nguôi ngoai được phần nào, ấy
là tuy mất cái tủ sách, nhưng giờ đây thầy đã hiện thực hoá nội dung những cuốn
sách ấy thông qua cuộc phiêu lưu kỳ thú của mình. Điều ấy chẳng phải là thầy đã
kế tục tiền nhân, đã phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới rồi hay
sao. Những nhân vật được miêu tả ở trong sách, giờ đây đã bước ra ngoài đời và
sống một cuộc sống thực rồi hay sao. Vì vậy mà việc còn hay mất cái tủ sách ấy,
đối với thầy giờ này cũng đâu còn là vấn đề quan trọng lắm nữa.
o0o
Một buổi sáng xuân, thầy Thất Sách ngồi trên chiếc tràng kỉ quen
thuộc, chống cằm tư lự nhìn ra ngoài vườn mà thương nhớ giang hồ. Thầy đang suy
nghĩ về những hành động của mình sắp tới, đúng hơn là chuẩn bị tinh thần cho một
cuộc vượt ngục vô tiền khoáng hậu vậy.
- Ăn sáng thôi! Ông ơi!
Tiếng bà vợ vang bên tai khiến cho thầy Thất Sách sực tỉnh. Bà đặt
tô bún bốc khói nghi ngút lên bàn, cẩn thận và khéo léo như một người chạy bàn
chuyên nghiệp.
Thầy miễn cưỡng ăn, hờ hững múc từng thìa bún nhỏ cho lên miệng.
Ráng mãi mà thầy cũng chỉ ăn hết nửa tô, còn lại thì bỏ dở. Bà vợ kiên nhẫn chờ
cho chồng ăn xong, thu dọn bát đũa rồi mang khay trái cây vào.
- Ông tráng miệng đi! Ăn chuối tốt cho sức khoẻ và tiêu hoá lắm
đấy! – Bà ân cần nói.
Chiều bà, ông bóc một quả chuối lùn rồi đưa lên miệng nhai trệu
trạo. Trong lúc nhai, hai bên má ông cứ lồi lên lõm xuống như hai quả bóng bàn,
nom đến là buồn cười.
Bà nhìn ông bằng một ánh mắt chăm chút, rồi lựa lời, nói:
- Ông xem, đường đường là chủ của “Đạo nhân thi quán”. Đang có tất
cả trong tay, vậy mà bổng dưng ông lại bỏ nhà đi lang thang như một kẻ hành khất,
khiến cho người đời khinh rẻ như vậy. Ông về đây sướng như vương như tướng, muốn
gì được nấy, tôi sẽ chăm sóc và nâng giấc ông tận tình. Như thế có phải là tốt
hơn không nào?!
Ông chỉ ậm ừ cho qua chuyện, vì ông thừa hiểu rằng, đó chỉ là
chiêu trò của những người phụ nữ. Họ luôn có xu hướng làm quá lên, thêu dệt những
thứ họ ghét thành những điều gớm ghiếc, tội lỗi để hù doạ, khiến cho đối phương
lần sau không còn dám tái phạm nữa.
Đàn ông nông cạn vẫn là giếng thơi, đàn bà có sâu sắc cũng
chỉ như cái cơi đựng trầu. Bởi vậy mà những lời của bà ông đâu có để vào tai.
Cái chí của ông là lưu lạc giang hồ, là hành hiệp trượng nghĩa, với ông đó là
lý tưởng, là mục tiêu phấn đấu một đời vậy. Xưa nay, ông nào có tôn thờ cái thứ
chủ nghĩa núp váy đàn bà bao giờ? Vậy nên, cho dù bà có tỉ tê thế nào đi nữa,
có mua chuộc cách gì, cũng đâu lay chuyển được cái ý chí sắt thép vùng vẫy
giang hồ ấy kia chứ.
Bữa ấy, nhân lúc bà Lan vừa mới xách làn đi chợ. Thầy Thất Sách
liền viết một mẫu giấy nhỏ, bỏ vào túi áo rồi cài cúc lại kín kẽ. Cái áo này
nguyên là của Tam Văn hồi trước còn để quên ở đây. Sau đó ông gấp áo lại vuông
vắn, cho vào một cái túi ni lông cẩn thận. Ông gọi con bé Trang lại, trao cái
túi cho nó, rồi giơ ngón tay lên, dặn:
- Cháu đưa cái áo này đến nhà chú Mạnh Đình nghe chưa. Dặn chú ấy
là phải coi cho kỹ xem có đúng là áo của mình không. Nhớ là chỉ được trao cho
chú ấy thôi nhé. Đưa xong lại về ngay. Nhớ chưa?!
- Dạ! Cháu nhớ rồi! – Đứa bé ghếch mũi lên, nghe như nuốt từng lời
của ông, rồi lập tức đón lấy cái áo, quày quả đi ngay.
Nhớ lời ông dặn, cô bé đi gấp gáp, hai chân cứ như ríu vào nhau,
chẳng dám nhìn ngang, ngó dọc đâu cả. Đến nơi, thấy chú Mạnh Đình (tức Tam Văn)
đang tưới rau ngoài vườn, nó lớn tiếng gọi:
- Chú Mạnh Đình ơi! Ông cháu dặn đưa cho chú cái này!
Nghe tiếng gọi, Tam Văn ngừng tay, ngửa cổ ngó vào. Nhận ra đứa
cháu gái của thầy, chú đặt vội cái thùng tưới nước xuống, chùi hai bàn tay vào ống
quần rồi tất tả đi vào.
Đứa bé nhắc lại nguyên văn lời ông dặn, rồi trao cái áo cho Tam
Văn.
- Ông cháu còn dặn gì thêm không? – Tam Văn nhìn nó, cẩn thận hỏi
lại.
- Dạ không! Ông chỉ nói là chú xem cho kỹ có đúng là áo của chú
không – Đứa bé đáp xong, chào Tam Văn rồi lại vội vã quay về ngay.
Tam Văn chống tay, thẩn thờ ngồi xuống thềm. Nghĩ đến lời của thầy,
chú trãi cái áo ra, tỉ mẩn kiểm tra thật kỹ một lúc. Nhưng mãi mà vẫn không thấy
gì khác ngoài chiếc áo đã được giặt giũ và là ủi cẩn thận. Chú bóp trán, băn
khoăn nghĩ: “Thầy ta đã dặn xem kỹ, hẳn phải có ẩn ý chi đây. Sao lại không thấy
gì là sao nhỉ?”. Rồi để cho chắc chắn, chú lại xoay ngang, xoay dọc chiếc áo
xem thêm một lần nữa. Sau cùng, khi mở cúc túi áo, chú thấy có một mẫu giấy rơi
ra. Mắt chú sáng rỡ, hồi hộp cầm lên, đọc: “Chuẩn bị xuất hành. Ngày
mai tìm cớ đến nhà thầy để bàn bạc kỹ hơn. Xem xong đốt ngay!”
Tam Văn đọc xong, dùng tờ giấy làm đóm, châm lửa hút ngay một điếu
thuốc lào, rồi nhả khói mù mịt.
Thú thực, lâu nay chú cũng đã ngán lên tận cổ cái cuộc sống cá
chậu chim lồng này lắm rồi. Một lòng một dạ, chú chỉ khao khát muốn được trở lại
cuộc sống tự do bay nhảy như xưa. Vậy nên khi bắt được liên lạc với thầy, chú
đã mừng rơn, chẳng khác nào như nắng hạn gặp mưa rào cả. Hai thầy trò thế là lại
cùng chung một chí hướng, một mục đích sống, thực là tri âm gặp tri kỷ vậy.
Hôm sau, thu dọn nhà cửa xong, bà Lan để thầy Thất Sách ở nhà một
mình rồi tranh thủ chạy đi chợ một lúc.
Lúc này ở nhà, Tam Văn cũng nói với vợ:
- Mình ơi! Cái chuồng gà nhà mình đã bị hỏng. Tôi đi mượn cưa, đục
về để sửa lại đây!
Nghĩ đến cái chuồng gà sập sệ, đã bị nghiêng hẳn một bên mái, cô
vợ đồng ý ngay tắp lự:
- Phải rồi! Nhưng mình đi rồi về ngay nhé!
- Dĩ nhiên rồi! Tôi đi một lúc là về ngay! – Tam Văn mừng quýnh
vì mọi việc diễn ra đúng ý mình.
Chỉ mấy phút sau, Tam Văn đã có mặt tại nhà thầy mình. Gặp lại
người đệ tử trung thành, thầy Thất Sách mừng đến nỗi muốn phát điên, tay cứ vỗ
bồm bộp mãi vào lưng chú mà lẩm nhẩm không ngớt:
- Anh lại đây là tốt rồi!...Vậy là tốt rồi!...Ngồi xuống đây! Ngồi
xuống đây!...
Vì sợ mất thời gian, hai thầy trò bàn ngay vào công chuyện. Thầy
Thất Sách nói:
- Tình cảnh của hai thầy trò ta hiện nay thật chẳng khác nào ông
Lưu Huyền Đức khi xưa cả. Khi ấy, Tôn Quyền là chúa tể Giang Đông, đã giữ Lưu
Huyền Đức ở lại rồi gả em gái cho. Để làm cho Huyền Đức nhụt chí lớn, ông ta đã
cho xây dựng lầu các tráng lệ, trồng ở đó nhiều thứ hoa thơm cỏ lạ. Những mong
Huyền Đức vì ham mê phú quý mà quên đi bọn Quan, Trương và Khổng Minh ở Kinh
Châu. Nhưng rồi nhờ có mưu kế tuyệt diệu của Khổng Minh, Huyền Đức đã bỏ trốn về
Kinh Châu một cách an toàn. Trò có biết đó là cách gì không?
Tam Văn lắc đầu không hiểu. Thầy Thất Sách giải thích:
- Ấy là hai vợ chồng vờ đi ra bờ sông để tế mộ tổ. Sau đó
nhân cơ hội, họ thẳng tiến luôn về Kinh Châu.
Tam Văn ngồi chống cằm, ngẩn người ra mà nghe như nuốt lấy từng
lời của chủ, hai cánh mũi không ngớt phập phồng vì cảm động. Liên hệ với hoàn cảnh
hiện nay, chú thấy những lời kia mới đúng làm sao, hay và thấm thía nhường nào.
Thầy Thất Sách nhấp một ngụm nước cho bớt khô giọng, rồi nói tiếp:
- Thời xưa, hễ cứ đầu xuân là các bậc quân vương lại cất quân
chinh chiến. Vì lúc này đã qua đi mùa đông lạnh giá. Xuân đến, khí hậu ấm áp, cảnh
vật tốt tươi, rất hợp cho việc xuất chinh đánh trận. Ta nay cũng vậy. Nhân lúc
xuân sang, chúng ta sẽ Nam chinh, tiếp tục cuộc du hành vĩ đại của hai thầy trò
ta. Ngươi hãy về chuẩn bị dần đi là vừa. Khi nào đi ta sẽ báo. Hãy nhớ, khi cần
là phải đi ngay, gọn gàng, ngăn nắp, không cần cồng kềnh gì cả.
Để khích lệ tinh thần của Tam Văn, thầy cũng nhắc đến chuyện sẽ
mua cho chú bộ đồ rằn ri như chú hằng mơ ước. Thầy hứa là trên đường đi, hễ gặp
cửa hàng quần áo nào đầu tiên thì sẽ ghé vào để mua cho chú ngay tắp lự.
Dĩ nhiên là Tam Văn hoàn toàn đồng ý với ý kiến của thầy mình. Đợi
cho thầy dứt lời, chú phấn khởi đứng lên, nói:
- Vâng! Còn bây giờ thì con về đây! Trùng trình lâu, sợ bác gái
về bắt gặp và vợ con ở nhà lại sinh nghi chăng?!
o0o
Trời không phụ người có lòng, thế rồi cơ hội vượt ngục ngàn năm
một thủa cũng đã tới. Bữa ấy bác trưởng tộc tổ chức họp họ và gửi giấy mời đến
toàn thể các chủ hộ trong họ. Bởi vậy mà dịp ấy cả hai thầy trò Tam Văn đều có
mặt đầy đủ cả. Thầy Thất Sách ngồi mâm trên, cùng với bác trưởng tộc và các cao
niên. Tam Văn thì ngồi chiếu dưới, cách chỗ thầy hai dãy bàn. Trong lúc này, thầy
Thất Sách chỉ cốt nghĩ sao để có thể bắn tin được cho Tam Văn. Thành ra mọi người
cứ nói cười lao xao, nhưng thầy thì chẳng để ý và cũng chẳng nghe thấy gì cả.
- Ông có đang nghe tôi nói không đấy? – Bác trưởng tộc vỗ vỗ vào
vai thầy Thất Sách, hỏi.
Thật Thất Sách giật nảy mình:
- Bác vừa nói gì ấy nhỉ?...Vâng!...Bác cứ nói tiếp đi!...
- Tôi đang nói với mọi người là sẽ bầu cử ông làm trưởng ban
biên soạn gia phả! – Bác trưởng tộc nhắc lại.
- À!...Vâng!...Tôi xin sẵn lòng! – Thầy Thất Sách đáp như cái
máy, nhưng đầu óc thì vẫn đang để trên mây.
Chuyện trò một lúc, nhân lúc mọi người không để ý, thầy Thất
Sách bèn đứng dậy để đi vệ sinh. Lúc ngang qua chỗ học trò, thầy bèn đưa mắt ra
hiệu. Tam Văn hiểu ý, liền đứng dậy đi theo chủ. Ra đến đầu hồi, chú thấy thầy
mình đang đứng lần chần ở đó có ý đợi. Chờ cho Tam Văn tiến lại gần, thầy Thất
Sách nhìn trước ngó sau, rồi cất giọng thầm thì:
- Tám giờ sáng mai. Gặp nhau ở mộ tổ! Mang luôn cả hành lý theo!
Nhớ chưa?!
Tam Văn gật đầu lia lịa nhưng không dám hỏi nhiều. Thông điệp mà
thầy đưa ra tuy ngắn gọn nhưng đã khá đầy đủ rồi. Có nghĩa sáng mai họ sẽ lên
đường, nói cách khác là cùng nhau bỏ trốn. Hai người trao đổi xong, sợ mọi người
bắt gặp sẽ sinh nghi, mỗi người bèn tản đi một ngả.
Sáng hôm sau, thầy Thất Sách bỏ tấm bản đồ, sách kinh dịch, cuốn
sổ nhật ký và cả cái radio nhỏ (còn gọi là bốn bảo bối) vào túi vải. Thấy thầy
khoác cái túi lên vai như sắp đi đâu, bà vợ cảnh giác, hỏi:
- Ông định đi đâu đấy?
- Nhân dịp đầu xuân, tôi ra tế mộ tổ! – Thầy Thất Sách nghiêm nghị
đáp, nhưng vẫn tim đập chân run vì sợ bị vợ phát hiện ra sự giả mạo của mình.
- Tế mộ tổ thì ông đem túi theo làm gì? – Bà vợ nhìn chằm
chằm vào chiếc túi một cách dò xét.
- À! Trong túi chỉ có mấy nén hương và lễ vật thôi! - Ông đáp, cố
làm ra vẻ thản nhiên.
Lại nói về Tam Văn. Lúc này chú cũng đang sửa soạn hành lý để
chuẩn bị lên đường. Chú bỏ cái điếu thuốc lào đã cưa ngắn và thanh đoản đao vào
túi. Lại thêm một ít bánh và lương thực đủ ăn trong ngày. Mục tiêu của chú là
trang bị gọn nhẹ, hàng hoá bây giờ sẵn tiện, trên đường cần gì sẽ mua sắm sau.
Đợi lúc vợ sang nhà hàng xóm có chút việc, chú khoác vội cái túi lên vai, đi ra
mở cổng rồi nhanh chóng lẻn ra ngoài.
Vừa đến cổng nghĩa địa, Tam Văn đã nhìn thấy cái dáng quen thuộc
của thầy Thất Sách đang quỳ trên đám cỏ, sì sụp khấn vái trước mộ tổ. Cạnh đó,
khói trên lư hương đang bốc cháy nghi ngút.
- Thầy đã thắp sẵn hương. Trò hãy bái lạy tổ tiên đi! – Thầy Thất
Sách nói khi vừa nhìn thấy Tam Văn bước tới.
Tam Văn bỏ cái túi xuống bãi cỏ, quỳ xuống trước mộ tổ, chắp tay
khấn vái.
Sau đó, hai thầy trò trao đổi nhanh với nhau một lúc. Không đợi
hết tuần nhang, họ quyết định lên đường ngay.
- Chúng ta đi ngay thôi! Cần phải lên xe trước khi họ kịp phát
hiện ra và đuổi theo bắt lại! – Thầy Thất Sách nói.
Thực là:
Phá tan cũi sắt, hùm lên núi
Chim sổ lồng rồi, tung cánh bay
o0o
Đợi một lúc lâu mà vẫn không thấy chồng về, bà Lan đã sinh nghi.
Trống ngực đập thình thình, linh tính mách bảo cho bà biết đã có chuyện gì đó
không hay. Lòng đầy lo sợ, bà vội vàng đi vào nhà để kiểm tra lại đồ đạc xem
sao. Một lúc thì phát hiện ra chiếc radio nhỏ đã không còn để ở trên bàn nữa.
“Đúng rồi! Ông ấy đi đâu đều mang cái đài theo. Vậy là lại bỏ nhà ra đi thật rồi!”
– Bà Lan lo lắng nghĩ.
Vừa khi ấy thì vợ Tam Văn cũng hớt hải chạy tới:
- Bác ơi! Nhà cháu chẳng biết đi đâu từ sáng đến giờ mà không thấy.
Cháu nghi là họ lại bỏ trốn với nhau rồi! Chỉ sổng ra có một chút, vậy mà…
- Ông nhà tôi cũng vậy. Lúc sáng, ông ấy nói ra thắp hương ở mộ
tổ. Đến giờ cũng chẳng thấy tăm hơi đâu cả! – Giọng bà Lan như mếu.
Hai người đàn bà nhìn nhau cay đắng, ánh mắt hốt hoảng, thất thần.
Chẳng biết làm sao, họ chỉ còn biết vừa than thân trách phận vừa dậm chân kêu
khổ.
- Biết làm sao bây giờ hả bác? – Vợ Tam Văn hoang mang, hỏi.
Bà Lan đảo mắt nhìn quanh, rồi quả quyết:
- Nhanh lên! Tôi với cô phải đi gọi ngay bác trưởng tộc và ông
Thái đến giúp thì mới được.
Thế là một lúc sau, cả bốn nhân vật chủ chốt đều đã có mặt để
bàn định.
Ông Thái nói:
- Thế bà và cô đã xem xét kĩ chưa? Nhỡ họ chỉ đi đâu đó một lúc
thì sao?
- Tôi cũng đã ra mộ tổ kiểm tra rồi. Không còn người ở đó nữa,
chỉ thấy khói hương nghi ngút cháy. Đồ đạc trong nhà cũng đã dọn đi hết cả rồi!
– Bà Lan đáp.
Bác trưởng tộc bặm môi suy nghĩ, rồi nói:
- Nếu vậy thì đúng là họ mượn cớ đi viếng mộ tổ để bỏ trốn thật
rồi. Lần trước vì không biết duyên cớ do đâu. Nhưng lần này thì đã biết họ bỏ
trốn. Bây giờ chúng ta chỉ còn cách đuổi theo thôi!
Ông Thái chỉ tay:
- Nếu vậy thì đi mau! Binh quý ở thần tốc. May ra thì còn bắt kịp
họ!
Thế là cả bốn người rồng rắn, bước thấp bước cao, cùng nhắm theo
hướng quốc lộ mà thẳng tiến. Ai nấy đều hy vọng, sẽ mau chóng đuổi kịp thầy trò
Tam Văn để bắt về quy án quản chế.
Trên đường, họ giục nhau đuổi nhanh, người nào người nấy đều thở
không ra hơi. Lúc ra đến đường quốc lộ, lập tức mỗi người tản đi một ngả để
truy lùng. Nhưng rồi họ cũng chỉ nhìn thấy những nhóm người đang đứng túm tụm để
đón xe bên đường. Bên trong những quán ăn gần đó, cũng không thấy bóng dáng hai
thầy trò đâu cả. Thực ra là họ đã xuất phát hơi muộn, vì giờ này thầy trò Tam
Văn đã lên xe cách đây cả nửa tiếng đồng hồ rồi vậy. Lúc này chỉ còn nhìn thấy
đường chia đôi ngả, chẳng biết là thầy trò họ ra bắc hay vào nam? Nhưng cho dù
là đi lối nào đi nữa thì cả hai cũng đã bóng chim tăm cá, còn biết nơi nao mà
tìm, mà truy vết nữa kia chứ.
Bất lực, cả bốn người đành bảo nhau lục tục quay về. Nhưng sự đời
là thế, thắng thì tung hô, ca ngợi, thua thì chỉ trích, phê bình. Bởi vậy mà
trên đường trở về, họ đã không tiếc lời trách móc và đổ lỗi cho nhau.
Ông trưởng tộc bực mình, gắt:
- Đã bảo phải canh chừng cẩn thận. Vậy mà lại để sổng mất. Trước
đây đã sổng mất một lần rồi, lần này đáng lẽ phải cẩn thận hơn chứ. Vậy mà!…
- Thì ai biết họ lừa đi tế mộ tổ rồi trốn đi luôn! – Bà Lan xoè
tay, phân bua.
Ông Thái cay đắng, nói:
- Hai người lớn chứ có phải là trẻ con đâu. Nếu họ đã có ý định
bỏ trốn thì làm sao mà canh chừng cho được kia chứ!?
Vợ Tam Văn nghiến răng:
- Lẽ ra phải nhốt trong nhà hoặc dùng xích sắt để xích lại như
người ta vẫn xích người điên thì mới được!…