PHẦN III: THỜI KỲ HOÀ HOÃN
Cá chậu chim lồng
Tiết trời cuối năm, trời - mây man mác một màu như hơi sương.
Gió từ phương bắc thổi về, lạnh buốt, những chiếc lá run rẩy trên cành, cố lấy tấm
thân mình để chở che cho những búp non vừa mới đâm chồi, nẩy lộc. Mưa phùn
giăng mắc, đất trời đã lạnh càng thêm lạnh. Trên bức tường lấm tấm rêu phong,
những cây địa y, cây Dương Xỉ đua nhau mọc dày. Bà Lan cắt cải bắp xong thì cảm
thấy mệt, bèn ngồi dựa lưng vào tường một lúc để nghỉ. Năm nay, góc vườn này bà
dành ra để trồng rau và bắp cải. Đến cuối mùa, còn sót lại mấy chục bắp, bà dự
định sẽ cắt hết, rồi đem biếu những người thân quen mỗi nhà một ít để ăn tết chứ
không bán. Bên mép hàng rào, cây đào đã nở hoa sặc sỡ, khiến cho cả không gian khu
vườn như bừng sáng. Cách đây khoảng chục năm, trong một lần đi thăm bà con ở miền
núi, thầy Thất Sách đã mang nó về và trồng ở đây. Nó là giống đào phai, sắc
thái tự nhiên, cành lá gân guốc và tràn đầy sức sống. Từ bấy đến nay, năm nào
cây đào cũng trổ hoa đúng tiết để đón chào tết đến, xuân sang.
Thực là:
Hoa đào khoe sắc trong mưa
Đợi chờ xuân mới sao chưa thấy về
Mưa phùn giá buốt tái tê
Nhưng sao ngăn được hẹn thề tiết xuân?
Tết năm nay, vì không có ông, bà chẳng muốn mua sắm gì nhiều,
cũng chẳng buồn đến cả gói bánh nữa. Chỉ có hai bà cháu, bà định đi chợ mua mấy
thứ lặt vặt, rồi đến tết, làm mâm cỗ cúng gia tiên. “Đơn sơ vậy thôi. Miễn có
mâm cỗ, nén hương thắp lên bàn thờ tổ tiên là được!”- Bà bồi hồi nghĩ, rồi mệt
nhọc đưa tay lên quệt những giọt mồ hôi lấm tấm đang lăn dài trên hai gò má.
Có tiếng con chó vàng sủa vang ở góc sân. Nó ghếch mõ rồi tru
lên từng chặp, cái đuôi dài như con rắn khoang cứ ngoáy tít trong một cơn biểu
lộ tình cảm thái quá. Kỳ lạ, gặp người quen thì nó mới vừa sủa vừa vẫy đuôi mừng
như thế. Hay là ông ấy về thật? Nghĩ rồi bà mở to con mắt và nhìn ra phía cổng.
Gì thế này? Đúng rồi, đúng là ông ấy đã về thật rồi! Để cho chắc chắn, bà dụi mắt
thêm lần nữa để đảm bảo là mình đã không nhìn nhầm.
Từ phía ngoài cổng, thầy Thất Sách đang chống gậy, thất thểu bước
vào. Dáng ông hiện hữu, rõ dần và nổi bật lên giữa những bụi hoa hồng dại nở
hoa lấm tấm.
Bà vịn tay vào tường, lảo đảo đứng lên.
- Ông nó đấy phải không? – Giọng bà thảng thốt.
- Phải! Tôi đây! – Thầy Thất Sách đáp, giọng âm thầm.
Lúc đi ngang qua chỗ bà, ông hơi nhìn sang, hỏi:
- Ở nhà vẫn bình thường chứ bà?
- Vẫn thường ông ạ! Nhớ lời ông, tôi vẫn quán xuyến “Đạo nhân
thi quán” mà chẳng mảy may sơ suất gì - Bà liến thoắng một mạch. Niềm vui đoàn
tụ bất ngờ khiến bà gần như không kìm nén được cảm xúc.
Nhưng khi thấy mỗi mình ông trở về, bà đã thắc mắc:
- Thế Mạnh Đình đâu?...Thằng cháu của ông đâu?....
- Nó về bên nhà rồi! – Thầy Thất Sách phẩy tay, thở hắt ra, mệt
nhọc.
- Vậy là tốt rồi. Hai bác cháu về cả là tốt rồi! - Bà vui mừng
nói, lẩm nhẩm như đang tự sự với chính mình.
Thấy ông về, đứa cháu gái từ trong nhà mừng rỡ chạy ra. Nó đứng
trước mặt ông, vòng tay, ngoan ngoãn:
- Cháu chào ông ạ!
Thoáng chút ngơ ngác, thầy Thất Sách xoa đầu cháu, rồi vòng tay
âu yếm kéo nó sát vào người mình. Đứa bé đứng nép vào người ông, ngước cặp mắt
long lanh lên nhìn. Nó nhận ra ông đã khác trước rất nhiều, gầy đen hơn, râu
ria thì mọc dài và rậm rạp như cây cỏ ngoài vườn lâu ngày không được cắt tỉa.
Bà Lan mau miệng:
- À…Từ khi ông đi. Cháu nó đến ở đây với tôi cho vui!…
- Ờ!...Thế cũng phải! – Ông đáp.
Rồi như sực nhớ ra, bà quay sang dục cháu:
- Trang đâu! Mau lấy khăn mặt và chậu ra cho ông rửa mặt đi
cháu.
Đứa cháu lại nhanh nhảu, ba chân bốn cẳng chạy biến vào nhà.
Thầy Thất Sách tiến đến chỗ chú chó vàng đang hướng về phía mình
mà vẫy đuôi không ngớt. Vui mừng vì được gặp lại chủ cũ, chú chó chồm hẳn hai
chân trước lên người thầy, rồi cứ thế mà tru lên ăng ẳng như đang hát.
- Vàng à! Mày nhớ tao lắm phải không? Ngoan quá, giỏi quá! Để rồi
lát nữa tao sẽ lại cho mày ăn nhé! – Thầy Thất Sách vừa âu yếm vuốt đầu chú chó
trung thành vừa nựng nịu nó như thế.
Sau đó thì thầy đi đến bộ bàn ghế trước sân, tháo cái túi vải đặt
lên bàn, đặt mình ngồi xuống nghỉ ngơi. Thầy bồi hồi nhìn quanh, như để xem có gì
thay đổi hay không, cuối cùng ánh mắt thầy dừng lại ở cây hoa đào đang trổ hoa
sặc sỡ bên bờ tường. Thầy Thất Sách rất yêu hoa, nhất là vẻ đẹp của hoa đào mỗi
dịp tết đến. Vì thầy cho rằng, hoa đào chính là biểu tượng hoàn hảo và xứng đáng
nhất cho vẻ đẹp trường cửu của mùa xuân.
- Bà cắt bắp cải đó ư? Ở nhà chuẩn bị đón tết đến đâu rồi? – Ông
hỏi khi nhìn thấy đống cải bắp bà vừa mới cắt xong còn để ở góc tường.
- Không có ông, tôi chẳng muốn làm gì hết. Nhưng bây giờ ông về,
tôi sẽ mua, sẽ sắm đủ cả! - Bà nói, giọng háo hức như hồi còn trẻ.
Rồi bà lại nhìn ông, vồn vã:
- Rồi ông sẽ lại gói bánh như mọi năm ông nhé. Tôi sẽ đi chợ mua
nếp, đỗ, thịt…
- Ừ! Tôi sẽ gói!…Còn nữa, bà nhớ mua luôn lá dong để còn kịp rửa
và phơi cho ráo nhé!
- Dĩ nhiên rồi! Cái này thì ông không cần phải dặn.
- Hương trầm thì để hôm nào tôi sẽ tự đi mua. Cái này thì tôi biết
chọn hơn bà.
- Vâng! Vâng!... Ông thấy cần thứ gì thì cứ mua. Đàn bà con gái
chúng tôi thì kém những chuyện cúng kiếng ấy lắm!
Bữa cơm đoàn viên hôm ấy, dĩ nhiên là còn có cả cút rượu nhỏ để
đón mừng người trở về. Bà xới cơm, rồi tự tay rót rượu cho ông, chăm bẵm ông một
cách tận tình như cảnh hai vợ chồng son.
Nhưng cũng lúc này bà mới có thời gian để nhìn kỹ ông hơn: Gầy
đen như quỷ đói. Mặt mày vêu vao, hốc hác, chỉ còn nhìn thấy mỗi cặp lông mày
và hai hốc mắt trũng sâu. Hai bả vai thì gầy trơ xương, nhọn hoắt và nhô hẳn
lên như hai cánh của một con dơi sắp bay. Có cảm giác, chỉ cần một làn gió nhẹ
thoảng qua, cả thân hình ông sẽ lập tức bị thổi bay và dán chặt vào bức tường đối
diện.
Bởi vậy mà bà liên tục tiếp thức ăn cho ông, trong khi miệng thì
vẫn không ngừng xót xa:
- Này! Ông ăn đi! Khổ thân, lâu nay ông sống vất vưởng đầu đường
xó chợ, ăn uống thì thiếu thốn, khổ sở. Người chỉ còn da bọc xương thế này. Ông
ăn đi, ăn nhiều vào, ăn đi cho lại sức ông nhé!…
o0o
Hôm sau, bà Lan đi chợ sớm để sắm tết. Bà mua đủ thứ, đựng đầy một
cái làn, lại còn tay xách nách mang thêm mấy cái túi to lỉnh kỉnh nữa.
Ở nhà, ông lau dọn ban thờ, bàn ghế, đồ đạc, sau đó lại đi chẻ lạt
để chuẩn bị gói bánh.
Đi chợ về, còn chưa kịp nghỉ để thở, bà lại bắt tay vào chuẩn bị
mâm cơm tất niên. Đầu giờ chiều, bà sai đứa cháu chạy đi báo tin cho bác trưởng
tộc và ông hàng xóm là ông đã về và mời họ đến để dự bữa cơm thân mật.
Chừng 5 giờ chiều, đã nghe thấy tiếng ông Thái vang vang ngoài
sân. Ông hàng xóm hối hả bước vào, rồi cất tiếng cười ha hả:
- Đâu rồi?...Ông bạn quý hoá của tôi đâu rồi. Tôi đã đoán rồi
mà. Thể nào ông cũng chẳng về trước tết. Y như rằng!...
Thầy Thất Sách đi ra đón khách. Hai người bắt tay nhau ở bậc thềm.
- Mời ông vào nhà! – Thầy Thất Sách nói và chìa tay, nhũn nhặn.
Ông Thái đi vào nhà, cởi áo khoác và treo lên móc. Dù đã bỏ áo
khoác ra, nhưng chỉ riêng cái áo len xù đang mặc trên người cũng đủ để khiến cả
cái thân thể phì nộn của ông phồng lên nom như một cái thùng phuy di động.
Mấy phút sau, lại có tiếng chó sủa gấp gáp ngoài sân. Bác trưởng
tộc đạo mạo xuất hiện. Trên tay ông cầm một chai rượu champagne to như cái bình
cắm hoa. Ông diện quần tây, áo vét, nom lịch sự như người đi ăn cỗ cưới.
- Chúng ta phải bật champagne để ăn mừng người anh em vừa trở về
mới được! – Ông vừa nói vừa hỉ hả đặt chai rượu lên bàn khách.
Mọi người vui vẻ, tay bắt mặt mừng. Mới mấy tháng xa nhau mà họ
cứ ngỡ như mấy năm trời không gặp mặt vậy. Câu chuyện hàn huyên rôm rả, tưởng
chừng không bao giờ ngớt. Trừ thầy Thất Sách là có nét mặt hơi u sầu, còn lại
thì mọi người đều tươi cười rạng rỡ và vui mừng như bắt được vàng.
- Nào! Mời các bác, các ông ăn bữa cơm tất niên sớm với
gia đình chúng tôi nào! – Bà Lan khệ nệ bưng mâm cơm thịnh soạn ra, đon đả mời
chào.
Bữa cơm ấm cúng được gia chủ dọn ngay giữa nhà. Mọi người ngồi
lên chiếc chiếu cói trãi dưới nền, ở giữa là mâm cỗ tất niên với la liệt những
món.
Bà Lan xới cơm vào một cái tô to và bỏ vào đấy nào là giò, chả,
nem rán và thịt gà đầy ú hụ rồi trao cho đứa cháu:
- Cháu ngoan! Bê lại đằng bàn kia ngồi ăn và xem ti vi. Để đây
cho người lớn nói chuyện nhé.
Đứa bé ngoan ngoãn bê tô cơm lại bàn, bật ti vi lên vừa ăn vừa
xem một cách chăm chú.
Bác trưởng tộc ngồi xếp bằng, bắt đầu vặn mở nút chai champagne.
Ông nghiêng hẳn người, hướng cổ chai lên phía trên, mắt nheo lại một cách đầy căng
thẳng, hồi hộp. Có tiếng xì xì nơi cổ chai, rồi một tiếng bốp vang lên, nổ giòn
như pháo.
- Thắng lợi rồi! – Ông nói như reo khi thấy cái nắp chai bật cao
và chạm cả đến trần nhà.
Mọi người đều vỗ tay vui mừng.
Rượu được rót đều ra, mỗi người một ly.
- Cả bà nữa. Hôm nay vui. Bà cũng nên uống một ly để mừng ông
nhà trở về chứ. Rượu này nhẹ và thơm ngon, hợp với phụ nữ lắm! – Bác trưởng tộc
nhìn sang bà Lan, nói.
- Phải! Bà cũng nên uống một tẹo. Bữa nay bà là người vui nhất đấy!
– Ông Thái cũng khích lệ.
Bà Lan bẽn lẽn:
- Em chẳng uống rượu bao giờ. Nhưng nể lời các bác, em cũng xin
uống một tý gọi là.
Tiếng ly chạm vào nhau lách cách. Mùi rượu thơm thơm sộc lên
mũi, lan toả mọi khứu giác, như nhân lên niềm vui của buổi đoàn viên.
Trong suốt buổi tiệc, mọi người đều tỏ ra rất vui vẻ và hết lời
chúc tụng thầy Thất Sách. Vui nhất là ông Thái. Ông nói cười luôn miệng, khiến
cho căn nhà lúc nào cũng tràn ngập những tiếng cười oang oang. Thầy Thất Sách
trở về, vậy là từ nay ông lại có bạn trà, bạn rượu và người để hàn huyên không
biết chán. Vì thầy vốn là người có kiến thức uyên thâm, hiểu biết rộng và rất
biết cách nói chuyện tếu nữa. Trái lại, thầy Thất Sách lại tỏ ra dè dặt, nét mặt
có vẻ hơi u sầu và ngại ngùng. Họ đâu biết rằng, nếu không có sự cố mất cắp ở
chợ Trời thì giờ này, có lẽ là thầy đang đón tết ở một miền đất xa xôi nào đó của
tổ quốc ấy chứ.
- Tôi đang dự định cho biên soạn lại cuốn gia phả dòng họ. Bữa
nay ông về thì tốt rồi. Chúng ta sẽ cùng cộng tác nhé. Cả dòng họ này, chẳng có
ai là người hiểu biết và văn hay chữ tốt được như ông cả! – Bác trưởng tộc, mặt
đỏ gay đỏ gắt, hả hê đặt bàn tay lên vai thầy Thất Sách, nói.
- Vâng!...Vâng! Để rồi tôi sẽ xem! - Thầy Thất Sách đáp một
cách dè dặt.
Từ khi trở về đến nay, lúc nào thầy Thất Sách cũng giữ một thái
độ khiêm nhường đối với tất cả mọi người như thế. Đó chính là phong thái của một
con người đã nổi danh và lập được vô số những chiến công hiển hách, một người
đã được cả thiên hạ biết mặt, đặt tên. Mà đã là người nổi tiếng thì sẽ không cần
phải ồn ào, khoe mẽ làm gì nữa, họ chỉ cần để cho sự thành công tự mình lên tiếng
là đủ rồi.
Sự trở về đúng lúc của thầy Thất Sách đã khiến cho bữa cơm tất
niên năm nay trở nên ý nghĩa và đáng nhớ nhất từ trước tới nay. Vì rằng nó mang
đến niềm vui bất ngờ, tưởng chừng ly biệt mà nay lại được đoàn viên, hội ngộ vậy.
Chuyện vãn, người ta lại quay sang bàn chuyện đón tết năm nay.
Nói chung là rất nhiều chuyện, đủ thứ trên trời dưới đất. Nhưng nếu tinh ý, ta
sẽ thấy họ tuyệt nhiên không đề cập đến những cuốn sách kiếm hiệp hay bất cứ lời
lẽ, nội dung nào liên quan đến chủ đề này. Họ sợ nếu làm như vậy, sẽ gợi cho thầy
Thất Sách những ý tưởng điên rồ, rồi thầy sẽ lại bỏ nhà ra đi để tìm kiếm phiêu
lưu như vừa rồi thì thật là sai sách.
o0o
Hôm thầy Thất Sách trở về, bữa ấy cũng đã qua lễ tiễn ông Công
ông Táo, và chỉ còn cách mấy hôm nữa là đến tết nguyên đán.
Là người thẳng thắn và có trách nhiệm, thầy Thất Sách đã không dấu
diếm với vợ chuyện mình bán mất chiếc nhẫn cưới. Nhưng cũng vì chuyện này mà thầy
bị bà vợ mặt nặng mày nhẹ mất nửa ngày. May cho thầy, năm hết tết đến, vậy nên
bà Lan cũng nhanh chóng bỏ qua và không muốn làm lớn chuyện. Bà nghĩ rằng, cũng
vì lâm vào bước đường cùng nên ông mới phải bán nhẫn. Cứ coi như của đi thay
người vậy. Nếu như là hồi con gái, vì chuyện này bà sẽ giận dỗi nhiều ngày, rồi
xung đột, thậm chí là dẫn đến tan vỡ hôn nhân chứ chẳng chơi. Nhưng ở độ tuổi
này thì khác, làm chuyện gì bà cũng biết cân nhắc, chứ đâu có bồng bột như hồi
còn trẻ nữa. Nếu như ví tuổi trẻ của người đàn bà như cái nắng mùa hè thì tuổi
trung niên của họ lại giống như nắng thu vậy. Tuy không rực rỡ, chói chang,
thiêu đốt như nắng hè, nhưng cái nắng thu lại lắng đọng và đốt cháy cảnh vật bằng
sức nóng âm thầm, bền bỉ của nó. Khi còn trẻ, người ta đánh giá mọi thứ một
cách giản đơn, nhưng đến tuổi trung niên, người ta lại nhìn nhận sự việc một
cách đa tầng, đa nghĩa và có chiều sâu hơn. Chính vì vậy mà bà đã không làm ầm
ĩ lên, không giận dỗi lâu để dẫn đến xáo trộn gia đạo khi ông làm mất đi chiếc
nhẫn cưới quý giá. Thay vào đó, bà đã chọn thấu hiểu và thứ tha.
Hai tám tết, thầy Thất Sách gói một nồi bánh to. Thầy biết gói cả
bánh tét lẫn bánh chưng, mà loại nào cũng đẹp cả. Bánh chưng thì vuông chằn chặn
như đúc khuôn, bánh tét thì tròn và nặng chình chịch, chỉ cần cầm lên đã thấy
ưa.
Thầy thức suốt đêm để đốt lửa và canh chừng cho nồi bánh chín
nhuyễn. Nấu xong, bánh lại được vớt ra rồi để lên cái chõng tre cho ráo nước.
Hôm sau thầy chọn mấy cặp bánh to nhất, đẹp nhất để mang đi cúng và bày lên bàn
thờ tổ tiên. Có bánh trái, không khí trong nhà cũng vì thế mà trở nên trang trọng
và tết nhất hẳn.
o0o
Ngày đầu tiên mới về, Tam Văn cứ đứng hàng giờ trước sân để ngắm
nhìn căn nhà của mình với một vẻ bồi hồi đến lạ. Ngôi nhà này, vợ chồng chú đã
ki cóp và vay mượn để xây dựng sau ba năm chung sống với nhau. Căn nhà ba gian
chắn mái, đằng trước quét ve màu xanh da trời, sạch sẽ và ngăn nắp. Chú nhìn
lên phía đầu hồi đã mốc meo vì nước mưa, ở đó có một hình vòng cung đắp nổi,
bên dưới là con số 1990. Đó cũng là năm mà ngôi nhà được xây dựng và hoàn
thành. Tuy chưa phải là đồ sộ, nhưng đó cũng là một tổ ấm khang trang dành cho
một gia đình nhỏ. Mọi thứ hầu như vẫn vậy, chỉ có vài thay đổi nhỏ, mà phải là
một chủ nhân ngôi nhà như chú thì mới có thể nhận ra. Cây cối trong vườn xanh tốt
hơn một chút, rau trồng thêm mấy loại, cái chuồng gà chẳng hiểu vì sao lại bị
nghiêng một bên mái. Tất cả những thứ ấy vốn đã quen thuộc từ lâu, nhưng chẳng
hiểu vì sao, giờ đây Tam Văn lại cảm thấy mới mẻ như mới được nhìn thấy lần đầu.
Và chú cảm thấy trân trọng, yêu quý chúng với tất cả những xúc cảm đang dâng
lên tận đáy lòng mình.
Thấy bố về, hai đứa con vui mừng lắm, suốt ngày chúng cứ quấn lấy
chàng. Chàng chơi đùa với chúng, chọc cho chúng cười nắc nẻ. Thằng con trai bám
lấy cái cổ vạm vỡ của bố, đòi chơi trò cưỡi ngựa. Trong khi đứa con gái thì líu
lo:
- Bố ơi! Bố ở nhà chơi với chúng con, đừng đi nữa bố nhé! Bố đi,
mẹ ở nhà buồn. Mẹ lại khóc đấy!
Chàng xúc động, quay mặt đi, cố dấu những giọt nước mắt long lanh
đang chực tuôn rơi. Những tháng ngày phiêu lưu, đã tôi luyện cho chàng ý chí sắt
thép và lòng can đảm, nhưng cũng khiến cho chàng biết nâng niu, trân trọng hơn
những phút giây đoàn tụ bên gia đình yêu dấu.
Thời gian sau đó, Tam Văn cũng đã kịp giúp vợ cày cấy xong ba
sào ruộng khoán. Chăm sóc vườn tược, sơn mới nhà cửa, thuê thợ xây lại đoạn
hàng rào trước nhà bị trâu bò phá thủng lúc chàng đi vắng.
Sau màn đón tiếp một cách nhiệt thành và trọng thể lúc mới về,
còn lại sau đó, những người thân tín đã có một sự liên kết ngầm với nhau để kiểm
soát, nói đúng hơn là giam lỏng hai thầy trò Tam Văn. Người ta đã bàn tính và vạch
ra một kế hoạch hẳn hoi cho chuyện này. Hai bà vợ (bà Lan và vợ Tam Văn) đã thống
nhất với nhau cách thức để theo dõi cũng như canh chừng hai thầy trò.
Theo đó thì họ sẽ theo sát đức ông chồng mình như hình với bóng, nhất cử nhất động
đều được quan sát và đánh giá một cách chính xác, kỹ lưỡng đến từng chi tiết. Họ
không cho hai thầy trò gặp nhau, sợ họ lại ngựa quen đường cũ, rồi lại rủ nhau
đi trốn một lần nữa. Ngoài ra, hai người đàn bà còn nhờ đến sự giúp sức cũng
như can thiệp của bác trưởng tộc và ông hàng xóm nữa. Theo kế hoạch thì hai người
này sẽ thường xuyên đến chơi, đánh cờ tướng và nói chuyện với thầy Thất Sách, để
thầy phân tâm mà quên đi ý muốn lưu lạc giang hồ. Chưa hết, ông hàng xóm còn làm
nhiệm vụ của một đài quan sát di động, hễ thấy hai thầy trò họ khăn gói ra khỏi
cổng là lập tức ngăn lại và báo động cho mọi người biết ngay để kịp thời xử lý.
Vì cái sự quản chế nghiêm ngặt ấy, từ hôm về đến nay, hai thầy
trò Tam Văn chỉ mới gặp nhau được đúng một lần, nhưng cũng chỉ là thoáng qua. Ấy
là hôm họ đi chơi hội làng đầu xuân. Lúc ấy hai vợ chồng thầy Thất Sách đang đứng
xem trò ném vòng cổ chai thì bắt gặp vợ chồng Tam Văn từ xa đi lại. Trong lúc
hai thầy trò nói chuyện, bà Lan và vợ Tam Văn cứ nhìn họ chằm chằm và lắng nghe
như nuốt lấy từng lời, không bỏ sót một câu nào cả. Thành ra họ đành phải vờ lạnh
lùng và chỉ hỏi thăm nhau lấy lệ rồi chào tạm biệt, ai đi đường nấy.
Có thể nói, đó là những ngày sống cảnh cá chậu chim lồng đối với
hai thầy trò Tam Văn vậy. Một cuộc sống tù túng như thế thì thật là bức bối và
khó chịu, thế nhưng họ cũng chẳng biết làm sao, ngoài việc đành phải ngậm ngùi
chấp nhận.
Bề ngoài, hai thầy trò lại quay trở về cuộc sống bình thường và
công việc điền viên như trước. Nhưng bên trong, họ vẫn đang ngấm ngầm chuẩn bị
cho một kế hoạch vượt ngục vĩ đại. Họ hiểu rằng, vẫn còn nhiều sứ mệnh vinh
quang đang chờ đợi mình phía trước con đường. Cuộc sống giang hồ vẫn đang không
ngừng vẫy gọi hai chàng hiệp sĩ quả cảm, lừng danh. Một khi đã quen với cuộc sống
tự do, người ta sẽ cảm thấy những thói thường như một sợi dây vô hình trói buộc,
rất chi là vướng víu, khó chịu. Cần phải cởi bỏ sợi dây ấy ra càng sớm càng tốt,
để được hít thở bầu không khí tự do và vẫy vùng cho phỉ chí. Giờ này, họ giống
như những con chim bị nhốt ở trong chiếc lồng chật hẹp, mong một ngày sổ lồng,
tháo cũi để được tung cánh bay vút lên trời cao.