Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXV)

 

Đêm Noel, đi qua giáo xứ

Đồng thanh tương ứng, hảo hán kết giao

Thầy Thất Sách chống gậy, nói:

- Các ngươi là ai mà lại dám cản đường ta?

Gã cầm kiếm đáp:

- Chúng tao là đại vương ở núi này. Bất cứ ai đi qua đây cũng đều phải đóng tiền mãi lộ. Biết điều thì hãy để tất cả hành lý lại đây, rồi nhanh chân mà cút ngay xuống núi!

Nguyên chúng là một bọn thảo khấu chuyên tụ tập lâu la để hại người, cướp của. Tên đứng giữa cầm kiếm chính là đại vương, còn hai gã kia là phó vương.

Thầy Thất Sách bĩu môi:

- À! Thì ra là chiếm núi xưng Vương phỏng? Vậy các ngươi đã nghe đến danh hiệp sĩ thất sách hay chưa?

Tên tướng cướp quay sang hỏi đồng đảng:

- Hắn nói gì vậy?

- Hắn nói hắn là hiệp sĩ Thất Sách!

Gã kia nghe xong thì cười đến nỗi không thể ngậm được miệng:

- Ha...ha…ha!...Cho dù có là Cửu Sách đi qua đây thì cũng phải nộp mãi lộ như thường. Huống chi chỉ là cái thứ Thất Sách như nhà ngươi! Ha…ha…ha!...

Thầy Thất Sách cả giận, vung thanh trường côn:

- Ngày xưa, Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường qua năm cửa ải, chém chết sáu tướng. Chỉ vì những kẻ ngu dốt kia đã dám cả gan cản đường võ thánh. Nay ta là hiệp sĩ Thất Sách, nhân vì có việc phải đi gấp qua đây. Nếu các ngươi vẫn cố chấp mà không chịu tránh đường thì hãy nom lấy cái gương tày liếp kia. Biết điều thì hãy tránh ra mau, kẻo cả ba chúng bay đều chết uổng mạng cả bây giờ!

Bọn cướp núi bị chọc tức như thế thì lấy làm căm tức lắm, đứa nào đứa nấy đều trợn mắt, nghiến răng, những muốn xông vào mà ăn tươi nuốt sống thầy Thất Sách ngay. Nhưng nghĩ thầy đã dám nói như vậy thì ắt hẳn là bản lĩnh cũng chẳng thể tầm thường. Bởi vậy chúng vẫn còn chần chừ mà chưa dám ra tay động thủ.

Giữa lúc ấy, tiếng của thầy Thất Sách lại sang sảng vang lên:

- Nếu chúng bay vẫn không chịu hồi tâm chuyển ý, hãy chuẩn bị đón nhận những đòn sấm sét từ ngọn trường côn của ta đây!...

Thế là một trận chiến long trời lở đất không thể tránh khỏi đã nổ ra. Hai bên lao vào nhau như những ngọn cuồng phong dữ dội. Một mình thầy Thất Sách giao đấu với những ba tên cường đạo, thực là một phiên bản “Tam anh chiến Lữ Bố” thời hiện đại vậy. Có điều, Lữ Bố ngày nay không có phương thiên hoạ kích, cũng không cưỡi ngựa xích thố, chỉ có tấm lòng quảng đại và một thanh trường côn trong tay để giúp đời cứu khốn phò nguy mà thôi.

Ba tên cướp hò nhau vây lấy thầy Thất Sách vào giữa mà đánh rất rát, những mong dùng lợi thế về quân số để mau chóng áp đảo đối phương. Thế nhưng thanh trường côn trong tay thầy thì vẫn múa tít với một sức mạnh kinh hồn, bạt vía, khiến chúng không tài nào đỡ nổi. Tiếng gió rít lên nghe vù vù, bốn bề bụi mù cuốn tung, lá vàng trên cây rơi rụng, bay lả tả. Chỉ cần trúng một đòn như thế, ắt hẳn phải mẻ trán, biêu đầu. Bọn cướp không dám mạo hiểm, đành phải giãn ra để né đòn, mặc dù chúng đông người và vũ khí cũng được trang bị tốt hơn rất nhiều.

Cách đó một đoạn, Tam Văn vẫn đang đứng nấp sau một gốc cây to. Lúc này chú đã lấy thanh đoản đao ra cầm ở tay, sẵn sàng lao ra trợ chiến cho thầy mình khi cần thiết.

Một mình chống lại ba tên cướp lực lưỡng, thầy Thất Sách đã có phần hơi nao núng, bấy giờ chỉ còn biết loanh quanh chống đỡ cầm chừng. Vừa đánh thầy vừa lùi dần về phía chân ngọn núi đá. Đó là một sự lựa chọn mang tính chiến thuật của thầy, vì vách núi sẽ làm điểm tựa sau lưng, không cho bọn cướp bao vây tứ phía nữa.

Tam Văn biết chủ mình đang thất thế, lo sợ nếu bại trận thì sẽ bị những tên cướp hung hãn kia đánh cho thịt nát xương tan chứ chẳng chơi. Trong lúc nguy khốn, tự nhiên trí thông minh bổng từ đâu ùa về như thác đổ. Chú liền nảy ra một ý tưởng vô cùng tuyệt diệu. Thế là từ chỗ ẩn nấp, chú cầm thanh đoản đao nhảy xồ ra, lớn tiếng chỉ đông, trỏ tây, làm như thể là đang chỉ huy nhiều người lắm. Bọn cướp thấy có một đại hán lực lưỡng xông ra, lại đang chỉ huy quân lính bao vây thì vô cùng hoang mang. Vì vậy mà từ chỗ đang chiếm thế thượng phong, lúc này chúng lại trở nên lo sợ mà vừa đánh vừa lùi. Tên tướng cướp vung kiếm đỡ được một đòn như búa bổ của thầy Thất Sách rồi hốt hoảng kêu lên:

- Chạy mau!

Hai gã kia đang bị phân tâm, lúc này lại nghe chủ tướng hô lên như thế thì cũng cuống cuồng, giả vờ đánh dứ vài chiêu rồi lập tức quay đầu mà bỏ chạy toán loạn. Đúng là chạy thục mạng, chạy đến mức thừa sống thiếu chết vậy. Chỉ thoáng chốc, bóng dáng cả ba tên đạo tặc đều đã mất hút phía sau một khe núi gấp khúc và um tùm lau sậy gần đó.

Thầy Thất Sách thấy thế thì cũng chống gậy dừng lại, quyết định không mạo hiểm đuổi theo chúng nữa.

- Bọn thảo khấu kia đã bị con đánh lừa mà bỏ chạy mất vía cả rồi! – Tam Văn hổn hển chạy đến, huơ tay, khoái chí nói.

Thầy Thất Sách cười lớn, vỗ vỗ vào vai học trò, mà rằng:

- Trò mà cũng biết dụng mưu như thế, đó chính là cái phúc của ta!... Phúc của ta vậy!...

Tam Văn quả là đáng khen, vì lần này chú không cần dùng đến sức mạnh cơ bắp như mọi khi, mà còn biết sử dụng cả mưu trí lẫn binh pháp để giải vây cho thầy mình hẳn hoi.

- Tuy nhiên – Thầy Thất Sách nói tiếp – Chúng ta cũng cần phải đi cho mau. Phòng khi chúng phát hiện ra bị lừa, rồi vì tức tối mà rủ thêm đồng đảng quay trở lại để báo thù chăng?

o0o

Bữa nay, khi thầy Thất Sách giở cuốn lịch túi ra xem thì thấy ghi ngày 24/12/1995. Năm cùng, tháng tận, vậy là lại sắp đến tết dương lịch rồi. Thời gian qua mau, kể từ khi hai thầy trò đi tế mộ tổ rồi rủ nhau bỏ trốn, đến nay thấm thoắt đã hơn nửa năm trời. Trong khoảng thời gian ấy, họ dãi dầu với nắng gió phương Nam, miệt mài tìm kiếm những chuyện phiêu lưu mạo hiểm và lập được vô số những chiến công hiển hách. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, cuộc đời của thầy trò họ giống như trong những câu chuyện hiệp sĩ hay cổ tích thần tiên vậy. Vừa huyền thoại, vừa hào sảng, lại đẹp và lãng mạn như trong âm nhạc, thi ca.

Buổi tối, Hai thầy trò đi qua một giáo xứ nằm ngay bên con đường lớn. Khắp chốn, chỗ nào cũng đèn hoa rực rỡ, người xe đi lại tấp nập. Trước mỗi ngôi nhà đều có một cây thông noel nhỏ xinh được trang trí đèn màu nhấp nháy. Chỗ này, chỗ kia, trai thanh, gái lịch nô nức kéo nhau đi xem.

Tam Văn hết nhìn ngang rồi lại ngó dọc, vừa đi vừa ngắm nghía không biết chán mắt.

- Chà! Chà! Đây là đâu mà náo nhiệt ghê!? – Chú buộc miệng, trầm trồ.

- Đây là một xóm đạo. Tam Văn! Con quên rồi hay sao? Hôm nay là lễ noel đấy! Cái toà nhà cao vút có chăng đèn lộng lẫy kia chính là nhà thờ. Còn chỗ nhấp nháy nom như hình cái cây kia là cây thông noel dựng trước sân nhà xứ đấy – Thầy Thất Sách đáp.

- Lễ noel ư? Thảo nào mà đông vui, nhộn nhịp như vậy!

- Phải! Đó là ngày lễ trọng nhất của những người theo đạo công giáo.

- Từ nhỏ, con có nghe nói nhiều đến ngày lễ này, nhưng thú thực là cũng chưa bao giờ hiểu cặn kẽ lắm đâu – Tam Văn nói.

- Nếu con muốn, ta sẽ nói cho con biết!

- Vâng! Vậy thì nhờ thầy! – Tam Văn khách sáo nói, vì chú biết thể nào thầy mình cũng sẽ giảng giải như mọi khi.

- Lễ noel, hay còn gọi là giáng sinh, là lễ mừng đức chúa Giêsu được sinh ra đời. Chúa Giêsu sinh vào khoảng năm thứ 6 trước công nguyên, trong một hang đá tại Bethlehem. Khoảnh khắc mà ngài được sinh ra là 12h đêm ngày 24 tháng 12 dương lịch. Tương truyền, khi ngài giáng thế, nhiều điều huyền diệu đã xảy ra. Tại một cánh đồng, tiếng nói của thiên thần phát ra, tiên tri về sự ra đời của đấng cai trị. Giữa nhóm người chăn cừu, một luồng ánh sáng chói loà chiếu xung quanh, một thiên sứ của đức chúa trời hiện ra và nói: “Hôm nay, trong thành của Đa-vít có một đấng cứu rỗi được sinh ra cho các anh. Ngài là chúa Ki-tô. Đây là dấu hiệu để các anh nhận ra ngài: Các anh sẽ thấy một hài nhi được quấn vải, nằm trong máng cỏ”.

Khi các thiên sứ đã về trời, những người chăn cừu bèn quyết định đến Bethlehem để xem xét sự việc, quả thực là họ đã gặp được hài nhi Giêsu ở đó như lời tiên tri đã nói.

- Chà! Thật là một huyền thoại! – Tam Văn xuýt xoa.

- Sự ra đời của chúa Giêsu đã đánh dấu một dấu mốc quan trọng của loài người – Thầy Thất Sách tiếp tục nói – Người ta gọi thời gian trước khi chúa được sinh ra là trước công nguyên. Từ đó về sau thì gọi là sau công nguyên. Sau này, hằng năm, người công giáo đều tổ chức lễ noel để kỷ niệm ngày sinh của chúa Giêsu, và cũng là dịp để những người trong gia đình quây quần, họp mặt, chia sẻ những chuyện vui, buồn trong năm. Ngày lễ giáng sinh mang thông điệp hoà bình “Vinh danh thiên chúa trên trời. Bình an cho người ở dưới trần thế”. Ngày này, người ta cũng sẽ dựng cây thông noel, làm hang đá để mô phỏng lại sự tích ra đời của chúa.

- Nhưng vì sao chúa Giêsu lại được người đời tôn kính như vậy?

- Vì đó là đức chúa trời. Người đã sáng lập ra đạo Ki-Tô và cũng là người chịu khổ nạn trên thập giá để cứu chuộc loài người. Ngài dạy con người phải sống theo tình yêu thương, bác ái và công chính. Cuộc đời của chúa Giêsu là biểu tượng của tình yêu và sự hy sinh, là nguồn cảm hứng và niềm hy vọng cho hàng triệu tâm hồn trên khắp thế giới này.

- Vậy thì Chúa là người vĩ đại nhất thế gian rồi còn gì?

- Đúng vậy! Chúa là đấng sáng tạo ra muôn loài. Vì vậy mà ngài vĩ đại không ai sánh tày. Chúa cũng là đấng hy sinh, đấng cứu chuộc cho loài người. Ngài là người cao cả và giàu đức hy sinh nhất.

- Vậy còn ông già noel thì sao, thầy? Cái người mặc bộ đồ màu đỏ và có râu tóc bạc phơ ấy! – Tam Văn vẫn chưa hết tò mò, hỏi.

- À! Đó là một nhân vật vừa huyền thoại vừa có thật! Tam Văn!

- Vì sao lại vừa huyền thoại, vừa có thật?

- Vì ông già noel xuất hiện vào mỗi dịp giáng sinh để trao quà cho các thiếu nhi ấy là một nhân vật được thi vị hoá. Người lớn nói với những đứa trẻ rằng, đêm giáng sinh, ông già noel sẽ leo qua ống khói lò sưởi rồi đặt bánh kẹo, đồ chơi vào những chiếc giày cạnh lò sưởi hay chiếc tất mà các em nhỏ treo bên cửa sổ. Mục đích là khuyến khích những đứa trẻ học tập chăm ngoan để được nhận quà tặng. Còn quà thì đa phần là do bố mẹ hoặc người thân chuẩn bị cho các bé chứ chẳng có ông già noel nào phát quà vào đêm giáng sinh cả. Còn nói có thật là vì hình tượng ông già noel được lấy cảm hứng từ một nhân vật có thật.

- Nhân vật đó là ai?

- Đó chính là thánh Nicholas, một giám mục ở thành phố Myra thuộc Bắc Âu. Ngài là một con người có lòng bao dung đối với những mảnh đời bất hạnh, nhất là đối với trẻ em. Hằng năm vào mùa đông, ngài mặc thường phục đến những ngôi làng để phát quà cho trẻ em. Đây chính là hình ảnh đầu tiên gợi cảm hứng để cho người ta xây dựng nên hình tượng một ông già noel tốt bụng đấy. Tam Văn!

- Chà chà! Thật là lý thú. Thì ra câu chuyện nào cũng có sự tích cả!

Không khí noel đông vui và câu chuyện của thầy Thất Sách khiến cho Tam Văn cảm thấy đường đi như ngắn lại. Chẳng mấy chốc mà hai thầy trò đã qua khỏi giáo xứ. Phía sau họ, ánh đèn nhấp nháy, và cả những âm thanh lễ hội cũng xa dần, nhỏ dần trong một mùa noel xa xứ.

o0o

Bấy giờ, danh tiếng lẫy lừng của hiệp sĩ Thất Sách đã vang dội khắp trong nam, ngoài bắc, khiến cho giới giang hồ, hiệp sĩ vô cùng khâm phục và ngưỡng mộ.

Bữa ấy, trên đường phiêu lưu, hai thầy trò Tam Văn đi đến một thị trấn nọ. Chốn này, xe cộ đông đúc, người qua kẻ lại tấp nập, cảnh tượng nom rất sầm uất, đông vui. Lúc đến gần một ngã tư có nhiều quán hàng san sát, thấy có đông người tụ tập, rồi có tiếng đàn hát từ đó vọng ra não nề, ai oán. Tò mò, họ bèn tiến lại gần để xem. Chỗ ấy là một ngôi quán thịt chó rộng rãi và khang trang. Bên trong tủ kính, những tảng thịt chó thui vàng óng đặt nằm ngay ngắn. Những lòng dồi, tim, gan thái sẵn bày ra đĩa chờ phục vụ khách. Quán có nhiều thực khách đang ăn uống, họ vừa tán chuyện vừa cụng ly với nhau ồn ào, rôm rả. Trước quán, có hai cha con người hát rong đang ngồi đàn, hát. Đứa bé gái chừng tám, chín tuổi gì đó, mặt mũi nhem nhuốc, ăn mặc lôi thôi, rách rưới. Nó ngồi cạnh bố, trước mặt đặt một cái bát tô bằng nhôm để xin tiền. Người bố bị mù, vừa đánh đàn guita vừa nghêu ngao hát. Người ta đứng xem rất đông, thi thoảng lại có người vì thương tình mà nhón tay bỏ ít đồng bạc lẻ vào cái bát nhôm để bố thí. Mỗi lần như thế, đứa bé lại cất giọng run run:

- Con cảm ơn cô dì!…chú bác!...

Người ta cho tiền vì thương ông bố mù một, nhưng lại thương đứa bé tội nghiệp kia mười. Tội, mới chừng nấy tuổi, lẽ ra đang được đi học và vui chơi cùng bạn bè thì giờ này lại phải dắt người bố mù đi hát kiếm ăn. Mặc dù nét mặt luôn tỏ ra sợ sệt, nhưng có vẻ như nó là một đứa bé rất ngoan và biết yêu thương người bố mù loà của mình một cách vô điều kiện.

Tiếng hát đang cất lên dìu dặt thì bổng bị cắt ngang bởi một tiếng quát đầy tức tối và gắt gỏng. Rồi một người to béo, mặt mày dữ tợn, từ trong quán hầm hầm đi ra. Đó chính là người chủ của quán thịt chó này. Ông ta tiến thẳng đến chỗ người hát rong đang ngồi, lớn tiếng, quát:

- Dẹp ngay! Biến đi chỗ khác! Không được hát hò gì ở đây nữa. Bộ mày định đuổi hết khách của quán ông đi hay sao?

Có lẽ tiếng hát đã làm cản trở việc kinh doanh của quán thịt chó. Khiến cho khách hàng khó chịu và ông ta cảm thấy tức tối chăng? Bên trong quán thì người ta vung tiền ăn uống phũ phê, vui vẻ, bên ngoài thì tiếng hát của người mù kể lể, khóc than thân phận nghèo hèn. Phải chăng hai cảnh đời đối lập ấy không thể cùng tồn tại, không thể dung hoà làm một? Tội nghiệp cho đứa bé, cũng vì nghĩ chỗ này đông đúc, nhiều người có tiền nên nó mới dắt bố đến đây để hát. Nào ngờ lại vì thế mà làm mích lòng người ta.

Tiếng đàn, hát lập tức im bặt. Có vẻ như người hát rong cũng đã cảm nhận được sự đe doạ và nguy hiểm đối với bố con mình. Vẻ mặt tái đi vì sợ hãi, ông ta mò mẫm quờ tay để cố gắng đứng lên. Nhưng vì không nhìn thấy gì, nên mãi mà vẫn chưa biết làm sao, cứ luống ca luống cuống như gà mắc tóc. Sự chậm chạp đó khiến cho gã chủ quán càng như bị chọc tức thêm. Gã tức giận hét lên, cặp lông mày chổi xễ xếch lên một cách đầy dữ tợn:

- Tao bảo mày biến nhanh lên. Sao lại lừng khừng làm vậy. Bộ cố tình trêu tức ông hả?

Dứt lời, gã vung tay tát người hát rong một cái trời giáng, nảy đom đóm mắt. Thuận đà, hắn đạp thêm một cú thật mạnh làm cho người mù ngã nhoài xuống đất. Rồi hắn bước lại, giật phăng cây đàn trong tay người hát rong và tức tối ném ra xa. Cây đàn bay liệng, va vào một cây cột bê tông gần đó rồi đáp xuống nền đất, vang lên một âm thanh khô khốc. Người mù đau đớn, quờ quạng, lồm cồm bò dậy. Bộ quần áo vốn đã rách rưới, bấy giờ lại lấm lem bụi đất, nom càng tội nghiệp, thảm thương.

Gã chủ quán quay sang, thấy đứa bé ngồi co rúm người vì kinh hãi, hắn lại co giò đá tung cái bát tô đựng tiền trước mặt nó. Những đồng tiền lẻ được gom nhặt bằng công sức của cả hai bố con lúc này bay lả tả trên không như những tờ giấy lộn. Đứa bé sợ quá khóc ré lên, mặt mày tái xanh tái xám. Những người đứng xem, dù cảm thương nhưng cũng đành phải quay mặt đi, làm bộ như ngó lơ.

Nguyên gã chủ quán này là một tay ác bá khét tiếng trong vùng, ngày thường vẫn hay hống hách nên không ai dám đứng ra can ngăn cả. Gã làm nghề giết mổ và kinh doanh thịt chó. Nhưng quán của gã nấu ngon, nên đông khách, có nhiều người máu mặt cũng hay lui tới đây để ăn uống, nhậu nhẹt. Vì có nhiều mối quan hệ, quen biết, càng ngày gã càng sinh ra hống hách và càn rỡ tợn. Cậy thần, cậy thế, vì thế mà gã đã làm ra vô số những chuyện bất công và ức hiếp người xưa nay.

Lúc này, gã chủ quán đang định giơ tay đánh tiếp thì bổng từ đâu trong đám đông, xuất hiện một đại hán cao lớn bước ra ngăn cản. Đại hán ấy mặc quần Jean, áo cộc tay, cằm vuông, mắt sáng, nom như một lực sĩ đô vật vậy. Đại hán nắm lấy tay gã chủ quán, gằn giọng:

- Không được đánh nữa! Anh không thấy người ta mù loà hay sao? Đánh một người mù thì có gì là tài giỏi kia chứ. Có giỏi thì hãy đánh ta đây xem!

"Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã" (Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm thì không phải là kẻ dũng). Vị đại hán kia quả là một trang anh hùng, hảo hán ở trên đời vậy. 

Xưa nay đã hống hách quen thói, nay thấy có người dám xía vào chuyện của mình thì gã chủ quán lấy làm tức giận lắm. Chẳng cần nói nhiều, hắn lập tức nghiến răng, trợn mắt, toan đánh. Nhưng khi cánh tay còn chưa kịp vung lên, hắn đã phải nhận một cú đấm như trời giáng của hảo hán vào mặt. Rồi trong lúc còn chưa kịp hiểu chuyện gì xẩy ra, hảo hán lại bồi thêm một cú đá vào mạng sườn nữa khiến hắn đổ gục xuống như thân một cây chuối bị phạt ngang.

Gã chủ quán đau điếng, cố lồm cồm bò dậy. Trước bàn dân thiên hạ, bị hạ nhục như thế, hắn lấy làm bẽ mặt lắm. Hắn đưa tay vuốt dòng máu rỉ ra từ miệng, rồi gầm lên:

- Á…à!...Mày lại dám đánh ông à?...

Nói rồi, hắn giật lấy một thanh gỗ dựng trước quán, lao đến vụt tới tấp vào đối thủ. Nhưng đại hán kia đã nhanh mình né tránh. Hắn mất đà vì dùng lực quá mạnh, lạng hẳn người sang một bên. Thuận đà, hảo hán đá mạnh vào tay hắn, thanh gỗ bay ra xa. Đại hán lại sáp vào, đánh cho hắn một chặp tối tăm mặt mũi, không còn biết trời biết đất gì nữa. Gã chủ quán biết sức mình không thể đấu lại, sợ hãi quỳ xuống, chắp tay van lạy:

- Xin hảo hán tha mạng!

- Người mà nhà ngươi cần xin lỗi không phải ta, mà là người kia! – Đại hán dừng tay, trỏ người mù, nói.

Cực chẳng đã, hắn ta đành phải muối mặt lết về phía người mù để van xin:

- Tôi xin lỗi! – Hắn nói, giọng cộc lốc.

Hảo hán dậm chân:

- Như thế chưa được! Phải xin lỗi cho thật thành khẩn vào!

Gã chủ quán nuốt nước bọt, níu lấy áo người mù, năn nỉ:

- Mong anh hãy làm phúc làm đức. Nói với ông ta tha cho tôi đi. Tôi thực lòng xin lỗi anh! Tôi thề là từ nay không bao giờ dám động đến, dù chỉ là một sợi tóc của anh nữa!...

Người mù chớp chớp mắt, rồi mấp máy khuôn miệng nhưng không nói nên lời. Khổ! Mọi việc diễn ra quá nhanh chóng, anh ta còn chưa kịp hoàn hồn, thử hỏi còn biết nói gì bây giờ?

Nhưng hảo hán kia thì vẫn chưa hết tức giận, anh ta lại vung chân đá cho gã chủ quán ngã nhào xuống đất, rồi đánh cho hắn một chặp lăn lộn nữa. Hảo hán vừa vung chân đá, vừa tức tối la lên:

- Đánh cho mày chừa này!...Chừa cái thói ỷ mạnh hiếp yếu đi này!...Chừa này!...

Gã chủ quán lúc này chỉ còn biết vật vã dưới đất, ôm đầu kinh hãi van xin. Nếu cứ tiếp tục đánh nữa thì e có án mạng. Thấy tình thế nguy cấp, thầy Thất Sách vội bước ra, nói:

- Tha cho anh ta đi! Anh ta đã biết lỗi rồi. Xin hảo hán hãy nương tay!

Hảo hán quay ngoắt nhìn sang thầy Thất Sách, tức tối, hỏi:

- Ông là ai mà lại can thiệp vào việc của tôi? Bộ định bênh vực cho kẻ ác hả? 

- Kẻ gieo gió thì ắt phải gặt bão. Ác giả ác báo. Chẳng ai có thể bênh vực được cả. Chỉ vì anh ta đã biết hối cải. Vậy xin hảo hán hãy nể mặt tôi mà tha cho hắn đi! Nếu hảo hán tiếp tục đánh nữa, lỡ xẩy ra án mạng thì từ chỗ anh hùng lại trở thành tội phạm. Tôi làm vậy là vì sự an nguy của cả hai người. Chứ không có ý can thiệp gì cả!...

Hảo hán nói:

- Trên đời này tôi chỉ phục có mỗi hiệp sĩ Thất Sách mà thôi. Nếu là ông ấy đứng ra can thiệp, tôi đây sẽ xin vâng lời ngay!

Thầy thất sách mỉm cười, nói:

- Thế hiệp sĩ Thất Sách ấy là ai vậy?

Hảo hán chắp tay, kính cẩn:

- Hiệp sĩ Thất Sách quê ở xã Yên Phong, là chủ nhân của “Đạo Nhân Thi Quán”. Người ấy hành hiệp trượng nghĩa, yêu chính nghĩa, ghét gian tà. Đó mới là một hiệp sĩ đích thực trên đời, chứ không phải là phường khua môi múa mép, giả danh hiệp sĩ để loè bịp thiên hạ. Đấy! Hiệp sĩ Thất Sách là người như thế đấy. Ông ấy chính là đỉnh cao chói lọi, là vầng nhật nguyệt sáng soi mà tất cả giới giang hồ chúng tôi ai ai cũng phục tùng và ngưỡng vọng cả!

Hai thầy trò Tam Văn đưa mắt nhìn nhau, mỉm cười. Đoạn, thầy Thất Sách lại ôn tồn, hỏi:

- Vậy chứ hiệp sĩ Thất Sách mà anh nói đến có vóc dáng như thế nào?

Hảo hán đáp:

- Hiệp sĩ Thất Sách người cao mảnh khảnh, đầu đội nón lá, chân đi giày vải, tay vác thanh trường côn. Hình tượng đó thật oai hùng, đúng là một biểu tượng của lòng nhân ái và dũng cảm, dám xả thân vì đại nghĩa vậy.

Thầy Thất Sách lại nói:

- Vậy anh hãy nhìn kỹ xem ta đây có giống người đó không?

Hảo hán lùi lại một bước, đưa mắt nhìn kỹ thầy Thất Sách từ đầu đến chân. Rồi như nhận ra điều gì đó, bất giác anh ta há hốc mồm, kinh ngạc:

- Quả…là…là rất giống! Hiệp sĩ…sĩ…Thất Sách!...

- Phải! Ta chính là hiệp sĩ Thất Sách mà anh đang nói đây! – Thầy Thất Sách mỉm cười, nói.

Hảo hán mừng rỡ, sụp lạy:

- Đại ca! Tha tội cho tiểu đệ có mắt mà không nhìn thấy núi Thái Sơn! Xin hãy nhận của tiểu đệ đây một lạy!

Thầy Thất Sách đỡ đại hán dậy, nói:

- Nào, hãy đứng lên! Cùng là hảo hán trong thiên hạ cả, việc gì mà phải khách sáo như thế. Tứ hải giai huynh đệ. Từ nay, cứ hãy coi nhau như huynh đệ một nhà.

Đại hán kia lại quay sang nhìn Tam Văn, hỏi:

- Còn đây có phải là Tam Văn, người đệ tử tài giỏi đã cùng ngài lập bao chiến công hiển hách chăng?

Thầy Thất Sách chìa tay về phía Tam Văn:

- Đặc biệt giới thiệu với anh: Đây chính là Tam Văn, người đồ đệ trung thành và tận tuỵ nhất đời của tôi!

Tam Văn đứng thẳng người, ưỡn ngực, mặt vênh lên đầy tự đắc. Từ khi theo thầy đi chu du thiên hạ đến nay, chưa bao giờ chú thấy mình được vinh dự như thế. Thì ra, cùng với danh tiếng của thầy, tên tuổi chú cũng đã được các anh hùng, hảo hán trong thiên hạ biết đến và ngưỡng mộ từ lâu.

Lúc này hảo hán quay sang, nói với gã chủ quán:

- Nể mặt hiệp sĩ Thất Sách đây. Ta tha mạng cho ngươi! Còn không mau lạy ông ấy đi!

Gã chủ quán lết đến trước mặt thầy Thất Sách, lạy như tế sao:

- Trăm lạy hiệp sĩ! Ngàn lạy hiệp sĩ! Tiểu nhân xin đội ơn cứu mạng của ngài!...

Thầy Thất Sách nói:

- Không có chi! Anh hãy đứng lên đi. Từ nay nhớ là đừng có ỷ mạnh để ức hiếp người yếu thế nữa nhé!

Gã chủ quán vâng dạ liên hồi, rồi trong khi được người nhà dìu trở lại quán, hắn nhăn mặt vì đau và tấp tểnh bước đi như một con thú dữ đang bị trọng thương.

Tam Văn cúi nhặt những đồng tiền bị đá văng vào tô cho đứa bé rồi ngồi xuống, lựa lời an ủi nó. Thấy người hát rong đưa tay quờ quạng như để tìm kiếm, một người tốt bụng đã nhặt lấy cây đàn bị vứt cách đó một đoạn, rồi đưa cho anh ta và nói:

- Đàn của anh đây! Bị đứt một dây. Ngoài ra không can gì cả. Tìm đến thợ nhờ người ta sửa cho rồi còn đi hát để kiếm tiền nuôi con!

Người hát rong mấp máy miệng để cảm ơn, mừng rỡ ôm lấy cây đàn vào lòng như tìm lại được thứ gì đó quý báu nhất đời vậy.

Hảo hán lấy trong túi ra một số tiền, đưa cho người hát rong:

- Tôi chỉ có chừng nấy tiền. Biếu ông để chi tiêu.

Thầy Thất Sách cũng đặt vào tay người hát rong một món tiền và nói:

- Tôi cũng biếu anh một ít tiền. Hãy cầm lấy để mà chi dụng thêm!

- Đa tạ hảo hán!...Đa tạ sư phụ!... Trọn đời, trọn kiếp này cha con tôi sẽ không bao giờ dám quên ơn hai ngài đâu! – Người mù xúc động, lắp bắp. Từ hai hốc mắt sâu hoắm và mờ đục của ông ta rỉ ra mấy giọt nước mắt trong suốt như nước cất lăn dài trên gò má.

- Bây giờ thì hai cha con ông hãy đi đi! Tìm đến một nơi khác mà hát! – Thầy Thất Sách nói.

- Đa tạ ân nhân! Ta đi thôi con!

Người hát rong nói, rồi đưa bàn tay thô ráp cho đứa con gái cầm để dắt đi. Khi hai cha con người mù đã đi khuất, hảo hán quay sang thầy Thất Sách, hớn hở:

- Nào! Bây giờ thì huynh đệ ta cũng đi tìm một quán rượu nào đó để uống mừng gặp mặt đi thôi!

- Được! Chúng ta đi! – Thầy Thất Sách cũng hào sảng đáp lại.

Đi qua mấy dãy phố nữa, hảo hán và hai thầy trò Tam Văn tìm được một ngôi quán rượu ưng ý và cùng ghé vào.

Ba người chọn một cái bàn còn trống ở góc phòng và ngồi xuống. Thầy Thất Sách nhìn quanh, rồi lớn tiếng, gọi:

- Tửu bảo đâu?!

Người phục vụ còn trẻ nhanh chóng có mặt. Anh ta cúi người, lịch sự:

- Quý khách cần dùng gì ạ?

- Có những món gì ngon nhất thì cứ dọn hết ra đây! Chớ có hỏi nhiều lời! – Hảo hán hất cằm, nói.

- Vâng! Có ngay! – Người phục vụ đáp rồi nhanh nhảu quay trở lại quày.

Trong lúc đợi món, thầy Thất Sách hỏi:

- Chẳng hay hiền đệ quê quán ở đâu?

Hảo hán đáp:

- Quê đệ ở miền Cửu Long sông nước!

- Ở đó cảnh trí tươi đẹp. Con người lại hào sảng, tươi vui. Hà cớ gì đệ không ở đó mà lại trôi dạt đến tận chốn xa xôi này làm chi?

- Chẳng dấu gì đại ca! – Đại hán thấp giọng, bắt đầu kể - Từ nhỏ, tiểu đệ đã được gia đình cho đi học võ sư phụ. Lớn lên cũng là người có chút tiếng tăm về võ thuật trong vùng. Đến năm ba mươi tuổi, vì tức giận đánh một lũ côn đồ chuyên bức hại dân lành, đệ lỡ tay làm cho mấy đứa bị thương nặng. Vì sợ tội nên đệ trốn đi lang bạt khắp nơi. Đến đâu thì tìm việc làm kiếm sống qua ngày ở đó. Nhân đó mà cũng gặp gỡ và kết giao hảo hán khắp nơi. Hôm nay đến vùng này thì lại may mắn được gặp đại ca ở đây!...

- Rượu đây! Đồ nhắm đây! – Người phục vụ khệ nệ bê khay đồ ăn lên, cất giọng vang vang.

Tam Văn nhanh nhảu giúp anh ta sắp các đĩa thức ăn xuống bàn một cách đầy ý tứ, cẩn thận. Chú bày biện như đang làm cỗ ở nhà, đâu ra đấy, vừa thuận tiện, vừa nom đẹp mắt dễ ưa.

Hảo hán rót rượu đều khắp lượt, rồi nâng ly lên ngang mày:

- Ly này là để mừng huynh đệ ta gặp mặt. Kính mời đại ca!

Thầy Thất Sách cũng nâng ly:

- Cạn!

Cả ba người cùng ngửa cổ, uống cạn. Đại hán tiếp thức ăn vào bát thầy Thất Sách, rồi nói:

- Giới thiệu với đại ca. Tiểu đệ đây tên Long. Vì nước da đen, lại nhân tiện trên cánh tay có xăm hình một con rồng, nên giang hồ vẫn quen gọi là “Xích Long”!

- Vậy thì từ nay ta sẽ gọi đệ là “Xích Long”! – Thầy Thất Sách nói.

Chuyện được một lúc, Xích Long lại rót rượu đầy hai ly, rồi nâng lên:

- Ly rượu này là để kết nghĩa huynh đệ!

- Được! – Thầy Thất Sách cũng nâng chén rượu lên.

- Cạn! – Hảo hán nói.

- Cạn! – Thầy Thất Sách cũng đáp lại.

Vậy là trước sự chứng kiến của Tam Văn, thầy Thất Sách và hảo hán Xích Long đã kết nghĩa huynh đệ. Sau khi uống cạn chén rượu, Xích Long quỳ xuống, nói:

- Xin đại ca hãy nhận của tiểu đệ một lạy!

- Hiền đệ hãy đứng lên! – Thầy Thất Sách đỡ Xích Long đứng dậy, nói.

Tam Văn giơ ngón tay cái, nói:

- Anh Xích Long và thầy tôi đây, đúng là hảo hán trọng hảo hán, anh hùng biết anh hùng vậy!

Xích Long nghe vậy thì thích chí vỗ đùi, cả cười:

- Anh nói hay quá, đúng quá!

Cả ba người cùng nhìn nhau, cười lớn, ai nấy lòng những đầy sảng khoái.

Hai huynh đệ lại quay ra nói chuyện với nhau rất chi là tâm đắc. Nào là chuyện lưu lạc giang hồ, chuyện nghĩa hiệp, chuyện về những chiến công hiển hách mà họ từng lập được. Câu chuyện tâm sự cứ thế kéo dài mãi, tưởng chừng như không bao giờ kết thúc vậy.

Ngoài việc dùng món, phần lớn thời gian Tam Văn chống cằm ngồi nghe hai người nói chuyện một cách chăm chú. Chú uống ít, chỉ cố gắng làm tốt vai trò của một người tiếp rượu. Hễ ly nào cạn, chú lại nâng bình rượu lên và rót đầy vào như cũ.

Cuối buổi biệc, hai bên bịn rịn chia tay nhau. Thầy Thất Sách nói:

- Tiệc vui nào rồi cũng đến lúc phải tàn. Lẽ ra chúng ta phải nói chuyện những mấy ngày mới thoã. Ngặt nỗi bây giờ ai cũng phải có việc của người nấy. Huynh đệ ta đành phải chia tay nhau ở đây thôi!

Xích Long nói:

- Đại ca nói phải! Bây giờ đệ cũng phải lên đường để tìm nhà một người bà con lâu ngày chưa gặp mặt.

Thầy Thất Sách cầm tay người anh em kết nghĩa, ân cần dặn dò:

- Xích Long hiền đệ! Đệ thấy việc nghĩa mà ra tay sốt sắng như thế là rất tốt. Nhưng tính đệ hơi nóng nảy. Cổ nhân có câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Một khi họ đã biết hối lỗi, cải tà quy chính rồi thì cũng nên rộng lượng. Không nên cố chấp!

Xích Long chắp tay:

- Tiểu đệ xin vâng lời dạy của đại ca. Từ nay về sau, hễ có việc gì khó khăn thì đại ca cứ nói với đệ một tiếng. Dù có nước sôi lửa bóng hay khó khăn bao nhiêu đi nữa thì đệ đây cũng chẳng hề quản ngại!

Thầy Thất Sách gật đầu, nói:

- Tạm biệt hiền đệ! Hẹn ngày tái ngộ!

- Hẹn ngày tái ngộ! – Xích Long chắp tay, rơm rớm nhìn theo hai thầy trò Tam Văn cho đến khi bóng họ khuất hẳn phía sau một con phố nhỏ gần đó.