Vào hang đá, đốt lửa để nhớ về nguồn cội
Rừng sâu đi lạc, ăn tiệc và nhảy múa
cùng bộ lạc Sừng Hươu
Sau khi đã thăm viếng Tháp Chàm, thầy Thất Sách quyết định sẽ đi
vào rừng sâu để khám phá và tìm hiểu về nguồn cội loài người. Thầy cho rằng, tổ
tiên xa xưa của con người chính là loài Vượn, vì vậy không có lý do gì ngày nay
ta lại không trở về với núi rừng, nơi mà những bầy người nguyên thuỷ đã từng
sinh sống để tìm lại dấu tích xưa.
Sau khi đã mua sắm những vật dụng cần thiết cho chuyến đi dài
ngày, hai thầy trò bắt đầu men theo đường mòn và đi sâu vào trong rừng. Rừng
sâu âm u, đâu có sẵn đường bằng phẳng để đi, vì vậy mà họ vừa phải tự xác định
phương hướng, vừa vạch lá, leo dốc để băng rừng. Cuộc sống trong rừng khó khăn
và cũng đầy rẫy những hiểm nguy. Ngoài việc chịu đựng gian khổ, ngày lại ngày,
họ còn phải căng mình ra để mà chiến đấu với muỗi, vắt, rắn độc, côn trùng và cả
thú dữ nữa.
Ngày thứ hai, họ đến một nơi rậm rạp, cây cối mọc dày như vách
ngăn, dây leo thì quấn chằng chịt, che gần hết cả lối đi. Hai thầy trò dừng lại,
nhìn quanh, lòng những đầy hoang mang, lo lắng. Trong lúc vượt rừng, Tam Văn đã
vài lần trượt chân và va vào đá, khiến cho đầu gối bị trầy xước, rớm máu. Vì vậy
mà lúc này vừa đi, chú vừa nhăn nhó vì đau, vì mệt. Cảm thấy kiệt sức và thoái
chí, chú nói:
- Núi sâu, rừng thẳm thế này. Chỉ có cây cối, muỗi vắt và côn
trùng. Có đi sâu vào nữa thì cũng chỉ chuốc lấy gian khổ và hiểm nguy mà thôi.
Có gì ở trong đó đâu mà tìm với kiếm kia chứ. Hay là hai thầy trò ta quay trở lại
đi thôi!?...
Thầy Thất Sách quay ngoắt lại, nghiêm giọng, đáp:
- Ta đã nói rồi, Tam Văn! Chúng ta đi vào rừng sâu là để tìm lại
dấu vết xưa. Mục đích ấy là vô cùng to lớn và cao cả, chẳng có gì cần phải bàn
cãi nữa. Đối với những hiệp sĩ như chúng ta, dù phía trước có là thiên binh vạn
mã hay núi đao biển lửa thì cũng phải dũng cảm vượt qua. Huống chi chỉ là việc
leo rừng, lội suối. "Bất oán thiên, bất vưu nhân" (Khi gặp trắc trở, không oán trời đất, không trách người khác). Hãy cứ tiếp tục đi đi. Nhà ngươi chớ có bàn lùi nữa!
Bị thầy nói cho một thôi một hồi, Tam Văn bẽ mặt, phụng phịu ngồi
bệt xuống một tảng đá. Chú gác chân lên, tỉ mẩn buộc lại dây giày, rồi sau đó lại
lấy dầu ra và bắt đầu xoa bóp chỗ đầu gối bị đau hôm trước. Thầy Thất Sách cũng
nhân đó bỏ gậy, ngồi xuống nghỉ ngơi một lúc và để nghĩ cách tìm đường đi tiếp.
- Vô duyên vô cớ, tự dưng lại dắt díu nhau vào rừng để trèo đèo
lội suối. Đúng là dở người! - Tam Văn bất mãn, nói.
Câu này là chú chỉ lầu bầu trong cổ họng, nào ngờ thầy Thất Sách
thính tai nghe được. Vậy là mày tằm dựng ngược, mắt hổ trợn trừng, thầy la lên,
giọng the thé đầy tức giận:
- “Làm việc đừng mong dễ thành, việc dễ thành
lòng thường kiêu ngạo. Sự nghiệp đừng mong bằng phẳng dễ đi, vì không gặp phải chông
gai thì chí nguyện không kiên cường”. Nhà ngươi biết chửa? Muốn
thành tựu thì cần phải khổ công rèn luyện. Mà có khổ luyện thì mới thành tài,
ngoài ra không có con đường nào khác cả. Thành công không có lối tắt. Chỉ khi
ta phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí cả máu để nung mình trong lò luyện cuộc
đời, phải trãi qua mọi sướng khổ, vinh nhục trên đời thì mới thành nhân được.
Nhà ngươi có hiểu không hử?!
Tam Văn rụt đầu, lí nhí:
- Vâng! Con hiểu!…
Để cho học trò từ nay không còn dám thoái chí hay tỏ ra dao động
nữa, thầy Thất Sách quyết định làm căng:
- Này, Tam Văn! Nhà ngươi có biết như vậy là đã vi phạm nghiêm
trọng “Ngũ Quy” rồi chăng?
Hẳn là quý độc giả còn nhớ đến lễ kết nạp đệ tử đã được đề
cập tại chương 3 ở đầu truyện. Tại đây, Tam Văn đã thề là sẽ tuyệt đối tuân thủ
năm quy định dành cho giới hiệp sĩ giang hồ, mà sau này thầy Thất Sách gọi đó
là “Ngũ Quy” vậy.
Nghe nhắc đến “Ngũ Quy”, Tam Văn giật nảy mình như phải bỏng:
- Thưa…thưa thầy!...Con nhớ! – Chú lắp bắp, mặt tái như chàm đổ.
- Vậy thì nhà ngươi thử nhắc lại ta nghe nào? – Thầy Thất Sách sửa
lại trang phục, ngồi thẳng người lên, nói.
Tam Văn nuốt nước bọt khan, bắt đầu đọc một cách khó nhọc, giống
như đứa trẻ khi lên bảng để đọc thuộc lòng:
- Một là phải gan dạ, kiên cường. Hai là không ngại khó, ngại khổ.
Ba là phải chiến đấu chống lại mọi cái xấu, cái ác trên đời. Bốn là không được
thoái chí, thối lui. Năm là phải hành hiệp trượng nghĩa, cứu khốn phò nguy.
- Vậy là nhà ngươi cũng có dụng tâm. Tốt! Từ nay cứ thế mà thực
hiện “Ngũ Quy” cho nghiêm chỉnh và đầy đủ! – Thầy Thất Sách vuốt râu, hài lòng.
Bị ràng buộc bởi những điều luật ấy, dĩ nhiên là Tam Văn không hề
thích cái “Ngũ Quy” ấy một chút nào. Đối với chú, nó chẳng khác nào là cái vòng
kim cô mà Đường Tam Tạng đã chụp lên đầu Tôn Ngộ Không trên đường đi thỉnh kinh
cả. Nhưng khổ nỗi, hồi ấy chú đã trót nghiêm trang thề thốt với tất cả vẻ rưng
rưng xúc động rồi nên không thể nào làm khác được. Là một con người chân chính,
chú không thể nào phản bội lại những gì mà mình đã thề thốt với tất cả lương
tâm và trách nhiệm.
Từ nãy, vì phải leo trèo, mệt bở hơi tai, nên họ không nghe được
những tiếng động xung quanh. Nhưng giờ đây, trong lúc nghỉ ngơi, không gian
tĩnh lặng, họ bắt đầu nghe thấy những âm thanh róc rách như là tiếng suối chảy.
Thầy Thất Sách lắng tai nghe một lúc, rồi nói:
- Gần đây có một con suối thì phải!
- Con cũng có nghe thấy! – Tam Văn đồng tình.
Với đích đến là dòng suối mát rượi, hai thầy trò phấn khởi quẩy
hành lý lên vai, rồi tiếp tục tìm đường để băng rừng. Đi thêm một đoạn nữa, quả
nhiên họ bắt gặp một con suối chảy quanh co, uốn lượn. Hai bên bờ suối, cây mọc
lúp xúp, hoa Vàng Anh nở vàng óng và bạt ngàn man dã những hoa Lưu Ly, Sơn Trà
tím biếc. Hiện ra trước mặt họ lúc này là một khung cảnh vô cùng tráng lệ và đẹp
mắt.
Tam Văn thích chí, quên cả mệt nhọc, kêu lên:
- Cả một thảm hoa! Đẹp quá thầy ơi!
Thầy Thất Sách vuốt râu, gật gù:
- Ừ! Đẹp thật! Thiên nhiên thật kỳ diệu. Được ngắm hoa nở nơi nó
sinh ra, giữa núi non hùng vĩ như thế này mới thật là kỳ thú. Đó chính là phần
thưởng xứng đáng mà thiên nhiên đã dành tặng cho những con người đam mê tìm hiểu
và dám khám phá như chúng ta đấy.
- Tiếc là ở nơi núi sâu, rừng thẳm. Hoa nở rồi hoa lại tàn. Chẳng
ai biết, chẳng ai hay! – Tam Văn bùi ngùi, nói.
- Hoa đến thì hoa phải nở, chứ chẳng phải vì ai cả. Cũng như những
người hiệp sĩ chúng ta, thấy việc nghĩa thì làm, chứ không phải vì danh lợi hay
muốn người đời đền ơn, đáp nghĩa. Làm việc nghĩa trong âm thầm, như một bổn phận
vốn có, như sinh ra là phải thế. Đó mới chính là vẻ đẹp khiêm nhường nhưng lại
vô cùng cao cả vậy.
Bị cảnh đẹp hút hồn, thầy Thất Sách quyết định sẽ dừng
chân cắm trại để nghỉ lại ở đây. Thế là cả hai thầy trò đặt hành lý xuống bãi cỏ
và cùng ngồi bệt xuống một cách thích thú. Cỏ mọc dày, xanh và mềm mại như một
tấm thảm nhung. Nghỉ ngơi một lúc, họ bắt đầu xuống suối để rửa ráy chân tay
cho mát. Nước trong leo lẻo, có thể nhìn thấy tận đáy. Dưới đó, từng đàn cá
đang chậm rãi quẫy đuôi bơi lội tung tăng.
Tam Văn thấy suối có nhiều cá, cái máu đánh bắt lại nổi lên. Chú
hào hứng:
- Cá nhiều thế này. Lại có buổi trưa thịnh soạn cho thầy trò ta
rồi đây!
Nói rồi, chú tháo giày, xắn hai ống quần lên quá đầu gối và bắt
đầu lội bì bõm xuống suối. Nước trong nhìn thấy cá, chẳng cần phải đi kiếm hay
mò tìm gì cả. Bởi vậy mà chẳng khó khăn gì, chỉ một lúc, Tam Văn đã bắt được
năm, sáu con cá rồi ném lên bờ. Mỗi con như vậy, ước cũng nặng khoảng hai đến
ba cân.
Sau đó, Tam Văn đi lấy con dao rồi bắt đầu mổ và làm thịt cá
ngay bên bờ suối.
Trong khi Tam Văn mang cá xuống suối làm thịt, thầy Thất Sách đi
tìm củi khô, nhóm lửa, để chuẩn bị nướng.
Nhìn ngọn lửa cháy bùng bùng, thầy Thất Sách nói:
- Mẹ thiên nhiên đã có sẵn mọi thứ để nuôi sống con người chúng
ta. Cá tôm dưới suối, trái cây, muông thú và rau củ trong rừng. Chỉ cần con người
chịu khó săn bắt, hái lượm là sẽ có đủ cái ăn mà thôi.
Lửa cháy lớn và táp mạnh theo chiều gió, những cành củi khô bắt
đầu nổ lép bép như pháo tép. Mùi thịt cá chín nhừ bốc lên, thơm thơm, nức mũi.
- Trong tất cả các món chế biến từ thịt, có lẽ thịt nướng là
thơm ngon và hấp dẫn bậc nhất. Kỳ lạ thay, đó cũng chính là kiểu chế biến đầu
tiên do loài người phát minh ra, kể từ khi bầy người nguyên thuỷ biết dùng lửa
để nấu chín thức ăn vậy! – Thầy Thất Sách trầm ngâm, nói.
Lớp da bên ngoài của mấy con cá đã cháy sém thành than, mỡ từ những
thân cá béo ngậy chảy ra xèo xèo dưới lớp than hồng.
- Vậy là chín rồi đấy! – Thầy Thất Sách hất đầu, nói.
Tam Văn cầm dao, tìm chặt một tàu lá chuối rừng rồi mang về trãi
ra giữa bãi cỏ. Mấy con cá được cời ra khỏi đống than nóng rực rồi đặt lên trên
lá chuối. Khi lớp da cháy đen được lột ra, để lộ lớp thịt trắng ngần, thơm phức.
Thầy Thất Sách mở túi lấy gia vị ra, bỏ vào một cái bát để làm món chấm.
- Đã là món ngon thì không thể thiếu bia được! – Tam Văn nói rồi
nhanh nhẹn lôi từ trong túi ra hai lon bia Halida được mua sẵn từ trước.
- Phải đấy! Cũng nên uống một chút để lấy phong vị! – Thầy Thất
Sách vui vẻ tán thành.
Vậy là họ đã có một bữa nhậu ngon lành. Khung cảnh cũng thật
lãng mạn và có một không hai. Thực là một trãi nghiệm tuyệt vời nơi núi rừng
hoang dã. Tam Văn gỡ một miếng thịt cá, bỏ vào miệng ăn thử, rồi tấm tắc khen:
- Chà! Thịt cá suối ngon hơn cá ao nhà nuôi thầy ạ!
- Một phần là cá tự nhiên có nhiều chất dinh dưỡng. Phần nữa là
do thịt cá nướng ngon hơn. Ở nhà thì chúng ta chẳng bao giờ chế biến theo cách
như thế này cả! – Thầy Thất Sách giải thích.
Hai thầy trò cùng bật nắp, cụng lon. Ngồi ăn cá nướng và uống
bia ngay bên bờ suối, thử hỏi còn có thú nào bằng? Cạnh đó, tiếng suối chảy róc
rách bên tai như đàn hạc, đàn cầm. Bốn bề là cỏ xanh, hoa nở, gió thổi cành lá
rì rào, đung đưa.
- Ở “Đạo Nhân Thi Quán”, chúng ta cũng có vườn cây, ao cá. Nhưng
đó chỉ là tiểu cảnh trong một không gian bó hẹp do con người tạo nên. Còn đây mới
thực là thiên nhiên rộng lớn, do đất trời hình thành, tạo dựng. Thực là thống
khoái và hào sảng biết bao! - Thầy Thất Sách nói và đưa cặp mắt long lanh nhìn
khắp lượt khung cảnh tráng lệ xung quanh.
Bình sinh, Tam Văn vốn rất thích những thứ miễn phí. Một bữa thịt
cá do thiên nhiên ban tặng thế này thì còn gì tuyệt hơn. Vì thế mà chú cứ thế
tha hồ chén đẫy. Thuận đà, chú ăn liền một lúc hai con. Thầy Thất Sách thì chỉ
ăn nửa con rồi buông đũa. Phần còn lại Tam Văn xử lý rốt ráo, ngoài xương ra,
chú chẳng để thừa một chút gì để gọi là phung phí của trời cả.
Ăn xong, hai thầy trò thu dọn rồi nằm xuống bãi cỏ để nghỉ trưa.
Cỏ êm, hoa thơm, gió mát, chưa bao giờ họ cảm thấy được ngủ ngon giấc và thoã
thích đến vậy.
Đến chiều, Tam Văn xâu mấy con cá còn lại vào một sợi dây rừng,
rồi xách theo. Chú nói:
- Mấy chú cá to này, tối nay thầy trò ta sẽ đốt lửa để nướng. Vừa
ăn, vừa thức khuya uống bia. Thật là thú vị biết bao!
- Nhà ngươi nói phải lắm! – Thầy Thất Sách tán thành - Cái đức
tính chăm chỉ của anh đã được phát huy và trở nên hữu ích trong những hoàn cảnh
như thế này rồi đấy. Giờ đây, tất cả đều phải dựa vào sự thông minh và cần cù của
chúng ta. Cần phải phát huy sức mạnh nội tại, khám phá những thứ mà ngày thường,
vì những tiện ích vật chất của xã hội văn minh mà người ta lười suy nghĩ, lười
sáng tạo và vận động. Nói nôm na cho dễ hiểu, thời gian này chúng ta sẽ sống một
cuộc sống tự cung, tự cấp. Đối với những người hiệp sĩ tha hương, cuộc sống như
thế cũng coi như là sung túc rồi. Cứ gì phải giàu sang phú quý mới gọi là.
Lần này dù được khen, nhưng Tam Văn vẫn tỏ ra khiêm tốn:
- Chỉ là chút việc mọn, con đã quen làm từ nhỏ rồi. Có gì đáng để
gọi là sáng tạo kia chứ?!
Thầy Thất Sách vừa đi vừa nói tiếp:
- Tổ tiên loài người chúng ta xưa kia cũng sống gần gũi với
thiên nhiên. Trước khi định cư thành các thôn ấp hay thành phố như ngày nay, họ
sống trên núi cao, rừng thẳm, bằng cách săn bắt và hái lượm. Họ sống thành bầy
đàn trong các hang đá hoặc lều cỏ. Nay ta cũng mong muốn được trãi nghiệm một
cuộc sống như vậy, để tưởng nhớ và hướng về nguồn cội, tổ tiên. Không chỉ riêng
chúng ta đâu, ở bên Âu Châu, từ lâu, người ta cũng đã có một phong trào du lịch
gọi là “Về nguồn” vậy. Họ đi vào rừng sâu, chinh phục thiên nhiên, trãi ngiệm
cuộc sống hoang dã để thấu hiểu tổ tiên, để khám phá khả năng thích nghi và chịu
đựng của con người. Xa xưa, với phương tiện thô sơ và hiểu biết hạn hẹp mà tổ
tiên ta vẫn còn sống trong rừng được. Vậy hà cớ gì, ngày nay chúng ta ở trong một
thời đại văn minh tiến bộ, với đầy đủ phương tiện hiện đại trong tay mà lại
không làm được kia chứ?
o0o
Rời khỏi bờ suối một đoạn, thầy Thất Sách nói:
- Chúng ta cần phải tìm cho được một cái hang để trú ẩn trước
khi trời tối!
Sau một hồi cất công tìm kiếm, rốt cục hai thầy trò cũng phát hiện
ra được một cái hang trên cao, cách mặt đất chừng vài mét. Mừng rỡ, họ nắm tay
nhau, dò dẫm, bám vào những bậc đá để leo lên. Cái hang sâu khoảng ba mét, lòng
hang rộng rãi và có ngách. Đứng trước cửa hang, có thể nhìn bao quát những sườn
núi thoai thoải và một hồ nước trong xanh phía dưới.
- Bây giờ thì trò hãy đi nhặt củi khô mang lên đây. Nhớ là phải
nhặt thật nhiều vào nhé! – Thầy Thất Sách phân công.
- Chúng ta chỉ ở trong hang một đêm, nhặt nhiều củi để làm gì hở
thầy? – Tam Văn lại thuận miệng hỏi.
- Tam Văn! Nhà ngươi đã quên rồi hay sao? Chúng ta còn phải nướng
cá để ăn. Vả lại, lửa phải đốt suốt đêm, vì ánh lửa sẽ xua đuổi muỗi, vắt và
côn trùng nữa!
- Chà! Thế mà con lại không nghĩ ra! – Tam Văn vỗ mạnh tay vào
trán, nói.
Dĩ nhiên là Tam Văn tỏ ra rất hứng thú với nhiệm vụ đi nhặt củi
của mình. Chỉ một loáng sau, lòng hang đã được chất đầy những củi khô. Với số
lượng ấy, có thể đốt được đến hai, ba hôm chứ chẳng cứ gì là một đêm.
Hai thầy trò thu dọn đồ đạc và dọn dẹp lòng hang xong một
lúc thì trời cũng vừa tối hẳn. Họ bắt đầu nhóm lửa và chuẩn bị cho bữa tối. Có
lửa, lòng hang lạnh lẽo phút chốc trở nên ấm cúng và sáng sủa hẳn lên. Ngọn lửa
cháy bập bùng, bóng những viên thạch nhũ nhảy múa trên vách đá, tạo nên đủ hình
thù kỳ dị, ma quái.
Để không gian bớt phần hoang vắng, u tịch, hai thầy trò vừa nướng
cá vừa trò chuyện để cho có tiếng người. Tam Văn nói:
- Chà! Nướng cá suối ăn qua bữa. Ở thì trong một cái hang đá giữa
rừng. Chẳng biết sau này có ai tặng thưởng huân chương cho sự khổ hạnh của hai
thầy trò ta không nhỉ?
- “Quân tử ăn không cầu no, ở không cầu an!”. Tam Văn! Ta đã nói
với con rồi. Người quân tử tự quản thúc bản thân, chẳng cần phải ai biết, ai
hay cả! – Thầy Thất Sách đáp.
Bữa tối có thịnh soạn hơn bữa trưa một chút. Ngoài cá và bia, họ
còn có thêm bánh, trái và lương khô do Tam Văn mang theo. Hai người đàn ông, vừa
ăn uống, vừa trò chuyện bên ánh lửa bập bùng. Cảnh tượng thật chẳng khác nào những
người nguyên thuỷ đang sinh hoạt trong hang đá vậy. Không gian bên ngoài lúc
này yên tĩnh đến rợn người. Chẳng có âm thanh gì khác ngoài những tiếng côn
trùng kêu và tiếng gió rít qua lòng hang vi vút.
Nhưng những nơi yên tĩnh bao giờ cũng là nơi lý tưởng nhất cho
việc hồi tưởng ký ức vậy. Vậy nên, những hồi ức đáng nhớ trước đây cứ ào ạt trở
về với Tam Văn như một dòng suối tươi mát, chảy tràn. Chú ngồi chống cằm, tư lự
như một triết gia. Nhớ là trước đây đã từng có nhiều người gọi thầy mình là
Đông – Ki - Sốt, Tam Văn buộc miệng hỏi:
- Thầy ơi! Cho con hỏi thật nhé: Đông - Ki - Sốt là ai vậy?
Thầy Thất Sách ngồi thẳng người, chậm rãi cời cho ngọn lửa cháy
bùng lên, rồi đáp:
- Tam Văn! Chẳng phải là có lần ta đã giải thích cho con rồi hay
sao. Đó chính là Đôn-ki-hô-tê (Nguyên văn tiếng Tây Ban Nha là Don Quijote), một
hiệp sĩ trứ danh người Tây Ban Nha sống vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ
17. Người đã lập nên những chiến công hiển hách như: Đánh nhau với cối xay gió,
chiến thắng đàn Cừu, tấn công vào một đám ma…
- Vậy cái xứ Tây Ban Nha đó ở đâu hả thầy? – Tam Văn vẫn chưa hết
tò mò, hỏi.
- Đó là một đất nước ở phía Nam Âu Châu. Cụ thể là bán đảo
lberia.
- À! Ra vậy! – Tam Văn gật gù.
- Ngoài ra, trong giới hiệp sĩ ta còn ngưỡng mộ thêm một người nữa.
Đó chính là nhà thám hiểm Christopher Columbus, người đã khám phá ra
châu Mỹ, đã đặt chân lên philippine và vô số những hòn đảo khác trên khắp các đại
dương.
- Christopher Columbus có phải là hiệp sĩ không thầy?
- Ông ấy cũng chính là một hiệp sĩ vĩ đại!
- Nhưng nghề thám hiểm và nghề hiệp sĩ thì có gì liên quan tới
nhau kia chứ?
- Sao lại không, Tam Văn! Trong suốt hành trình lênh đênh trên đại
dương, đoàn thám hiểm của họ luôn gặp phải vô số những hiểm nguy rình rập. Phải
chiến đấu với bọn cướp biển, với quân đội các nước khác, và cả với những bộ lạc
không thân thiện với người lạ. Vì vậy mà họ cũng chính là những chiến binh dũng
cảm và thiện chiến bậc nhất vậy. Như vậy chẳng phải là hiệp sĩ thì còn gì?
- Vậy thì mới phải! – Tam Văn nói, rồi thuận miệng tợp một ngụm
bia. Hơi men khiến cho khuôn mặt chú biêng biêng và cũng đỏ bừng lên như ánh lửa.
- Theo chân đoàn thám hiểm của ông, còn có những nhà truyền
giáo, những đại diện của nhà vua. Vì vậy mà đoàn thám hiểm đi đến đâu, tôn giáo
được truyền bá tới đó, ngoài ra, quân đội sau đó sẽ tiến hành các cuộc chinh phạt
những vùng đất mới mà ông đã khám phá ra. Cũng chính vì thế mà dư luận về ông
cũng có những luận điểm trái ngược. Một số cho rằng ông là người có công vẽ ra
bản đồ thế giới, khám phá ra những vùng đất mới vô danh. Nhưng cũng có một luồng
ý kiến cho rằng, ông chính là sứ giả của những đội quân xâm lược. Dù người ta
nghĩ thế nào về ông, thì trong lòng ta, ông vẫn là một hiệp sĩ dũng cảm và vĩ đại.
Tam Văn! Con có muốn ta kể cho nghe một câu chuyện thú vị về ông ấy không?
- Thầy kể đi! – Tam Văn háo hức, dục.
- Sau khi Christopher Columbus từ châu Mỹ trở về. Một số
người trong triều đình đã ganh tị với công trạng của ông. Họ muốn dùng ngôn từ
để làm lu mờ đi những phát kiến vĩ đại ấy, nên đã nói: “Cùng với sự phát triển
của khoa học kỹ thuật. Sớm muộn gì rồi người ta cũng sẽ phát hiện ra châu Mỹ mà
thôi. Đó đâu phải là chuyện gì to tát kia chứ?!”. Christopher Columbus không
cãi lại, chỉ bình thản nói: “Tôi đố ai trong số các ngài ở đây bỏ được quả trứng
vào trong cái chai này?”. Quả trứng thì to, mà cổ chai thì nhỏ, ai cũng lắc đầu
chịu không làm được. Đến lúc ấy, Christopher Columbus mới thản nhiên đập vỡ quả
trứng rồi bỏ vào trong cái chai. Những người kia lại nói: “Đập vỡ trứng rồi cho
vào thì ai mà chẳng làm được?”. Christopher Columbus ôn tồn nói: “Đúng vậy.
Thưa các ngài! Nhưng vấn đề ai là người nghĩ ra điều đó đầu tiên!”. Thế đấy, những
người tài giỏi và có công lao thường hay bị kẻ xấu ganh ghét. Thầy trò ta cũng
vì đã lập được vô số những chiến công hiển hách nên mới bị người ta đố kị. Thế
rồi họ tìm cách để giam hãm, quản chế chúng ta tại “Đạo Nhân Thi Quán” một thời
gian. Nếu như ta không dùng diệu kế để trốn đi thì chưa biết chừng họ còn quản
thúc chúng ta đến bao giờ?
- Hay quá! Ông Christopher Columbus này
quả là một người vừa thông minh vừa dũng cảm! – Tam Văn vỗ tay, nói như reo.
Nhưng rồi chỉ vài giây sau, chú lại chống cằm, mơ màng - Nếu thầy trò ta mà tuyển
dụng quân đội, rồi tiến hành chiến tranh xâm lược, có khi cũng lập ra được một
quốc gia mới như ông ấy được đấy. Khi ấy, thầy sẽ làm vua, còn con thì làm tể
tướng!
- Thời ấy đã qua lâu lắm rồi. Tam Văn! Bây giờ đường biên giới
giữa các quốc gia phần lớn đều đã ổn định. Lại có luật pháp quốc tế bảo vệ và
liên hợp quốc giám sát hẳn hoi. Không thể vô cớ mà phát động chiến tranh xâm lược
nước khác được đâu. Luật pháp chỉ cho phép một đất nước tiến hành chiến tranh để
tự vệ khi bị tấn công mà thôi.
Tuy có chút buồn vì giấc mộng bá vương tan vỡ, nhưng cũng
chỉ thoáng chốc là Tam Văn lại quên khuấy đi ngay. Vì với chú, những hư vinh
kia dù sao cũng chẳng thể hấp dẫn và ngon bằng cái món bia nhắm với thịt cá nướng
thơm lừng, nức mũi này được.
Hình như có tiếng động phát ra từ phía bên ngoài cửa hang. Tiếng
khụt khịt như ai đó hỉ mũi, tiếng thì thầm và cả tiếng bước chân dẫm lên cành
cây khô nghe răng rắc. Tam Văn lắng tai nghe một cách chăm chú, khuôn mặt như
đóng băng vì lo lắng và sợ hãi. Lát sau, chú quờ tay, vớ lấy đèn pin và thanh
đoản đao định ra ngoài để đi tuần. Thầy Thất Sách vội ngăn lại, nói:
- Cứ ở yên đấy! Đó chỉ là tiếng thú đi ăn đêm mà thôi!
Tam Văn bỏ vũ khí và ngồi xuống. Tuy vậy, trong lòng chú vẫn cảm
thấy lo lắng và bất an. Trong lúc trò chuyện với thầy, thi thoảng chú lại đưa
ánh mắt nhìn ra phía ngoài cửa hang tối om với một vẻ tập trung và cảnh giác
cao độ.
- Chúng ta đốt lửa thế này, tuy xua đuổi được ruồi muỗi và lũ
côn trùng thật đấy, nhưng có thể lại thu hút ánh mắt của những kẻ bất lương
ngoài kia chăng? Cửa hang lại chẳng thể đóng, làm sao có thể yên tâm để ngủ? –
Tam Văn hỏi với một giọng đầy lo lắng.
Thầy Thất Sách vuốt râu, nói:
- Có khó gì đâu, Tam Văn! Như vậy là nhà ngươi chẳng hiểu gì về
quân đội rồi. Ở đó, người ta đều phân công ca trực cả đấy. Bây giờ trò hãy đi
ngủ trước đi, ta sẽ gác. Sau đó sẽ đổi phiên cho nhau.
Cả ngày trèo đèo lội suối vất vả, giờ này thêm men bia đã làm
cho hai con mắt như díp lại. Vì vậy mà khi nghe nói được đi ngủ trước, Tam Văn
mừng quýnh như bắt được của. Chú vội lục túi, lấy ra tấm ga và trãi xuống nền
hang, rồi nằm co ro ngay bên đống lửa để ngủ.
Chẳng mấy chốc, tiếng ngáy khò khò của Tam Văn đã vang động khắp
lòng hang. Thầy Thất Sách thì vẫn ngồi bên đống lửa, vừa vuốt râu vừa trầm tư
suy nghĩ về tổ tiên loài người xưa. Ngọn lửa nhảy múa, bập bùng, khiến cho
khuôn mặt thầy khi hiện rõ, lúc lại méo mó, biến dạng như trong một bức tranh lập
thể, trừu tượng. Biết đâu cũng chính trong lòng hang này, hàng triệu năm về trước,
đã có những bầy người nguyên thuỷ cư trú thì sao?...Thầy tưởng tượng ra cảnh những
con người tiền sử đang sinh sống và sinh hoạt tại đây. Họ cũng đốt lửa như thế
này để nướng thức ăn, để sưởi ấm và xua đuổi lũ côn trùng, thú dữ…
o0o
Tiếng chim rộn ràng khắp núi rừng báo hiệu một ngày mới bắt đầu.
Trời đã sáng rõ, những thân cây cổ thụ rì rào, đung đưa, dường như chúng cũng
thức giấc để đón chào bình minh như con người thì phải. Thầy Thất Sách bước ra
cửa hang, đưa mắt nhìn xuống phía dưới, rồi chậm rãi vươn vai để hít thở bầu
không khí của núi rừng hoang dã.
- Thật là một nơi yên tĩnh, tốt cho sức khoẻ cũng như tâm trí
con người. Khí hậu thì trong lành, chỉ có ta với chim chóc và thiên nhiên, cây
cỏ mà thôi. Giờ thì ta mới hiểu vì sao, các bậc cao nhân thường tìm lên những
ngọn núi cao để mà sống ẩn dật vậy! – Thầy Thất Sách nói.
- Chẳng phải “Tuyết Sơn Cư Sĩ” cũng là một người như thế hay
sao?! – Tam Văn tỏ ra hiểu biết, nói.
- Đúng vậy! Ông ấy là người ẩn cư tiêu biểu nhất trong số những
người tiêu biểu! – Thầy Thất Sách khẳng định.
Để tiết kiệm thời gian, hai thầy trò nhanh chóng sửa soạn đồ đạc.
Họ làm một cách chuẩn xác và chuyên nghiệp, không cần phải ai nhắc nhở ai. Và rồi,
khi mặt trời lên cao độ nửa con sào, họ đã rời cửa hang và tiếp tục hành trình
khám phá thiên nhiên.
Bấy giờ thầy trò Tam Văn đã đi sâu, rất sâu vào bên trong rừng rậm.
Từ đây, chỉ còn những cánh rừng nguyên sinh, thân cây cổ thụ cao vút, tán rộng
che khuất, không thể nhìn thấy mặt trời. Chính vì thế mà họ đã gặp phải khó
khăn khi xác định phương hướng để đi. Kể từ lúc này, họ như lạc vào một mê cung
chỉ toàn là cây cối, vách đá và những lớp nấm, rêu lầy lội, ẩm thấp.
Tam Văn quỳ xuống, loay hoay gỡ những đám dây leo quấn chặt như
đan lưới, rồi luồn tay để gạt những cành lá lùm xùm, cố căng mắt nhìn, hy vọng
sẽ nhìn thấy chút ánh sáng le lói phía trước. Chú cẩn thận tránh những cành cây
có gai để khỏi bị xây xước, cả thân hình lúc này nom chẳng khác nào một con rắn
đang trườn trên thảm thực vật xốp và mềm của rừng nguyên sinh. Và rồi những nỗ
lực không biết mệt mỏi của chú đã được đền đáp xứng đáng. Trong một lần vạch lá
để tìm đường như thế, chú bất giác nhìn thấy một luồng ánh sáng chói loà hiện
ra. Sau khi đã dụi mắt kỹ, chú nhìn thấy phía dưới có một khoảng đất rộng, và một
đám người rất đông đang vui chơi, nhảy múa ở đó.
Miệng há hốc vì kinh ngạc, Tam Văn ngoái lại, cất giọng thì thầm:
- Thầy ơi! Lại đây mà xem. Dưới kia có…
- Chuyện gì vậy? – Thầy Thất Sách ngừng tay vạch lá, hỏi.
- Dưới kia có rất nhiều người. Hình như…họ đang…
Thầy Thất Sách cảm thấy lạ, bèn bỏ gậy, tò mò đi lại chỗ Tam Văn
xem sao.
- Suỵt! Khẽ thôi, thầy!...
Thầy Thất Sách phải khom người xuống thì mới nhìn qua được cái lỗ
thủng mà Tam Văn vừa mới vạch ra. Quả như Tam Văn đã nói, dưới kia có một đám
người rất đông, dường như họ đang tổ chức hội hè gì đó thì phải.
- Họ là ai mà lại sống trong rừng sâu thế này thầy nhỉ? – Tam
Văn lại nói, giọng thì thầm.
- Đó là một bộ lạc! – Thầy Thất Sách đáp, mắt vẫn không rời mục
tiêu quan sát phía dưới.
- Bộ lạc là gì?
- Đó là một hình thức tổ chức xã hội sơ khai của loài người, chủ
yếu dựa trên quan hệ huyết thống, chưa phải là nhà nước.
- Thảo nào mà đông ơi là đông! – Tam Văn gãi đầu, vỡ lẽ.
Đang lúc chăm chú theo dõi, chợt hai thầy trò cảm giác như có
bàn tay ai đó chạm vào cổ áo mình. Cả hai ngoảnh đầu nhìn lại. Có mấy người cao
lớn, lực lưỡng đã đứng sau lưng họ từ lúc nào. Những người đó khắp mình đều có
hình xăm, người cầm cung, kẻ cầm giáo đang đứng nhìn họ với một ánh mắt đầy vẻ
tức giận. “Xong rồi! Thế là bị quân lính của họ tóm được rồi. Phen này thì lên
giàn hoả thiêu để làm lễ tế thần là cái chắc!” – Thầy Thất Sách kinh hãi nghĩ.
Trước vẻ hung dữ của những người lính bộ lạc, cực chẳng đã, hai
thầy trò Tam Văn đành phải từ từ giơ tay lên khỏi đầu. Một hành động khuất phục
mà cho dù là bất đồng ngôn ngữ hay khác biệt văn hoá thì người
ta vẫn có thể nhận ra được.
Những người lính kia thấy hai thầy trò Tam Văn đã đầu hàng vô điều
kiện thì cũng cảm thấy yên tâm. Họ quay ra trao đổi những gì với nhau bằng một
thứ ngôn ngữ kỳ lạ mà hai thầy trò chưa được nghe thấy bao giờ cả. Lát sau, thấy
mấy người lính ấy gật đầu đồng thuận với nhau, rồi có hai người lực lưỡng tiến
đến, túm lấy cổ áo hai thầy trò bắt đứng lên, rồi giải đi.
Đoàn người áp giải xuống đến bãi cỏ, rồi thầy trò Tam Văn được dẫn
đến trước mặt một người đàn ông to béo ngồi trên chiếc ghế cao nhất. Người ấy đội
trên đầu một cái sừng hươu, cổ đeo răng nanh lợn lòi, hai bên tai đều đeo
khuyên. Ông ta chính là tù trưởng của bộ lạc này vậy. Người tù trưởng nhìn hai
thầy trò Tam Văn một lúc, rồi lại quay sang chăm chú lắng nghe mấy người lính
kia trình bày những gì đó. Lát sau, ông ta gật gật đầu rồi đưa tay ra hiệu mời
ngồi. Thầy Thất Sách được mấy người lính dẫn đến và chỉ cho một chỗ ngồi cạnh
tù trưởng. Còn Tam Văn thì ngồi ở bàn phía dưới, cách đó một đoạn. Trước khi ngồi
xuống, thầy Thất Sách cúi rạp người để bày tỏ thái độ biết ơn và cảm kích đối với
vị tù trưởng đáng kính. Ông ta đáp lại bằng cách đặt tay lên trái tim rồi mỉm
cười, gật đầu. Vậy là tạm thời đã qua cơn nguy hiểm. Họ được đối xử như khách
quý, thay vì bị xem như những kẻ thù địch của bộ lạc.
Có một sự tình cờ đã cứu mạng hai thầy trò Tam Văn mà chính họ
cũng không hề hay biết. Ấy là nhờ lối trang phục kỳ dị của họ, mà những người
thổ dân kia lầm tưởng thầy Thất Sách là một tù trưởng khác đi ngang qua, cho
nên đã không nghi ngờ gì cả. Chứ nếu biết họ là người của thế giới văn minh lạc
vào đây thì chắc chắn là hai thầy trò đã bị đưa thẳng lên dàn hoả thiêu để tế
thần rồi.
Nguyên đây là một bộ lạc hoang dã thờ thần mặt trời. Họ sống
trong rừng sâu, xưa nay chưa từng tiếp xúc với thế giới văn minh bên ngoài bao
giờ cả. Quần áo họ mặc là vỏ cây và lá chuối. Mỗi khi gặp nhau, họ đặt tay lên
chỗ trái tim rồi cúi gập người để chào. Tất cả những người đàn ông trưởng thành
thì đều đội trên đầu một cái sừng Hươu thay vì mũ. Cũng bởi đặc điểm kỳ lạ này
mà thầy Thất Sách đã gọi họ là “Bộ lạc Sừng Hươu” để cho dễ nhớ. Bộ lạc Sừng
Hươu cư ngụ trong một lòng chảo lớn, bốn bề là rừng rậm âm u. Họ sống trong những
chiếc lều hình tròn, mái lá, vách đất. Mỗi chiếc lều như thế có một cửa chính
hình vòm và một cửa sổ nhỏ hình vuông để thông gió và lấy ánh sáng mặt trời.
Trên bàn tiệc, đồ ăn, thức uống được bày la liệt, ê hề. Bàn tiệc
là một tấm gỗ dài được đẽo gọt phẳng phiu bằng rìu và dao rựa. Thức ăn thì toàn
là những sâu bọ, ếch, nhái nấu nguyên con. Chỗ thì nướng chín, chỗ thì nấu canh
nổi lềnh phềnh nom như đang bơi lượn.
Người tù trưởng mỉm cười, đưa tay mời hai thầy trò dùng món. Tam
Văn kinh hãi, cứ nuốt nước bọt khan mà không dám ăn. Chú liếc mắt nhìn sang, thấy
thầy Thất Sách vẫn vừa nói cười vừa ăn uống ngon lành như không có chuyện gì xẩy
ra cả. Sợ nếu như không ăn thì thất lễ, Tam Văn cũng đành nhắm mắt, nhắm mũi bốc
vài con sâu rồi cho vào miệng nhai chóp chép.
Để đáp lễ và cũng để khỏi tiếp tục phải ăn sâu bọ, Tam
Văn mở túi lấy bánh, kẹo ra mời tù trưởng và mọi người cùng ăn. Mấy người thổ
dân sau khi ăn quà của Tam Văn thì đều gật đầu khen ngon và còn chìa tay xin
thêm. Thế là có bao nhiêu vốn liếng, Tam Văn đành phải dốc túi lấy hết ra để tặng
cho họ cả. Vì sự an nguy của bản thân, nhiệm vụ quan trọng nhất của chú lúc này
là cốt làm sao để cho những chủ nhân của bộ lạc không phật lòng hay tỏ ra tức
giận.
Tù trưởng lại vui vẻ mời tất cả mọi người cùng nâng ly. Rượu được
đựng trong những cái gáo dừa khô đã khoét rỗng. Đó là một thứ rượu được ngâm ủ
và lên men từ một loại quả đã thối rữa, vì vậy mà đặc sánh và có mùi thum thủm.
Lúc nâng bát rượu lên, ngay tức khắc Tam Văn đã muốn nôn thốc nôn tháo. Nhưng
vì sợ thất lễ, chú ta đành làm ra vẻ bình thản rồi đưa lên miệng tợp một ngụm.
Kỳ lạ thay, tuy mùi rượu khó chịu là thế, nhưng chất lượng lại tuyệt hảo và rất
tốt cho sức khoẻ. Sau khi uống vào, Tam Văn cảm thấy cơ thể mình hừng hực và
tràn đầy sinh lực, cứ như thể là một con mãnh thú đang đến kỳ động dục vậy. Chú
cảm giác rằng, ngay lúc này, nếu trước mặt xuất hiện một con báo hay sư tử, chú
sẵn sàng xắn tay áo lên để mà chiến đấu tay đôi với chúng mà chẳng hề sợ hãi
chút nào sất.
Ở bàn bên, thầy Thất Sách vẫn đang chăm chú nói chuyện với tù
trưởng. Thầy nói về ô tô, ti vi, xe đạp của thế giới văn minh ngoài kia, nhưng
xem ra họ chẳng hiểu gì hết. Dĩ nhiên là thầy giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu,
dùng động tác để mô phỏng, chứ họ có hiểu được tiếng của thầy đâu mà nói.
Ngoài bãi, những người tham gia buổi lễ vẫn đang nhảy múa xung
quanh đống lửa cháy bập bùng. Dưới một gốc cây to gần đấy, từ nãy vẫn có một cô
gái trẻ đứng nhìn thầy Thất Sách với một ánh mắt chăm chú, ngưỡng mộ. Cô gái ấy
xinh đẹp như một đoá hoa rừng, eo thắt vỏ cây, ngực che lá chuối được xé tua
rua, để lộ hai bầu vú tròn và căng mẩy. Lúc này, cô từ từ tiến về phía thầy Thất
Sách đang ngồi, duyên dáng mỉm cười và nắm tay mời thầy ra nhảy. Có một điều mà
quý độc giả chưa biết, ấy là ngoài chức danh hiệp sĩ ra, thầy Thất Sách còn là
một nhà ngoại giao xuất sắc và không để ai phải cụt hứng bao giờ cả. Vì vậy mà
thầy đã đứng lên, vui vẻ theo chân cô gái ra giữa vòng tròn và bắt đầu nhảy
múa. Với khả năng quan sát tuyệt vời, chẳng mất nhiều thời gian, thầy đã bắt
chước được những động tác của điệu nhảy và nhảy một cách rất lả lướt, điêu luyện.
Thành ra, thầy Thất Sách và cô gái ấy đã trở thành một đôi bạn nhảy đẹp nhất,
hay nhất của buổi lễ vậy. Hoà vào không khí lễ hội, những người đứng xem vừa vỗ
tay vừa hát theo một cách rất chi là vui vẻ, cuồng nhiệt. Ông tù trưởng và các
vị quan khách ngồi trên thì khỏi phải nói, họ hài lòng lắm, vì vậy mà vừa uống
rượu, họ vừa nói cười và tán thưởng thầy Thất Sách hết sức.
Khi những người ngoài bãi dừng nhảy múa thì cũng là lúc mà buổi
lễ kết thúc. Tù trưởng đứng dậy, quàng vào cổ thầy Thất Sách một cái răng nanh
Lợn Lòi để làm kỷ niệm. Theo quy định của bộ lạc, chỉ những người được tôn trọng
và là khách quý thì mới được tặng răng nanh, cũng giống như ở ngoài xã hội văn
minh người ta trao huân chương cho nhau vậy. Để đáp lại, thầy Thất Sách cũng tặng
lại cho ông ta cái đèn pin mới mua để đi rừng của mình.
Lúc chia tay, tù trưởng đích thân dẫn theo đông đủ quan khách đi
theo để tiễn biệt. Đến một gốc cây to ở cuối bãi, tù trưởng dừng lại và đưa tay
lên trái tim, cúi đầu. Những người xung quanh cũng nhất loạt làm theo. Dĩ nhiên
rồi, nhập gia tuỳ tục, thầy trò Tam Văn cũng bày tỏ tình cảm bằng cách bắt chước
giống y hệt như vậy.
Trên đường trở ra, thầy Thất Sách phấn khởi, nói:
- Thực là một trãi nghiệm có một không hai. Những kẻ ngoài kia
dù có nằm mơ cũng không tài nào có được. Họ sẽ không bao giờ được gặp gỡ cũng
như trở thành khách quý của bộ lạc Sừng Hươu như thầy trò ta cả. Tam Văn! Nhà
ngươi đã thấy chưa? Đó chính là phần thưởng xứng đáng dành cho những người dám
dấn thân tìm kiếm phiêu lưu như chúng ta đấy. Mai sau dù có bao giờ, ngươi có
thể kể cho con cháu hay bất kỳ ai khác nghe về chuyện này. Chắc chắn là họ sẽ
cũng không ngớt lời trầm trồ và thán phục về chuyến phiêu lưu ly kỳ đầy mạo hiểm
của thầy trò ta đến bộ lạc Sừng Hươu đâu!
- Tuy là một trãi nghiệm hiếm có thật đấy! Nhưng nếu mà không có
được sự đồng hành của thần may mắn, ắt hẳn là thầy trò ta cũng đã bị họ hoả
thiêu trên dàn lửa vì nghi là gian tế rồi cũng nên! – Tam Văn bổ sung.
Im lặng một lúc, Tam Văn lại hỏi:
- Thầy ơi!...Con hỏi thật thầy điều này nhé!...
- Trò cứ hỏi!
- Tại sao lúc nãy thầy lại có thể ăn ếch nhái và sâu bọ một cách
ngon lành như thể là không có chuyện gì xẩy ra như thế?
- Thú thực là từ thủa cha sinh mẹ đẻ - Thầy Thất Sách đáp – ta
cũng chưa ăn ếch nhái, sâu bọ như thế bao giờ cả. Nhưng thử hỏi, nếu một đằng
là dàn hoả thiêu, một đằng là ăn những thứ đó thì nhà ngươi sẽ chọn cái gì nào?
- Ấy đấy! Cũng chính vì nghĩ như thầy nên con mới ăn đấy! Nhưng
mà con thì ăn ít thôi! – Tam Văn ranh mãnh nói.
Thầy Thất Sách không nói nữa, chỉ im lặng chống gậy bước đi. Dù
gì đi nữa, với thầy, cuộc gặp gỡ với tù trưởng bộ lạc Sừng Hươu vừa rồi là một
trong những đỉnh cao chói lọi nhất trên bước đường phiêu lưu vạn dặm. Nó khiến
thầy cảm động và rưng rưng hạnh phúc, vì đó là một kỷ niệm vô giá và có một
không hai trong suốt cuộc đời của thầy vậy.
Vậy là đã sắp ra khỏi rừng sâu. Từ trên cao, họ đã có thể nhìn
thấy những xóm làng nhấp nhô, những con đường chạy dài quanh co phía dưới.
Đương khi hai thầy trò Tam Văn cắm cúi bước đi, bất chợt phía trước nghe có tiếng
thét lớn:
- Hai gã kia! Nếu muốn sống thì hãy để tất cả hành lý lại đây!
Thầy trò Tam Văn hốt hoảng nhìn lên. Thấy trước mặt có ba gã đại
hán lực lưỡng và dữ tợn đang đứng chắn ngang đường. Tên đứng giữa cầm kiếm, râu
ria xồm xoàm che kín gần hết cả khuôn mặt. Hai tên còn lại, một tên cầm đao, một
tên cầm rìu, vẻ mặt tên nào tên nấy đều đằng đằng sát khí.