Thứ Sáu, 31 tháng 10, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XIX)

 

Qua nghĩa trang, Tam Văn bị Ma Trơi đuổi

Một lời đã hứa, tứ Mã nan truy

Sau khi rời khỏi núi Phượng Hoàng, hai thầy trò Tam Văn đi ra đường quốc lộ rồi lại tiếp tục xuôi vào Nam. Bấy giờ đang tiết xuân mát mẻ, thiên hạ lo việc đồng áng, kinh doanh, trăm nghề nhộn nhịp mưu sinh. Cuộc sống cứ thế tuần hoàn, cuốn người ta theo, như thể là bốn mùa xuân, hạ, thu, đông vậy.

Hết những phố thị, làng mạc, họ lại đi qua những vùng đất hoang vu, chỉ toàn nhìn thấy những đụn cát trắng xoá, những rặng phi lao xanh rì, tít tắp.

Bữa ấy, khi đến một vùng đồng vắng thì trời vừa bắt đầu tối mịt. Đường xa, cảnh lạ, hai thầy trò giục nhau rảo bước đi mau.

Trong lúc thầy Thất Sách đang cắm cúi bước đi, chợt Tam Văn chỉ tay, kinh hãi:

- Đom Đóm kìa thầy!…có đến hàng ngàn, hàng vạn con Đom Đóm đang bay…Không! Không phải!...Đó chính là Ma Trơi!...Ma Trơi thầy ơi!...

Thầy Thất Sách ngước mắt nhìn lên. Thấy phía trước mặt có một quầng ánh sáng chiếu rọi, chấp chới chuyển động như muôn ngàn ánh sao sa.

Thấy Tam Văn sợ hãi, thầy lên tiếng trấn an:

- Không phải Đom Đóm, cũng chẳng phải Ma Trơi gì đâu. Con chớ có sợ!

- Đúng là Ma Trơi rồi thầy ơi! Hồi nhỏ, con có nghe người lớn kể như thế…

Thầy Thất Sách nói:

- Đó chính là ánh lân tinh. Nếu ta đoán không nhầm, phía trước hẳn phải là một khu nghĩa địa!

Nghe nói đến nghĩa địa, Tam Văn lại càng sợ, chú đi sát vào thầy, chân tay run lập cập như cầy sấy.

Thầy Thất Sách tỏ vẻ khó chịu:

- Con không được mê tín. May mà ban đêm trời tối. Chứ ban ngày ban mặt mà người ta nhìn thấy đệ tử của hiệp sĩ Thất Sách sợ ma đến nỗi hồn xiêu phách lạc như thế thì không hay lắm đâu!…

Tam Văn cố kìm nỗi sợ, nhưng vẫn run, vì nói gì thì nói, chú vẫn sợ Ma Trơi hơn là sợ thầy mình. Trong lòng chú lúc này chợt dâng lên một niềm ganh tị, chú ước gì mình cũng có được đức tính dũng cảm như thầy. Chẳng hiểu thầy chú rèn luyện kiểu gì mà không sợ ma, chẳng sợ quỷ, hay trời sinh ra thầy đã có sẵn tính như thế. Chứ bản thân chú, từ lúc lớn lên là đã sợ ma rồi. Nhớ hồi còn nhỏ, ban đêm chú đi chơi cùng lũ bạn trong xóm. Một đứa trong bọn kể chuyện ma, làm chú sợ quá tè cả ra quần. Rồi vì không dám đi về, đêm ấy chú đành phải theo chân đứa bạn về nhà nó để ngủ nhờ. Báo hại bố mẹ chú, suốt cả đêm ấy, phải sục sạo tìm con và hớt ha hớt hải đi hỏi thăm khắp nơi.

- Hay là mình…quay lại…hoặc tìm đường khác đi thầy! – Tam Văn lắp bắp, hai hàm răng cứ va vào nhau lập cập.

- Nói bậy! – Thầy Thất Sách gắt lên – Đối với người hiệp sĩ, dù phía trước có là thiên binh vạn mã hay núi đao biển lửa thì cũng phải vượt qua. Huống chi chỉ là những ánh lân tinh hư ảo. Hãy cứ đi tiếp đi. Nhà ngươi chớ có lải nhải nhiều lời nữa!

Tam Văn đành bấm bụng để đi, nhưng trống ngực thì vẫn đập rộn ràng. Lúc họ đến gần, những ánh sáng ấy vẫn chập chờn, bay lượn như nhảy múa. Đã nhìn thấy những ngôi mộ nhấp nhô, những thân cây lực lưỡng, cành lá vươn dài như những cánh tay khổng lồ, ma quái. Đúng như thầy Thất Sách dự đoán, đó chính là một khu nghĩa địa. Tam Văn sợ đến muốn són ra quần, các khớp xương như nhão ra, cả người chú lúc này chẳng còn chút sinh khí nào nữa cả.

Trong lúc thần hồn nát thần tính, Tam Văn nghe thấy giọng thầy mình thì thầm bên tai:

- Này Tam Văn! Con phải đi nhẹ nhàng, không được bước nhanh, không cử động mạnh. Càng không được bỏ chạy. Nghe chưa!....

Nhưng khi những đốm sáng ấy mỗi lúc một lớn lên, rõ dần, như đang sắp vồ lấy họ, Tam Văn đã không còn làm chủ được bản thân nữa. Quên cả lời chủ dặn, chú lập tức ba chân bốn cẳng ù té chạy như bay, như biến. Vừa chạy, chú vừa ngoái đầu lại để nhìn xem sao. Có mấy con Ma Trơi tách ra khỏi đàn, rồi bắt đầu đuổi theo chú. Mỗi khi ngoái đầu nhìn lại, Tam Văn lại thấy những đốm Ma Trơi đang lơ lửng trên đầu, sợ quá, chú càng co giò chạy hết tốc lực. Cho đến khi chú vấp phải một mô đất rồi ngã úp mặt xuống đường, đau điếng. “Ôi xong! Thế là nạp mạng cho Ma Trơi rồi!” – Tam Văn thoáng nghĩ. Cay đắng, chú đành nhắm mắt lại một cách bất lực, phó mặc cho số phận ra sao thì ra.

Giữa lúc Tam Văn đinh ninh rằng mình đang sắp bị Ma Trơi túm lấy mà bay đi, chợt có ai đó vỗ nhẹ vào bờ vai, rồi một tiếng nói quen thuộc cất lên:

- Tam Văn! Dậy đi! Con có bị làm sao không?...

Nhận ra thầy mình, bấy giờ Tam Văn mới hoàn hồn và thở hắt ra nhẹ nhõm.

- Đã qua khu vực nghĩa địa rồi. Con đừng sợ nữa. Hãy đứng lên đi! – Thầy Thất Sách ôn tồn nói.

Tam Văn lồm cồm đứng lên, bắt đầu đưa tay phủi quần áo cho sạch bụi.

- Thế lũ Ma Trơi có đuổi theo thầy không? – Chú thẹn thùng hỏi.

- Không!

- Lạ nhỉ! Nó không đuổi theo thầy, mà lại đuổi theo con là sao?

Thầy Thất Sách giải thích:

- Khi con chạy, sẽ tạo ra một luồng khí, vì vậy mà những đốm sáng đó mới bị cuốn theo. Có cảm giác như nó đang đuổi theo con vậy!

Dù đã lờ mờ hiểu ra, nhưng dù thế nào đi nữa thì Tam Văn vẫn cứ sợ như thường. Điều quan trọng là bây giờ đã không còn nhìn thấy những ánh sáng ma quái đó nữa. Chú hít căng một hơi, rồi thở mạnh ra, như để trút đi những nỗi sợ hãi vẫn nén chặt trong lồng ngực mình từ nãy đến giờ. Xung quanh trời tối om om, không nhìn thấy cảnh vật gì cả. Chỉ có tiếng côn trùng rỉ rả kêu vang, tiếng chảy róc rách của một con mương nước cạn gần đó. “Thây kệ! Thà tối thui như thế này còn hơn là phải nhìn thấy Ma Trơi!” – Tam Văn tự nhủ rồi xốc lại cái túi đeo trên vai. Hai thầy trò, người này vịn vào vai người kia, lại tiếp tục dò dẫm bước đi trong màn đêm u tối.

Đi thêm một chặng nữa, họ lại nhìn thấy phía trước có những quầng sáng lấp loá cả một góc trời. Nhưng lần này không phải Ma Trơi, mà đó là ánh điện của thành phố lúc về đêm.

- Cố lên! Đến thành phố, chúng ta sẽ được nghỉ ngơi! – Thầy Thất Sách vỗ vai, động viên học trò.

Thành phố về đêm, ánh đèn đường, biển hiệu quảng cáo sáng trưng. Trên những con đường ngang dọc, người, xe đi lại tấp nập như thoi dệt. Từ hàng quán cho đến nhà dân, đâu đâu cũng sáng đèn, thành phố như được khoác lên mình một thứ trang phục ánh sáng rực rỡ vậy. Thật là một thế giới đối lập với những gì mà hai thầy trò họ vừa mới phải trãi qua. Họ đi vào thành phố, hoà mình vào dòng người đông đúc đang lưu thông cuồn cuộn trên đường.

Mệt lử và đói bụng, hai thầy trò bèn rủ nhau ghé vào một ngôi hàng phở bên đường. Họ cần phải bổ sung năng lượng sau chặng đường vất vả để chiến thắng màn đêm và cả nỗi sợ hãi vừa qua.

Ánh sáng xanh xao từ ngọn đèn neol trong quán chiếu xuống và soi rõ từng khuôn mặt thực khách đang ngồi. Vài đôi nam nữ đi chơi đêm đang lặng lẽ ngồi ăn phở ở góc phòng. Hai cô gái phấn son loè loẹt ngồi ngay lối ra vào, vừa ăn trứng vịt lộn vừa chuyện trò bô bô. Cả những người quen lối thức khuya, giờ này cũng đi bộ ra đây để ăn đêm, lót dạ. 

Thầy Thất Sách kéo ghế ngồi xuống, rồi hướng về phía chủ quán, gọi:

- Cho chúng tôi hai tô phở tái!

- Có ngay!

Lát sau, hai tô phở đã được người chạy bàn đặt ngay ngắn trước mặt thầy trò Tam Văn. Khói bốc lên nghi ngút, mùi thơm của thịt bò, hoà quyện với mùi hành, gia vị dâng lên như quyến rũ, mời gọi.

Trong lúc ăn, thầy Thất Sách tranh thủ hỏi người chủ quán:

- Gần đây có nhà nghỉ nào không chị nhỉ?

Bà chủ to béo có vẻ là một người thân thiện và nhiệt tình. Bà ta hướng cặp mắt ti hí nhìn về phía con ngõ đối diện, rồi chỉ tay, nói:

- Ông có nhìn thấy con ngõ kia không? Ấy đấy!...Chỗ có cái biển hiệu cà phê ấy. Từ đó đi vào, cách hai nhà nữa thì có một nhà nghỉ bình dân. Hỏi “Nhà nghỉ cây Cọ” nhé!...

- Cảm ơn bà!

Ăn xong, hai thầy trò thanh toán tiền rồi đi sang bên kia đường. Họ tìm đến ngôi nhà trọ mà bà chủ quán đã giới thiệu rồi thuê phòng nghỉ ngơi.

Sáng hôm sau, thành phố đánh thức thầy trò Tam Văn bởi những thứ âm thanh ồn ả quen thuộc của một ngày mới. Tiếng xe máy ồn ào, tiếng chuông xích lô leng keng và cả những tiếng cười nói lao xao ngay đầu con ngõ. Hôm nay, họ phải đi mua sắm vật dụng và lương thực cho những ngày hành trình sắp tới.

Trong lúc ngồi uống trà, Tam Văn tỏ ra rất bồn chồn. Vẻ mặt trầm ngâm, chú xoay xoay cái cốc trong tay một lúc, rồi nói:

- Thành phố rộng lớn thế này, ắt hẳn có bán quần áo rằn ri đấy thầy ạ!

Thầy Thất Sách tặc lưỡi:

- Không cần phải nhắc. Tam Văn! Ta đã hứa thì nhất định sẽ mua cho con. Quân tử nhất ngôn, tứ Mã nan truy!

Vài giây im lặng, thầy giơ ngón tay, nói thêm:

- Nhưng với điều kiện, con phải hứa với ta một việc!

- Việc gì hở thầy?

- Từ nay con không được sợ ma nữa. Đó là một điều tối kị đối với những người làm nghề hiệp sĩ như chúng ta đấy.

Tam Văn ngẩn người ra một lúc, rồi giơ tay, quả quyết:

- Con hứa! – Để có được bộ đồ thần thánh, Tam Văn sẵn sàng hứa ngay tắp lự. Nhưng trong thâm tâm, chú không dám chắc là nếu lần sau gặp ma, chú có còn sợ hay không nữa.

Sau khi đã sắm sửa mọi thứ cần thiết, hai thầy trò bắt đầu đi mua đồ cho Tam Văn. Nhưng đến tiệm quần áo nào, họ cũng đều nhận được những cái lắc đầu và câu trả lời đại loại như:

- Ở đây chỉ bán quần áo thời trang bình thường thôi. Đồ lính thì hiếm lắm. Các vị phải tìm đến những nơi gần doanh trại quân đội ấy! Ở đấy có thể người ta sẽ có bán!

Sau mỗi lần như thế, hai thầy trò lại thất vọng dắt díu nhau quay trở ra. Tam Văn tức tối, lầu bầu:

- Cả cái thành phố lớn thế này mà không có lấy nổi một bộ đồ lính. Chẳng hiểu là buôn bán kiểu gì, thành phố kiểu gì nữa!?...

Thầy Thất Sách ôn tồn, nhắc:

- Tam Văn! Người hiệp sĩ phải rèn luyện cho được đức tính kiên trì, nhẫn nại. Sự nóng nảy, hấp tấp chỉ khiến cho kẻ địch mạnh thêm, còn ta thì lại yếu đi mà thôi.

Đi qua mấy con phố nữa, họ thấy có một cửa hiệu đề: “Thời trang bốn mùa”.

Thầy Thất Sách nói:

- Ta hãy thử vào đây xem sao!?

Chủ tiệm là một người đàn ông trung niên to béo. Ông ta mặc áo thun cổ tròn, bên ngoài khoác thêm một chiếc áo gió màu ghi xám.

- Hai người cần mua gì? – Chủ tiệm nhìn thầy trò Tam Văn, hỏi.

- Ở đây có bán đồ rằn ri kiểu lính không vậy? – Tam Văn đặt một tay lên tủ kính, hỏi.

Chủ quán chỉ tay vào góc phòng:

- Ở đằng kia!

Ở cuối gian hàng, có một nơi trưng bày toàn là những đồ lính. Mừng quá, hai thầy trò liền bảo nhau đi về phía ấy.

Lục lọi mãi, cuối cùng Tam Văn cũng chọn được một bộ đồ ưng ý. Kỳ lạ thay, khi chú mặc vào thì rất vừa vặn khuôn người. Cứ như bộ đồ ấy chỉ may ra là để dành riêng cho chú vậy.

Mặc đồ xong, Tam Văn lại bắt đầu tháo đôi dép xăng đan có quai hậu của mình ra, chuẩn bị đi đôi giày bốt cao cổ vào.

- Khoan đã! – Người chủ giơ tay ngăn lại – Đi giày da thì phải có tất. Nếu không bàn chân sẽ bị cọ vào rất đau.

- Vậy thì phiền ông cho thêm đôi tất vậy! – Thầy Thất Sách nói.

Người chủ quán lựa một đôi tất vừa với cỡ của Tam Văn rồi đưa cho chú ta. Tam Văn đi tất vào, xỏ chân vào giày và đứng lên đi thử vài vòng. Chú đi giày chưa quen, vì vậy mà hai chân cứ bước khập khiễng, nom hệt như một chú ngựa non lần đầu được đóng móng sắt vậy.

Sau khi đã đội cái mũ sắt lên đầu cho đủ bộ, Tam Văn lúc này đã hoàn toàn lột xác. Chẳng còn là anh Tam Văn quê mùa cục mịch khi xưa nữa, thay vào đó là một anh lính mũ nồi xanh chính hiệu.

Người chủ quán nghiêng đầu ngắm nghía, rồi tấm tắc:

- Đẹp quá! Tôi cứ ngỡ là một người lính mũ nồi xanh liên hợp quốc đang có mặt trong cửa hàng này vậy!

Tam Văn hãnh diện quá, miệng cười tủm tỉm, hai cánh mũi cứ phập phồng lên xuống mãi không thôi.

Thầy Thất Sách thanh toán tiền xong, quay sang nhìn Tam Văn, nói:

- Vậy là con đã khoác lên mình bộ nhung y của người hiệp sĩ. Từ nay con phải ráng phấn đấu hết mình. Hiểm nguy không lùi bước, gian nan cũng chẳng sờn. Một lòng một dạ chiến đấu vì đại nghĩa. Có như thế thì mới xứng đáng với bộ trang phục này vậy!

Tam Văn rập gót giày đánh cộp:

- Thưa thầy! Đã rõ!...

Thứ Tư, 29 tháng 10, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XVIII)

 PHẦN IV: NAM CHINH

Thầy Thất Sách diện kiến Tuyết Sơn Cư Sĩ

Núi Phượng Hoàng gặp Bạch Hổ, Chằn Tinh

Khác với lần trước ra Bắc, lần này hai thầy trò Tam Văn lại xuôi tận vào Nam. Trên xe, họ đã không ngớt kể lể cho nhau nghe bao nổi đắng cay trong suốt thời gian bị giam cầm, quản chế, và tỏ ra vô cùng hỉ hả về chuyến vượt ngục thành công mỹ mãn của mình. Nhưng khi mà những dư âm và phong vị quê nhà đã dần lùi lại phía sau, họ cũng cần phải tính đến những bước đường phiêu lưu phía trước. Thầy Thất Sách ngồi đặt hai tay lên đùi, trầm ngâm một lúc, rồi nói:

- Ta nghe nói, trên đỉnh núi Phượng Hoàng có một cao nhân ẩn dật tên là “Tuyết Sơn Cư Sĩ”. Người này kiến thức cao thâm, lại có thể nhìn thấu quá khứ, biết trước tương lai. Trước khi tiếp tục hành trình, ta muốn lên núi để tìm gặp và xin ý kiến của người về chuyến xuất chinh lần này xem sao!

- Núi Phượng Hoàng ở đâu hả thầy? – Tam Văn tò mò, hỏi.

- Cách đây khoảng mấy chục cây số nữa. Đến đó ta sẽ xuống xe và hỏi đường sau.

Chừng nửa tiếng đồng hồ sau thì đến nơi. Hai thầy trò xuống xe giữa một vùng đồng không, mông quạnh. Nhìn suốt con đường, chẳng có lấy một ngôi nhà hay bóng người nào cả, trước mặt, chỉ nhìn thấy những hàng cây xà cừ cổ thụ chạy dài đến ngút tầm mắt.

Thầy Thất Sách đang lo lắng không có người để hỏi đường thì chợt Tam Văn đưa tay chỉ:

- Có người kìa thầy!

Từ đằng xa, có một nông phu đang vác quốc đi lại. Đợi cho người kia tới gần, thầy Thất Sách chắp tay, nói:

- Phiền ông cho hỏi, đường lên núi Phượng Hoàng đi lối nào?

Người nông phu nhìn hai thầy trò có ý đoán định, rồi trỏ tay, nói:

- Ngọn núi cao, quanh năm mây phủ kia chính là núi Phượng Hoàng đó. Nhìn gần thế thôi, nhưng đi cũng phải mất ba, bốn cây số nữa mới tới nơi. Mà đường lên núi cũng gian nan lắm!

Thầy Thất Sách nói:

- Không hề chi! Đã gọi là tầm sư học đạo thì đâu dám quản đường đi khó!

Họ chào người nông phu, rồi cùng men theo một lối mòn quanh co để đi về hướng núi Phượng Hoàng. Con đường xuyên qua cánh đồng và những bãi đất trống, hai bên mọc đầy những cây trinh nữ, cây cúc áo và xuyến chi xanh tốt. Màu tím của hoa trinh nữ, xen lẫn với sắc trắng, đỏ của hoa cúc áo, xuyến chi, khiến cho cảnh tượng thiên nhiên thêm phần tươi thắm. Đường xuân nhẹ bước, tâm hồn phơi phới, thênh thênh.

Thực là:

Xuân đến, xuân đi vốn lẽ thường

Đời người phiêu dạt chốn phong sương

Hoa nở bên đường khoe sắc thắm

Chút tình non nước, mãi còn vương

Đúng như người nông phu đã nói, phải đi chừng mấy cây số nữa thì họ mới đến được chân núi Phượng Hoàng. Đứng dưới nhìn lên, chỉ thấy đỉnh cao chót vót, hun hút như đường lên trời. Mây mù che khuất, đùn lên như khói toả, đến nổi chẳng thể nhìn thấy được đường đi. Mất một lúc tìm kiếm, sau cùng họ cũng tìm được một lối mòn và bắt đầu đi lên. Càng lên cao, cây cối càng rậm rì, xanh tốt, gió thổi vi vút như chuông, cảm giác đến lạnh người.

Lên khỏi chân núi được một đoạn, họ bắt gặp một tiểu đồng đang hái nấm bên đường. Chú bé nhổ từng cây nấm, bỏ vào một cái giỏ tre, rồi bắt đầu cất tiếng hát véo von. Giai điệu bay bổng, dìu dặt, lời bài hát lại rất thanh nhã, họ chưa từng được nghe thấy bao giờ cả.

Thầy Thất Sách quay sang, bắt tay làm loa, rồi hỏi vọng xuống:

- Này tiểu đồng! Chỗ ở của Tuyết Sơn cư sĩ ở đâu vậy?

Tiểu đồng ngửa mặt, chỉ tay lên cao:

- Núi này chỉ có mỗi đường mòn đi lên. Ông cứ đi theo lối ấy. Lên đến đỉnh núi là sẽ nhìn thấy am của Tuyết Sơn cư sĩ ở đó!

- Đa tạ tiểu đồng!

- Nhị vị bình an!

Tạm biệt tiểu đồng, hai thầy trò lại nhắm hướng đỉnh núi leo lên. Trên đường đi, họ nhìn thấy những cây dây leo, những bụi phong lan bám vào vách đá treo lủng lẳng, nở hoa sặc sỡ. Cảnh tượng thật là tươi đẹp và hùng vĩ. Bởi vậy, họ vừa đi vừa mải mê ngắm nhìn đến nỗi quên hết cả gian nan, mệt nhọc.

Đến lưng chừng núi, vừa qua một khúc quanh, bất chợt họ nghe thấy một tiếng gầm dữ dội vang lên, âm thanh dội vào cành cây, vách đá rất chi là rùng rợn. Còn chưa kịp hiểu chuyện gì, thì từ trong bụi rậm, một con hổ trắng lao ra chặn đường. Nó nghênh nghênh cái đầu, nhe nanh, giơ vuốt như chực ăn tươi, nuốt sống hai thầy trò vậy. Tam Văn co rúm cả người lại, mắt mở to, miệng há hốc. Chú đảo mắt nhìn quanh, những muốn tìm đường tẩu thoát, nhưng không hiểu sao cứ đứng chôn chân tại chỗ mà chẳng tài nào nhúc nhích nổi. Bình sinh, chú chưa từng gặp hổ bao giờ, huống chi lại ở nơi thâm sơn cùng cốc u tịch thế này. Vì vậy mà chú sợ đến nỗi đờ cả người ra, thần hồn nát thần tính vậy.

Sau phút bất ngờ, thầy Thất Sách định thần, rồi lấy hết dũng khí múa trường côn xông lên. Nhưng kỳ lạ thay, con hổ trắng đã không kháng cự, nhằm khi thầy Thất Sách vừa lao tới là nó liền nhảy vụt vào bụi rậm gần đó và biến mất.

Trạng thái tâm lý lúc này của Tam Văn cứ gọi là xoay như chong chóng. Từ sợ hãi, chú chuyển sang kinh ngạc, rồi tung hô, mừng rỡ. Chú chạy đến bên thầy, hoa chân múa tay như nhảy múa, rồi lại mở to mắt để nhìn kỹ xem thầy mình còn đó thật không hay là đã bị con hổ kia tha đi mất rồi. Cũng từ lúc ấy, Tam Văn cứ theo sát chân thầy mà không rời nửa bước. Chú sợ rằng, bất chợt, nhỡ con hổ lại từ đâu lao ra rồi vồ lấy chú mà tha vào rừng thì thật là khốn. Nhưng càng sợ hãi bao nhiêu, chú lại càng khâm phục chủ mình bấy nhiêu. Vừa tấp tểnh bước đi, chú vừa luôn miệng tấm tắc:

- Một con Bạch Hổ to lớn và dữ tợn thế kia, vậy mà thầy vừa mới múa côn xông tới là nó đã sợ hãi mà bỏ chạy mất tăm. Uy vũ và thần lực của thầy thật chẳng khác nào Võ Tòng Hành Giả đánh hổ trên đồi Cảnh Dương khi xưa vậy!

Thầy Thất Sách phổng mũi, đáp:

- Nhà ngươi cũng biết đến tích này chăng?

Tam Văn nói:

- Hồi còn ở “Đạo Nhân Thi Quán”, chẳng phải là thầy đã từng kể cho con nghe rồi hay sao?!

- Ờ!... Phải! – Thầy Thất Sách nhớ ra, gật gù.

Càng lên cao, sương càng dày đặc, mờ mịt, gần như không còn nhìn thấy lối đi nữa. Hai thầy trò phải căng mắt ra để dò dẫm từng bước một, đường đi hết sức gian nan. Vách đá lại trơn trượt, hễ vịn vào là tuột ra, dễ mà ngã dúi ngã dụi như chơi. Tưởng rằng khó khăn, thử thách đến thế là cùng, nhưng chưa. Vừa khi ấy, lại nghe có tiếng phun phì phì như thổi bễ, rồi một con trăn hoa mắt đỏ đòng đọc bổng từ đâu lao ra chắn ngang đường. Con trăn (còn gọi là chằn tinh) to như cột nhà, khắp mình vằn đốm, hai hàm răng nhọn hoắt như hai bàn cào sắt nhe ra dữ tợn. Ôi thôi! Vừa mới thoát khỏi nạn Bạch Hổ, nay lại đến hoạ Chằn Tinh vậy.

Tam Văn lại được thêm một phen hồn vía lên mây nữa. Nhưng thầy Thất Sách thì vẫn không hề nao núng chút nào, thầy lại vung quyền, múa gậy xông tới. Kỳ lạ thay, khi thầy Thất Sách vừa tới gần, con chằn tinh kia cũng lại lao vào bụi rậm mà biến mất.

Thấy thầy mình đã đánh đuổi được Chằn Tinh, Tam Văn nhảy cẫng lên vì vui sướng. Chú vỗ tay bồm bộp, nói như reo:

- Hoan hô thầy! Sức mạnh của thầy thật chẳng khác nào chàng Thạch Sanh đánh Chằn Tinh khi xưa cả!

Thầy Thất Sách vuốt râu:

- Ngươi nói thế cũng phải. Nhưng ngươi không có ý nịnh ta đấy chứ?

- Chiến công của thầy là có thật, có con chứng kiến, chứ có phải bịa ra đâu mà bảo nịnh với bợ – Tam Văn quả quyết đáp.

Thầy Thất Sách nói:

- Có vẻ như nhà ngươi ngày càng khá hơn rồi đấy. Đối đáp và trích dẫn điển tích đâu ra đấy cả.

- Học trò của thầy mà lị. Gần đèn thì phải sáng chứ! – Đến lượt Tam Văn phổng mũi.

- Tuy nhiên, ta lại thích được so sánh với sự tích chém rắn khởi nghĩa của Hán cao tổ khi xưa hơn – Thầy Thất Sách nói - Cuối thời nhà Tần, tại núi Mang Đãng, Lưu Bang (tức là Hán cao tổ) đã vung ba thước gươm, chém rắn, đuổi hươu để phất cờ khởi nghĩa. Nay ta cũng đánh Bạch Hổ, đuổi Chằn Tinh để lên núi tầm sư học đạo vậy!

Cứ thế, hai thầy trò vừa đi vừa mãi nói chuyện về hai chiến công hiển hách vừa rồi mà quên hết cả khó khăn, mệt nhọc. Đường đi cũng vì thế mà như được rút ngắn lại, chẳng mấy chốc đã lên đến đỉnh núi Phường Hoàng.

Lúc này, trãi ra trước mắt họ cơ man nào là những gốc tùng cổ thụ. Thân cây cao vút, mây trắng vờn quanh, cành lá bồng bềnh, lâng lâng thanh khí. Thấp thoáng dưới bóng Tùng, một căn nhà gỗ nằm chênh vênh, mái nhẹ và cong vút lên, nom rất thanh nhã. Trước thềm, có trồng rất nhiều giống hoa thơm, cỏ lạ. Mái liếp che nghiêng, thềm hoa rủ bóng. Thực là chốn phật, cảnh tiên để dành cho cao nhân ẩn dật và lánh xa tục luỵ vậy.

Từ trong nhà, có một chú tiểu đồng đang thong thả đi ra. Nhìn kĩ thì đúng là chú tiểu đồng mà hai thầy trò họ đã bắt gặp ở dưới chân núi lúc nãy. Họ còn chưa hết kinh ngạc thì tiểu đồng đã cất tiếng:

- Ngài đây có phải là hiệp sĩ Thất Sách chăng?

Hai thầy trò lại được một phen kinh ngạc nữa. Chẳng hiểu vì sao mà tiểu đồng lại có thể biết được tên thầy Thất Sách? Trong khi họ chưa từng nhắc đến, cũng như chưa hề giới thiệu với chú ta bao giờ cả. Thật là vi diệu, thật là thần thông quảng đại vậy.

Như đoán được suy nghĩ của họ, tiểu đồng nói tiếp:

- Sư phụ tôi nói, hôm nay có hiệp sĩ Thất Sách từ “Đạo nhân thi quán” tới thăm. Vậy nên dặn tôi ra đây để đón tiếp.

- Sư phụ của chú là ai? – Thầy Thất Sách hỏi.

- Là Tuyết Sơn Cư Sĩ!

- Vậy thì đúng rồi! – Thầy Thất Sách cả mừng - Phiền tiểu đồng dẫn chúng tôi vào ra mắt sư phụ chú được không?

- Xin mời nhị vị tráng sĩ! – Tiểu đồng khoát tay, nói.

Hai thầy trò dắt díu nhau, theo chân tiểu đồng đi vào trong am. Bên trong được bài trí ngăn nắp, đơn sơ và thanh tịnh. Phía trên điện, có một người đang ngồi thiền trên một tấm nệm tròn được đan bằng rơm, hai mắt nhắm nghiền, vẻ mặt thư thái, vô vi. Người ấy mặc một bộ đồ trắng muốt, mình thông cốt hạc, râu tóc bạc phơ, mày thanh, mắt sáng, da dẻ hồng hào như một tiên nhân. Đó chính là Tuyết Sơn Cư Sĩ vậy.

Tiểu đồng mời hai thầy trò Tam Văn ngồi, rồi đến bên cư sĩ, vòng tay:

- Bẩm thầy! Có hiệp sĩ Thất Sách xin được diện kiến!

Đạo sĩ từ từ mở mắt ra, thở nhẹ, dồn khí xuống đan điền, rồi nói:

- Nhị vị thí chủ lặn lội đường xa tới đây. Xin hãy cho biết sở nguyện?

Thầy Thất Sách chắp tay, thưa:

- Chẳng dấu gì đạo sĩ. Từ lâu đã nghe danh ngài là người thông kim bác cổ, thấu triệt lẽ đời. Bởi vậy mà tại hạ chẳng quản đường xa tới đây, xin được có đôi lời muốn hỏi!

- Nhị vị cứ hỏi!

- Thưa cư sĩ! Ngày nay, chánh đạo ngả nghiêng, nhân tâm li tán. Tại hạ những muốn dốc hết tâm sức để sửa sang giường mối, nâng đỡ càn khôn. Nhưng ngặt nổi tài sơ, trí thiểu, sức lực lại có hạn. Nay tại hạ đến đây, cúi xin tiên sinh rủ lòng thương mà chỉ dẫn đường đi, nước bước cho!

Cư sĩ vuốt râu cười lớn, rồi cất giọng vang vang:

- Khá khen cho hiệp sĩ Thất Sách! Nhà ngươi một lòng, một dạ vì đại nghĩa, những mong cứu giúp cho đời. Cái tâm trong sáng đó thật đáng để cho người đời ngưỡng mộ. Những việc làm của ngươi cũng vì xuất phát từ tình yêu thương đồng loại, chẳng có gì đáng để chê trách cả. Ta chỉ muốn khuyên nhà ngươi một điều, ấy là mọi việc hãy để tuỳ biến, tuỳ duyên. Chỉ cần tiến thoái cho hợp lẽ là được!…

Thầy Thất Sách lạy tạ, nói:

- Được nghe những lời cao luận của tiên sinh, tại hạ như được vén mây mù mà nhìn thấy ánh mặt trời vậy. Cúi xin người hãy chỉ bảo tường tận hơn!…

Cư sĩ vuốt râu, nói:

- Ở đời, mỗi người theo đuổi một chí hướng. Ai cũng có giấc mơ riêng của mình cả. Vì vậy mà chẳng thể cưỡng cầu. Điều cốt yếu là cái tâm phải trong sáng, thiện lương. Tâm tốt thì làm việc gì cũng tốt. Đạo nào thì cũng phải lấy cái tâm làm gốc cả.

Thầy Thất Sách rập đầu, nói:

- Tại hạ cũng biết thế sự khôn lường, nghiệp duyên vô định. Từ lâu đã muốn gác bỏ sự đời, tìm nơi quy ẩn, mặc cho năm tháng dần trôi. Nhưng ngặt nỗi, nghiệp trần chưa dứt, lại không nỡ nhìn con đỏ xoay vần trong  bể khổ, vì vậy mà còn muốn đem chút hơi tàn để giúp sức cho đời. Những mong có ngày mây mù dần tan, ánh mặt trời ló rạng, thiên hạ lại được thái bình. Khi ấy, tại hạ lại bắt chước Trương Tử Phòng khi xưa, xin được theo tiên sinh lên núi quy ẩn, nhất quyết không còn màng gì đến thế sự nữa!

- Thí chủ nói cũng phải. Muôn sự phải tuỳ duyên. Thí chủ còn muốn hỏi gì nữa không?

Thầy Thất Sách ngẫm nghĩ một lúc, rồi hỏi:

- Tại hạ muốn được tiên nhân cho biết: Chuyến xuất chinh lần này của tại hạ liệu có thành tựu hay không?

Cư sĩ Tuyết Sơn nói:

- Sự đời vô cùng, sóng sau xô sóng trước, vô thuỷ vô chung. Vì vậy mà nói thành tựu hay không thì e là hơi khiên cưỡng. Ta tặng ngươi ba câu này, hãy dụng tâm mà suy nghĩ thì mới được: “Hai năm trời lưu lạc. Gặp Lợn thì vinh. Gặp Muỗi thì hết”.

- Xin người hãy giảng rõ nghĩa hơn! – Thầy Thất Sách nói.

Cư sĩ xua tay, đáp:

- Số trời mờ mịt, đến lúc ứng nghiệm thì sẽ biết!

Thầy Thất Sách lại toan hỏi nữa, nhưng cư sĩ đã nhắm mắt, nói:

- Đã đến giờ ta phải tịnh cốc tu luyện rồi. Tiểu đồng. Tiễn khách!

Hai thầy trò cúi đầu, bái biệt cư sĩ rồi lui ra. Lúc xuống núi, quả không còn thấy Bạch Hổ hay Chằn Tinh nào chặn đường quấy nhiễu nữa. Lúc leo lên muôn vàn gian nan, khi xuống lại mau chóng và thuận lợi như được ai đó chắp cho một đôi cánh thần tiên vậy. Bấy giờ thầy Thất Sách mới biết, cả bạch hổ và chằn tinh kia đều là do cư sĩ biến hoá thành để thử lòng dũng cảm cũng như quyết tâm của hai thầy trò họ đấy thôi.

Khi xuống đến chân núi, họ đã lại thấy tiểu đồng đang đứng hái nấm ở đó. Tiểu đồng nhìn sang, rồi vẫy tay chào họ như thể đã quen biết từ lâu rồi vậy.

- Quái lạ! – Tam Văn kinh ngạc - Vừa rồi mới thấy tiểu đồng trên kia, sao giờ này lại có một tiểu đồng ở đây nữa? Phải chăng có lối tắt nào khác ở trong núi? Hay là chú ta có phép màu biến hoá, phân thân?

Thầy Thất Sách vừa cúi đầu bước đi, vừa chau mày, suy nghĩ. Đúng vậy, với một con người thông tuệ và đã từng đọc nhiều tiểu thuyết kiếm hiệp cũng như sách thần tiên như thầy mà còn chẳng tài nào vắt óc nghĩ ra nỗi, huống chi là Tam Văn.

Thứ Năm, 23 tháng 10, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XVII)

 

Tế mộ tổ, hảo hán cao chạy xa bay

Nhẹ đường mây, giang hồ thênh thang thẳng lối.

Mùa xuân về trên “Đạo nhân thi quán”. Muôn hoa đua nở, cây cỏ đâm chồi, nẩy lộc tốt tươi. Hoa hồng, hoa thược dược, cúc hoạ mi, hoa lay ơn, violet cùng nhau đua sắc, như khoa trương những vẻ đẹp vô ngần. Gió xuân phe phẩy, lay động những búp non, lá nõn trên cành. Đất trời cùng giao hoà làm một, muôn vật đều nẩy nở, sinh sôi. Thực là một cảnh tượng xinh đẹp và tốt tươi, tựa như chốn thiên đường nơi cõi thế vậy.

Thế nhưng, cái khung cảnh diễm lệ ấy đã không thể nào trói buộc được lòng người, không làm cho cái tráng chí trong lòng thầy Thất Sách hư hao đi chút nào cả. Dòng máu anh hùng, nghĩa hiệp vẫn không ngừng cuộn chảy bên trong huyết quản của thầy. Cái chí hành hiệp giang hồ vẫn như ngọn lửa âm ỉ không thôi, chỉ chờ một cơn gió thổi qua là sẽ bùng cháy lên thành biển lửa ngút ngàn.

Vậy nên, giữa cái khung cảnh tưởng chừng như thái bình, thịnh trị ấy lại đang giam hãm một bóng hình ủ dột, một tâm hồn chất chứa muôn vàn nỗi cô đơn. Nhân vật ấy chính là thầy Thất Sách, vị hiệp sĩ anh hùng và vĩ đại của chúng ta vậy.

Như đã nói, việc phải chịu đựng một cuộc sống quản thúc và bó buộc đã khiến cho thầy Thất Sách buồn rầu khôn xiết. Thầy đi lại và sinh hoạt trong “Đạo nhân thi quán” như một cái bóng âm thầm của chính mình. Hằng ngày, thầy làm những công việc vặt vãnh để giải khuây, để quên đi cái thực tại u buồn, tăm tối mà chính mình cũng chưa biết làm cách nào để thoát ra.

Cuộc sống của thầy giờ đây đã khác xưa, và cũng không thể quay trở lại như trước được nữa. Khi đã quen sống trong tăm tối nô lệ, không biết đến ánh sáng tự do là gì, thì anh không bị đề phòng, nghi kị. Vì anh chỉ là một sản phẩm bị cai trị và nhồi sọ, là một công cụ trong tay người khác mà thôi. Khi đã quen và chấp nhận với điều đó, anh vô hại, anh chẳng thể giải phóng cho chính mình và cũng chẳng giúp ích được cho ai. Nhưng một khi đã từng vươn tới ánh sáng tự do, anh chẳng thể làm nô lệ như trước đây được nữa. Điều đó khiến cho những thế lực thống trị cảm thấy nghi kị anh (Thầy Thất Sách gọi những kẻ mưu toan quản chế mình là tầng lớp thống trị). Vì thế mà anh phải bị kiểm soát, bị giam hãm và đề phòng. Họ sợ anh sẽ đem thứ ánh sáng tự do ấy chiếu rọi lên đời sống, giác ngộ những thân phận nô lệ vùng lên đập tan xiềng xích, xoá bỏ bất công. Trong một môi trường mà tư tưởng cấm đoán thống trị thì những tư tưởng tự do, khai phóng sẽ bị kìm hãm và trói buộc. Thầy Thất Sách hiểu rằng, muốn thoát khỏi cảnh ấy, đòi hỏi người ta phải có trí tuệ, sự kiên trì và lòng dũng cảm vô song. Những thứ ấy tuy hiếm, nhưng lại là phẩm chất sẵn có ở thầy, một hiệp sĩ vĩ đại, người đã được vua Hùng đích thân báo mộng và đã lập được vô số những chiến công hiển hách.

Ngoài việc ức chế vì bị hoàn cảnh kìm hãm, việc phát hiện ra cái tủ sách của mình bị mất càng khiến thầy Thất Sách trở nên u buồn hơn. Đối với thầy, những cuốn sách ấy là linh hồn, là lẽ sống của thầy vậy. Thử hỏi, một khi con người ta bị lấy mất đi cái linh hồn thì sẽ còn lại những gì? Chỉ còn là một cái xác khô, không có sức sống và cũng không còn mục đích gì để tồn tại nữa. Cũng vì việc này mà thầy đã buồn rầu đến nỗi bỏ ăn đến hai ngày. Người thầy gầy rộc đi, ngẩn ngơ như một người mới phát bệnh tâm thần vậy. Đến nỗi bà Lan phải phát hoảng và đứng ngồi không yên. Vô kế khả thi, bà cầu cứu bác trưởng tộc để tìm cách giải quyết. Đáp lại, bác trưởng tộc vẫn kiên định với mục tiêu: “Thuốc đắng giã tật. Có làm như thế thì ông ấy mới khỏi bị ảnh hưởng bởi những cuốn sách kiếm hiệp tai hại kia” – Bác nói.

Nhưng thầy Thất Sách chỉ buồn mà bỏ ăn chứ thầy đâu có ý định tuyệt thực. Vì vậy mà đến ngày thứ ba thì thầy chấp nhận ăn uống trở lại như bình thường.

Điều khiến thầy Thất Sách cảm thấy nguôi ngoai được phần nào, ấy là tuy mất cái tủ sách, nhưng giờ đây thầy đã hiện thực hoá nội dung những cuốn sách ấy thông qua cuộc phiêu lưu kỳ thú của mình. Điều ấy chẳng phải là thầy đã kế tục tiền nhân, đã phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới rồi hay sao. Những nhân vật được miêu tả ở trong sách, giờ đây đã bước ra ngoài đời và sống một cuộc sống thực rồi hay sao. Vì vậy mà việc còn hay mất cái tủ sách ấy, đối với thầy giờ này cũng đâu còn là vấn đề quan trọng lắm nữa.

o0o

Một buổi sáng xuân, thầy Thất Sách ngồi trên chiếc tràng kỉ quen thuộc, chống cằm tư lự nhìn ra ngoài vườn mà thương nhớ giang hồ. Thầy đang suy nghĩ về những hành động của mình sắp tới, đúng hơn là chuẩn bị tinh thần cho một cuộc vượt ngục vô tiền khoáng hậu vậy.

- Ăn sáng thôi! Ông ơi!

Tiếng bà vợ vang bên tai khiến cho thầy Thất Sách sực tỉnh. Bà đặt tô bún bốc khói nghi ngút lên bàn, cẩn thận và khéo léo như một người chạy bàn chuyên nghiệp.

Thầy miễn cưỡng ăn, hờ hững múc từng thìa bún nhỏ cho lên miệng. Ráng mãi mà thầy cũng chỉ ăn hết nửa tô, còn lại thì bỏ dở. Bà vợ kiên nhẫn chờ cho chồng ăn xong, thu dọn bát đũa rồi mang khay trái cây vào.

- Ông tráng miệng đi! Ăn chuối tốt cho sức khoẻ và tiêu hoá lắm đấy! – Bà ân cần nói.

Chiều bà, ông bóc một quả chuối lùn rồi đưa lên miệng nhai trệu trạo. Trong lúc nhai, hai bên má ông cứ lồi lên lõm xuống như hai quả bóng bàn, nom đến là buồn cười.

Bà nhìn ông bằng một ánh mắt chăm chút, rồi lựa lời, nói:

- Ông xem, đường đường là chủ của “Đạo nhân thi quán”. Đang có tất cả trong tay, vậy mà bổng dưng ông lại bỏ nhà đi lang thang như một kẻ hành khất, khiến cho người đời khinh rẻ như vậy. Ông về đây sướng như vương như tướng, muốn gì được nấy, tôi sẽ chăm sóc và nâng giấc ông tận tình. Như thế có phải là tốt hơn không nào?!

Ông chỉ ậm ừ cho qua chuyện, vì ông thừa hiểu rằng, đó chỉ là chiêu trò của những người phụ nữ. Họ luôn có xu hướng làm quá lên, thêu dệt những thứ họ ghét thành những điều gớm ghiếc, tội lỗi để hù doạ, khiến cho đối phương lần sau không còn dám tái phạm nữa.

 Đàn ông nông cạn vẫn là giếng thơi, đàn bà có sâu sắc cũng chỉ như cái cơi đựng trầu. Bởi vậy mà những lời của bà ông đâu có để vào tai. Cái chí của ông là lưu lạc giang hồ, là hành hiệp trượng nghĩa, với ông đó là lý tưởng, là mục tiêu phấn đấu một đời vậy. Xưa nay, ông nào có tôn thờ cái thứ chủ nghĩa núp váy đàn bà bao giờ? Vậy nên, cho dù bà có tỉ tê thế nào đi nữa, có mua chuộc cách gì, cũng đâu lay chuyển được cái ý chí sắt thép vùng vẫy giang hồ ấy kia chứ.

Bữa ấy, nhân lúc bà Lan vừa mới xách làn đi chợ. Thầy Thất Sách liền viết một mẫu giấy nhỏ, bỏ vào túi áo rồi cài cúc lại kín kẽ. Cái áo này nguyên là của Tam Văn hồi trước còn để quên ở đây. Sau đó ông gấp áo lại vuông vắn, cho vào một cái túi ni lông cẩn thận. Ông gọi con bé Trang lại, trao cái túi cho nó, rồi giơ ngón tay lên, dặn:

- Cháu đưa cái áo này đến nhà chú Mạnh Đình nghe chưa. Dặn chú ấy là phải coi cho kỹ xem có đúng là áo của mình không. Nhớ là chỉ được trao cho chú ấy thôi nhé. Đưa xong lại về ngay. Nhớ chưa?!

- Dạ! Cháu nhớ rồi! – Đứa bé ghếch mũi lên, nghe như nuốt từng lời của ông, rồi lập tức đón lấy cái áo, quày quả đi ngay.

Nhớ lời ông dặn, cô bé đi gấp gáp, hai chân cứ như ríu vào nhau, chẳng dám nhìn ngang, ngó dọc đâu cả. Đến nơi, thấy chú Mạnh Đình (tức Tam Văn) đang tưới rau ngoài vườn, nó lớn tiếng gọi:

- Chú Mạnh Đình ơi! Ông cháu dặn đưa cho chú cái này!

Nghe tiếng gọi, Tam Văn ngừng tay, ngửa cổ ngó vào. Nhận ra đứa cháu gái của thầy, chú đặt vội cái thùng tưới nước xuống, chùi hai bàn tay vào ống quần rồi tất tả đi vào.

Đứa bé nhắc lại nguyên văn lời ông dặn, rồi trao cái áo cho Tam Văn.

- Ông cháu còn dặn gì thêm không? – Tam Văn nhìn nó, cẩn thận hỏi lại.

- Dạ không! Ông chỉ nói là chú xem cho kỹ có đúng là áo của chú không – Đứa bé đáp xong, chào Tam Văn rồi lại vội vã quay về ngay.

Tam Văn chống tay, thẩn thờ ngồi xuống thềm. Nghĩ đến lời của thầy, chú trãi cái áo ra, tỉ mẩn kiểm tra thật kỹ một lúc. Nhưng mãi mà vẫn không thấy gì khác ngoài chiếc áo đã được giặt giũ và là ủi cẩn thận. Chú bóp trán, băn khoăn nghĩ: “Thầy ta đã dặn xem kỹ, hẳn phải có ẩn ý chi đây. Sao lại không thấy gì là sao nhỉ?”. Rồi để cho chắc chắn, chú lại xoay ngang, xoay dọc chiếc áo xem thêm một lần nữa. Sau cùng, khi mở cúc túi áo, chú thấy có một mẫu giấy rơi ra. Mắt chú sáng rỡ, hồi hộp cầm lên, đọc: “Chuẩn bị xuất hành. Ngày mai tìm cớ đến nhà thầy để bàn bạc kỹ hơn. Xem xong đốt ngay!”

Tam Văn đọc xong, dùng tờ giấy làm đóm, châm lửa hút ngay một điếu thuốc lào, rồi nhả khói mù mịt.

Thú thực, lâu nay chú cũng đã ngán lên tận cổ cái cuộc sống cá chậu chim lồng này lắm rồi. Một lòng một dạ, chú chỉ khao khát muốn được trở lại cuộc sống tự do bay nhảy như xưa. Vậy nên khi bắt được liên lạc với thầy, chú đã mừng rơn, chẳng khác nào như nắng hạn gặp mưa rào cả. Hai thầy trò thế là lại cùng chung một chí hướng, một mục đích sống, thực là tri âm gặp tri kỷ vậy.

Hôm sau, thu dọn nhà cửa xong, bà Lan để thầy Thất Sách ở nhà một mình rồi tranh thủ chạy đi chợ một lúc.

Lúc này ở nhà, Tam Văn cũng nói với vợ:

- Mình ơi! Cái chuồng gà nhà mình đã bị hỏng. Tôi đi mượn cưa, đục về để sửa lại đây!

Nghĩ đến cái chuồng gà sập sệ, đã bị nghiêng hẳn một bên mái, cô vợ đồng ý ngay tắp lự:

- Phải rồi! Nhưng mình đi rồi về ngay nhé!

- Dĩ nhiên rồi! Tôi đi một lúc là về ngay! – Tam Văn mừng quýnh vì mọi việc diễn ra đúng ý mình.

Chỉ mấy phút sau, Tam Văn đã có mặt tại nhà thầy mình. Gặp lại người đệ tử trung thành, thầy Thất Sách mừng đến nỗi muốn phát điên, tay cứ vỗ bồm bộp mãi vào lưng chú mà lẩm nhẩm không ngớt:

- Anh lại đây là tốt rồi!...Vậy là tốt rồi!...Ngồi xuống đây! Ngồi xuống đây!...

Vì sợ mất thời gian, hai thầy trò bàn ngay vào công chuyện. Thầy Thất Sách nói:

- Tình cảnh của hai thầy trò ta hiện nay thật chẳng khác nào ông Lưu Huyền Đức khi xưa cả. Khi ấy, Tôn Quyền là chúa tể Giang Đông, đã giữ Lưu Huyền Đức ở lại rồi gả em gái cho. Để làm cho Huyền Đức nhụt chí lớn, ông ta đã cho xây dựng lầu các tráng lệ, trồng ở đó nhiều thứ hoa thơm cỏ lạ. Những mong Huyền Đức vì ham mê phú quý mà quên đi bọn Quan, Trương và Khổng Minh ở Kinh Châu. Nhưng rồi nhờ có mưu kế tuyệt diệu của Khổng Minh, Huyền Đức đã bỏ trốn về Kinh Châu một cách an toàn. Trò có biết đó là cách gì không?

Tam Văn lắc đầu không hiểu. Thầy Thất Sách giải thích:

 - Ấy là hai vợ chồng vờ đi ra bờ sông để tế mộ tổ. Sau đó nhân cơ hội, họ thẳng tiến luôn về Kinh Châu.

Tam Văn ngồi chống cằm, ngẩn người ra mà nghe như nuốt lấy từng lời của chủ, hai cánh mũi không ngớt phập phồng vì cảm động. Liên hệ với hoàn cảnh hiện nay, chú thấy những lời kia mới đúng làm sao, hay và thấm thía nhường nào.

Thầy Thất Sách nhấp một ngụm nước cho bớt khô giọng, rồi nói tiếp:

- Thời xưa, hễ cứ đầu xuân là các bậc quân vương lại cất quân chinh chiến. Vì lúc này đã qua đi mùa đông lạnh giá. Xuân đến, khí hậu ấm áp, cảnh vật tốt tươi, rất hợp cho việc xuất chinh đánh trận. Ta nay cũng vậy. Nhân lúc xuân sang, chúng ta sẽ Nam chinh, tiếp tục cuộc du hành vĩ đại của hai thầy trò ta. Ngươi hãy về chuẩn bị dần đi là vừa. Khi nào đi ta sẽ báo. Hãy nhớ, khi cần là phải đi ngay, gọn gàng, ngăn nắp, không cần cồng kềnh gì cả.

Để khích lệ tinh thần của Tam Văn, thầy cũng nhắc đến chuyện sẽ mua cho chú bộ đồ rằn ri như chú hằng mơ ước. Thầy hứa là trên đường đi, hễ gặp cửa hàng quần áo nào đầu tiên thì sẽ ghé vào để mua cho chú ngay tắp lự.

Dĩ nhiên là Tam Văn hoàn toàn đồng ý với ý kiến của thầy mình. Đợi cho thầy dứt lời, chú phấn khởi đứng lên, nói:

- Vâng! Còn bây giờ thì con về đây! Trùng trình lâu, sợ bác gái về bắt gặp và vợ con ở nhà lại sinh nghi chăng?!

o0o

Trời không phụ người có lòng, thế rồi cơ hội vượt ngục ngàn năm một thủa cũng đã tới. Bữa ấy bác trưởng tộc tổ chức họp họ và gửi giấy mời đến toàn thể các chủ hộ trong họ. Bởi vậy mà dịp ấy cả hai thầy trò Tam Văn đều có mặt đầy đủ cả. Thầy Thất Sách ngồi mâm trên, cùng với bác trưởng tộc và các cao niên. Tam Văn thì ngồi chiếu dưới, cách chỗ thầy hai dãy bàn. Trong lúc này, thầy Thất Sách chỉ cốt nghĩ sao để có thể bắn tin được cho Tam Văn. Thành ra mọi người cứ nói cười lao xao, nhưng thầy thì chẳng để ý và cũng chẳng nghe thấy gì cả.

- Ông có đang nghe tôi nói không đấy? – Bác trưởng tộc vỗ vỗ vào vai thầy Thất Sách, hỏi.

Thật Thất Sách giật nảy mình:

- Bác vừa nói gì ấy nhỉ?...Vâng!...Bác cứ nói tiếp đi!...

- Tôi đang nói với mọi người là sẽ bầu cử ông làm trưởng ban biên soạn gia phả! – Bác trưởng tộc nhắc lại.

- À!...Vâng!...Tôi xin sẵn lòng! – Thầy Thất Sách đáp như cái máy, nhưng đầu óc thì vẫn đang để trên mây.

Chuyện trò một lúc, nhân lúc mọi người không để ý, thầy Thất Sách bèn đứng dậy để đi vệ sinh. Lúc ngang qua chỗ học trò, thầy bèn đưa mắt ra hiệu. Tam Văn hiểu ý, liền đứng dậy đi theo chủ. Ra đến đầu hồi, chú thấy thầy mình đang đứng lần chần ở đó có ý đợi. Chờ cho Tam Văn tiến lại gần, thầy Thất Sách nhìn trước ngó sau, rồi cất giọng thầm thì:

- Tám giờ sáng mai. Gặp nhau ở mộ tổ! Mang luôn cả hành lý theo! Nhớ chưa?!

Tam Văn gật đầu lia lịa nhưng không dám hỏi nhiều. Thông điệp mà thầy đưa ra tuy ngắn gọn nhưng đã khá đầy đủ rồi. Có nghĩa sáng mai họ sẽ lên đường, nói cách khác là cùng nhau bỏ trốn. Hai người trao đổi xong, sợ mọi người bắt gặp sẽ sinh nghi, mỗi người bèn tản đi một ngả.

Sáng hôm sau, thầy Thất Sách bỏ tấm bản đồ, sách kinh dịch, cuốn sổ nhật ký và cả cái radio nhỏ (còn gọi là bốn bảo bối) vào túi vải. Thấy thầy khoác cái túi lên vai như sắp đi đâu, bà vợ cảnh giác, hỏi:

- Ông định đi đâu đấy?

- Nhân dịp đầu xuân, tôi ra tế mộ tổ! – Thầy Thất Sách nghiêm nghị đáp, nhưng vẫn tim đập chân run vì sợ bị vợ phát hiện ra sự giả mạo của mình.

 - Tế mộ tổ thì ông đem túi theo làm gì? – Bà vợ nhìn chằm chằm vào chiếc túi một cách dò xét.

- À! Trong túi chỉ có mấy nén hương và lễ vật thôi! - Ông đáp, cố làm ra vẻ thản nhiên.

Lại nói về Tam Văn. Lúc này chú cũng đang sửa soạn hành lý để chuẩn bị lên đường. Chú bỏ cái điếu thuốc lào đã cưa ngắn và thanh đoản đao vào túi. Lại thêm một ít bánh và lương thực đủ ăn trong ngày. Mục tiêu của chú là trang bị gọn nhẹ, hàng hoá bây giờ sẵn tiện, trên đường cần gì sẽ mua sắm sau. Đợi lúc vợ sang nhà hàng xóm có chút việc, chú khoác vội cái túi lên vai, đi ra mở cổng rồi nhanh chóng lẻn ra ngoài.

Vừa đến cổng nghĩa địa, Tam Văn đã nhìn thấy cái dáng quen thuộc của thầy Thất Sách đang quỳ trên đám cỏ, sì sụp khấn vái trước mộ tổ. Cạnh đó, khói trên lư hương đang bốc cháy nghi ngút.

- Thầy đã thắp sẵn hương. Trò hãy bái lạy tổ tiên đi! – Thầy Thất Sách nói khi vừa nhìn thấy Tam Văn bước tới.

Tam Văn bỏ cái túi xuống bãi cỏ, quỳ xuống trước mộ tổ, chắp tay khấn vái.

Sau đó, hai thầy trò trao đổi nhanh với nhau một lúc. Không đợi hết tuần nhang, họ quyết định lên đường ngay.

- Chúng ta đi ngay thôi! Cần phải lên xe trước khi họ kịp phát hiện ra và đuổi theo bắt lại! – Thầy Thất Sách nói.

Thực là:

Phá tan cũi sắt, hùm lên núi

Chim sổ lồng rồi, tung cánh bay

o0o

Đợi một lúc lâu mà vẫn không thấy chồng về, bà Lan đã sinh nghi. Trống ngực đập thình thình, linh tính mách bảo cho bà biết đã có chuyện gì đó không hay. Lòng đầy lo sợ, bà vội vàng đi vào nhà để kiểm tra lại đồ đạc xem sao. Một lúc thì phát hiện ra chiếc radio nhỏ đã không còn để ở trên bàn nữa. “Đúng rồi! Ông ấy đi đâu đều mang cái đài theo. Vậy là lại bỏ nhà ra đi thật rồi!” – Bà Lan lo lắng nghĩ.  

Vừa khi ấy thì vợ Tam Văn cũng hớt hải chạy tới:

- Bác ơi! Nhà cháu chẳng biết đi đâu từ sáng đến giờ mà không thấy. Cháu nghi là họ lại bỏ trốn với nhau rồi! Chỉ sổng ra có một chút, vậy mà…

- Ông nhà tôi cũng vậy. Lúc sáng, ông ấy nói ra thắp hương ở mộ tổ. Đến giờ cũng chẳng thấy tăm hơi đâu cả! – Giọng bà Lan như mếu.

Hai người đàn bà nhìn nhau cay đắng, ánh mắt hốt hoảng, thất thần. Chẳng biết làm sao, họ chỉ còn biết vừa than thân trách phận vừa dậm chân kêu khổ.

- Biết làm sao bây giờ hả bác? – Vợ Tam Văn hoang mang, hỏi.

Bà Lan đảo mắt nhìn quanh, rồi quả quyết:

- Nhanh lên! Tôi với cô phải đi gọi ngay bác trưởng tộc và ông Thái đến giúp thì mới được.

Thế là một lúc sau, cả bốn nhân vật chủ chốt đều đã có mặt để bàn định.

Ông Thái nói:

- Thế bà và cô đã xem xét kĩ chưa? Nhỡ họ chỉ đi đâu đó một lúc thì sao?

- Tôi cũng đã ra mộ tổ kiểm tra rồi. Không còn người ở đó nữa, chỉ thấy khói hương nghi ngút cháy. Đồ đạc trong nhà cũng đã dọn đi hết cả rồi! – Bà Lan đáp.

Bác trưởng tộc bặm môi suy nghĩ, rồi nói:

- Nếu vậy thì đúng là họ mượn cớ đi viếng mộ tổ để bỏ trốn thật rồi. Lần trước vì không biết duyên cớ do đâu. Nhưng lần này thì đã biết họ bỏ trốn. Bây giờ chúng ta chỉ còn cách đuổi theo thôi!

Ông Thái chỉ tay:

- Nếu vậy thì đi mau! Binh quý ở thần tốc. May ra thì còn bắt kịp họ!

Thế là cả bốn người rồng rắn, bước thấp bước cao, cùng nhắm theo hướng quốc lộ mà thẳng tiến. Ai nấy đều hy vọng, sẽ mau chóng đuổi kịp thầy trò Tam Văn để bắt về quy án quản chế.

Trên đường, họ giục nhau đuổi nhanh, người nào người nấy đều thở không ra hơi. Lúc ra đến đường quốc lộ, lập tức mỗi người tản đi một ngả để truy lùng. Nhưng rồi họ cũng chỉ nhìn thấy những nhóm người đang đứng túm tụm để đón xe bên đường. Bên trong những quán ăn gần đó, cũng không thấy bóng dáng hai thầy trò đâu cả. Thực ra là họ đã xuất phát hơi muộn, vì giờ này thầy trò Tam Văn đã lên xe cách đây cả nửa tiếng đồng hồ rồi vậy. Lúc này chỉ còn nhìn thấy đường chia đôi ngả, chẳng biết là thầy trò họ ra bắc hay vào nam? Nhưng cho dù là đi lối nào đi nữa thì cả hai cũng đã bóng chim tăm cá, còn biết nơi nao mà tìm, mà truy vết nữa kia chứ.

Bất lực, cả bốn người đành bảo nhau lục tục quay về. Nhưng sự đời là thế, thắng thì tung hô, ca ngợi, thua thì chỉ trích, phê bình. Bởi vậy mà trên đường trở về, họ đã không tiếc lời trách móc và đổ lỗi cho nhau.

Ông trưởng tộc bực mình, gắt:

- Đã bảo phải canh chừng cẩn thận. Vậy mà lại để sổng mất. Trước đây đã sổng mất một lần rồi, lần này đáng lẽ phải cẩn thận hơn chứ. Vậy mà!…

- Thì ai biết họ lừa đi tế mộ tổ rồi trốn đi luôn! – Bà Lan xoè tay, phân bua.

Ông Thái cay đắng, nói:

- Hai người lớn chứ có phải là trẻ con đâu. Nếu họ đã có ý định bỏ trốn thì làm sao mà canh chừng cho được kia chứ!?

Vợ Tam Văn nghiến răng:

- Lẽ ra phải nhốt trong nhà hoặc dùng xích sắt để xích lại như người ta vẫn xích người điên thì mới được!…