Chủ Nhật, 30 tháng 11, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXV)

 

Đêm Noel, đi qua giáo xứ

Đồng thanh tương ứng, hảo hán kết giao

Thầy Thất Sách chống gậy, nói:

- Các ngươi là ai mà lại dám cản đường ta?

Gã cầm kiếm đáp:

- Chúng tao là đại vương ở núi này. Bất cứ ai đi qua đây cũng đều phải đóng tiền mãi lộ. Biết điều thì hãy để tất cả hành lý lại đây, rồi nhanh chân mà cút ngay xuống núi!

Nguyên chúng là một bọn thảo khấu chuyên tụ tập lâu la để hại người, cướp của. Tên đứng giữa cầm kiếm chính là đại vương, còn hai gã kia là phó vương.

Thầy Thất Sách bĩu môi:

- À! Thì ra là chiếm núi xưng Vương phỏng? Vậy các ngươi đã nghe đến danh hiệp sĩ thất sách hay chưa?

Tên tướng cướp quay sang hỏi đồng đảng:

- Hắn nói gì vậy?

- Hắn nói hắn là hiệp sĩ Thất Sách!

Gã kia nghe xong thì cười đến nỗi không thể ngậm được miệng:

- Ha...ha…ha!...Cho dù có là Cửu Sách đi qua đây thì cũng phải nộp mãi lộ như thường. Huống chi chỉ là cái thứ Thất Sách như nhà ngươi! Ha…ha…ha!...

Thầy Thất Sách cả giận, vung thanh trường côn:

- Ngày xưa, Hán Thọ Đình Hầu Quan Vân Trường qua năm cửa ải, chém chết sáu tướng. Chỉ vì những kẻ ngu dốt kia đã dám cả gan cản đường võ thánh. Nay ta là hiệp sĩ Thất Sách, nhân vì có việc phải đi gấp qua đây. Nếu các ngươi vẫn cố chấp mà không chịu tránh đường thì hãy nom lấy cái gương tày liếp kia. Biết điều thì hãy tránh ra mau, kẻo cả ba chúng bay đều chết uổng mạng cả bây giờ!

Bọn cướp núi bị chọc tức như thế thì lấy làm căm tức lắm, đứa nào đứa nấy đều trợn mắt, nghiến răng, những muốn xông vào mà ăn tươi nuốt sống thầy Thất Sách ngay. Nhưng nghĩ thầy đã dám nói như vậy thì ắt hẳn là bản lĩnh cũng chẳng thể tầm thường. Bởi vậy chúng vẫn còn chần chừ mà chưa dám ra tay động thủ.

Giữa lúc ấy, tiếng của thầy Thất Sách lại sang sảng vang lên:

- Nếu chúng bay vẫn không chịu hồi tâm chuyển ý, hãy chuẩn bị đón nhận những đòn sấm sét từ ngọn trường côn của ta đây!...

Thế là một trận chiến long trời lở đất không thể tránh khỏi đã nổ ra. Hai bên lao vào nhau như những ngọn cuồng phong dữ dội. Một mình thầy Thất Sách giao đấu với những ba tên cường đạo, thực là một phiên bản “Tam anh chiến Lữ Bố” thời hiện đại vậy. Có điều, Lữ Bố ngày nay không có phương thiên hoạ kích, cũng không cưỡi ngựa xích thố, chỉ có tấm lòng quảng đại và một thanh trường côn trong tay để giúp đời cứu khốn phò nguy mà thôi.

Ba tên cướp hò nhau vây lấy thầy Thất Sách vào giữa mà đánh rất rát, những mong dùng lợi thế về quân số để mau chóng áp đảo đối phương. Thế nhưng thanh trường côn trong tay thầy thì vẫn múa tít với một sức mạnh kinh hồn, bạt vía, khiến chúng không tài nào đỡ nổi. Tiếng gió rít lên nghe vù vù, bốn bề bụi mù cuốn tung, lá vàng trên cây rơi rụng, bay lả tả. Chỉ cần trúng một đòn như thế, ắt hẳn phải mẻ trán, biêu đầu. Bọn cướp không dám mạo hiểm, đành phải giãn ra để né đòn, mặc dù chúng đông người và vũ khí cũng được trang bị tốt hơn rất nhiều.

Cách đó một đoạn, Tam Văn vẫn đang đứng nấp sau một gốc cây to. Lúc này chú đã lấy thanh đoản đao ra cầm ở tay, sẵn sàng lao ra trợ chiến cho thầy mình khi cần thiết.

Một mình chống lại ba tên cướp lực lưỡng, thầy Thất Sách đã có phần hơi nao núng, bấy giờ chỉ còn biết loanh quanh chống đỡ cầm chừng. Vừa đánh thầy vừa lùi dần về phía chân ngọn núi đá. Đó là một sự lựa chọn mang tính chiến thuật của thầy, vì vách núi sẽ làm điểm tựa sau lưng, không cho bọn cướp bao vây tứ phía nữa.

Tam Văn biết chủ mình đang thất thế, lo sợ nếu bại trận thì sẽ bị những tên cướp hung hãn kia đánh cho thịt nát xương tan chứ chẳng chơi. Trong lúc nguy khốn, tự nhiên trí thông minh bổng từ đâu ùa về như thác đổ. Chú liền nảy ra một ý tưởng vô cùng tuyệt diệu. Thế là từ chỗ ẩn nấp, chú cầm thanh đoản đao nhảy xồ ra, lớn tiếng chỉ đông, trỏ tây, làm như thể là đang chỉ huy nhiều người lắm. Bọn cướp thấy có một đại hán lực lưỡng xông ra, lại đang chỉ huy quân lính bao vây thì vô cùng hoang mang. Vì vậy mà từ chỗ đang chiếm thế thượng phong, lúc này chúng lại trở nên lo sợ mà vừa đánh vừa lùi. Tên tướng cướp vung kiếm đỡ được một đòn như búa bổ của thầy Thất Sách rồi hốt hoảng kêu lên:

- Chạy mau!

Hai gã kia đang bị phân tâm, lúc này lại nghe chủ tướng hô lên như thế thì cũng cuống cuồng, giả vờ đánh dứ vài chiêu rồi lập tức quay đầu mà bỏ chạy toán loạn. Đúng là chạy thục mạng, chạy đến mức thừa sống thiếu chết vậy. Chỉ thoáng chốc, bóng dáng cả ba tên đạo tặc đều đã mất hút phía sau một khe núi gấp khúc và um tùm lau sậy gần đó.

Thầy Thất Sách thấy thế thì cũng chống gậy dừng lại, quyết định không mạo hiểm đuổi theo chúng nữa.

- Bọn thảo khấu kia đã bị con đánh lừa mà bỏ chạy mất vía cả rồi! – Tam Văn hổn hển chạy đến, huơ tay, khoái chí nói.

Thầy Thất Sách cười lớn, vỗ vỗ vào vai học trò, mà rằng:

- Trò mà cũng biết dụng mưu như thế, đó chính là cái phúc của ta!... Phúc của ta vậy!...

Tam Văn quả là đáng khen, vì lần này chú không cần dùng đến sức mạnh cơ bắp như mọi khi, mà còn biết sử dụng cả mưu trí lẫn binh pháp để giải vây cho thầy mình hẳn hoi.

- Tuy nhiên – Thầy Thất Sách nói tiếp – Chúng ta cũng cần phải đi cho mau. Phòng khi chúng phát hiện ra bị lừa, rồi vì tức tối mà rủ thêm đồng đảng quay trở lại để báo thù chăng?

o0o

Bữa nay, khi thầy Thất Sách giở cuốn lịch túi ra xem thì thấy ghi ngày 24/12/1995. Năm cùng, tháng tận, vậy là lại sắp đến tết dương lịch rồi. Thời gian qua mau, kể từ khi hai thầy trò đi tế mộ tổ rồi rủ nhau bỏ trốn, đến nay thấm thoắt đã hơn nửa năm trời. Trong khoảng thời gian ấy, họ dãi dầu với nắng gió phương Nam, miệt mài tìm kiếm những chuyện phiêu lưu mạo hiểm và lập được vô số những chiến công hiển hách. Ở một góc độ nào đó, có thể nói, cuộc đời của thầy trò họ giống như trong những câu chuyện hiệp sĩ hay cổ tích thần tiên vậy. Vừa huyền thoại, vừa hào sảng, lại đẹp và lãng mạn như trong âm nhạc, thi ca.

Buổi tối, Hai thầy trò đi qua một giáo xứ nằm ngay bên con đường lớn. Khắp chốn, chỗ nào cũng đèn hoa rực rỡ, người xe đi lại tấp nập. Trước mỗi ngôi nhà đều có một cây thông noel nhỏ xinh được trang trí đèn màu nhấp nháy. Chỗ này, chỗ kia, trai thanh, gái lịch nô nức kéo nhau đi xem.

Tam Văn hết nhìn ngang rồi lại ngó dọc, vừa đi vừa ngắm nghía không biết chán mắt.

- Chà! Chà! Đây là đâu mà náo nhiệt ghê!? – Chú buộc miệng, trầm trồ.

- Đây là một xóm đạo. Tam Văn! Con quên rồi hay sao? Hôm nay là lễ noel đấy! Cái toà nhà cao vút có chăng đèn lộng lẫy kia chính là nhà thờ. Còn chỗ nhấp nháy nom như hình cái cây kia là cây thông noel dựng trước sân nhà xứ đấy – Thầy Thất Sách đáp.

- Lễ noel ư? Thảo nào mà đông vui, nhộn nhịp như vậy!

- Phải! Đó là ngày lễ trọng nhất của những người theo đạo công giáo.

- Từ nhỏ, con có nghe nói nhiều đến ngày lễ này, nhưng thú thực là cũng chưa bao giờ hiểu cặn kẽ lắm đâu – Tam Văn nói.

- Nếu con muốn, ta sẽ nói cho con biết!

- Vâng! Vậy thì nhờ thầy! – Tam Văn khách sáo nói, vì chú biết thể nào thầy mình cũng sẽ giảng giải như mọi khi.

- Lễ noel, hay còn gọi là giáng sinh, là lễ mừng đức chúa Giêsu được sinh ra đời. Chúa Giêsu sinh vào khoảng năm thứ 6 trước công nguyên, trong một hang đá tại Bethlehem. Khoảnh khắc mà ngài được sinh ra là 12h đêm ngày 24 tháng 12 dương lịch. Tương truyền, khi ngài giáng thế, nhiều điều huyền diệu đã xảy ra. Tại một cánh đồng, tiếng nói của thiên thần phát ra, tiên tri về sự ra đời của đấng cai trị. Giữa nhóm người chăn cừu, một luồng ánh sáng chói loà chiếu xung quanh, một thiên sứ của đức chúa trời hiện ra và nói: “Hôm nay, trong thành của Đa-vít có một đấng cứu rỗi được sinh ra cho các anh. Ngài là chúa Ki-tô. Đây là dấu hiệu để các anh nhận ra ngài: Các anh sẽ thấy một hài nhi được quấn vải, nằm trong máng cỏ”.

Khi các thiên sứ đã về trời, những người chăn cừu bèn quyết định đến Bethlehem để xem xét sự việc, quả thực là họ đã gặp được hài nhi Giêsu ở đó như lời tiên tri đã nói.

- Chà! Thật là một huyền thoại! – Tam Văn xuýt xoa.

- Sự ra đời của chúa Giêsu đã đánh dấu một dấu mốc quan trọng của loài người – Thầy Thất Sách tiếp tục nói – Người ta gọi thời gian trước khi chúa được sinh ra là trước công nguyên. Từ đó về sau thì gọi là sau công nguyên. Sau này, hằng năm, người công giáo đều tổ chức lễ noel để kỷ niệm ngày sinh của chúa Giêsu, và cũng là dịp để những người trong gia đình quây quần, họp mặt, chia sẻ những chuyện vui, buồn trong năm. Ngày lễ giáng sinh mang thông điệp hoà bình “Vinh danh thiên chúa trên trời. Bình an cho người ở dưới trần thế”. Ngày này, người ta cũng sẽ dựng cây thông noel, làm hang đá để mô phỏng lại sự tích ra đời của chúa.

- Nhưng vì sao chúa Giêsu lại được người đời tôn kính như vậy?

- Vì đó là đức chúa trời. Người đã sáng lập ra đạo Ki-Tô và cũng là người chịu khổ nạn trên thập giá để cứu chuộc loài người. Ngài dạy con người phải sống theo tình yêu thương, bác ái và công chính. Cuộc đời của chúa Giêsu là biểu tượng của tình yêu và sự hy sinh, là nguồn cảm hứng và niềm hy vọng cho hàng triệu tâm hồn trên khắp thế giới này.

- Vậy thì Chúa là người vĩ đại nhất thế gian rồi còn gì?

- Đúng vậy! Chúa là đấng sáng tạo ra muôn loài. Vì vậy mà ngài vĩ đại không ai sánh tày. Chúa cũng là đấng hy sinh, đấng cứu chuộc cho loài người. Ngài là người cao cả và giàu đức hy sinh nhất.

- Vậy còn ông già noel thì sao, thầy? Cái người mặc bộ đồ màu đỏ và có râu tóc bạc phơ ấy! – Tam Văn vẫn chưa hết tò mò, hỏi.

- À! Đó là một nhân vật vừa huyền thoại vừa có thật! Tam Văn!

- Vì sao lại vừa huyền thoại, vừa có thật?

- Vì ông già noel xuất hiện vào mỗi dịp giáng sinh để trao quà cho các thiếu nhi ấy là một nhân vật được thi vị hoá. Người lớn nói với những đứa trẻ rằng, đêm giáng sinh, ông già noel sẽ leo qua ống khói lò sưởi rồi đặt bánh kẹo, đồ chơi vào những chiếc giày cạnh lò sưởi hay chiếc tất mà các em nhỏ treo bên cửa sổ. Mục đích là khuyến khích những đứa trẻ học tập chăm ngoan để được nhận quà tặng. Còn quà thì đa phần là do bố mẹ hoặc người thân chuẩn bị cho các bé chứ chẳng có ông già noel nào phát quà vào đêm giáng sinh cả. Còn nói có thật là vì hình tượng ông già noel được lấy cảm hứng từ một nhân vật có thật.

- Nhân vật đó là ai?

- Đó chính là thánh Nicholas, một giám mục ở thành phố Myra thuộc Bắc Âu. Ngài là một con người có lòng bao dung đối với những mảnh đời bất hạnh, nhất là đối với trẻ em. Hằng năm vào mùa đông, ngài mặc thường phục đến những ngôi làng để phát quà cho trẻ em. Đây chính là hình ảnh đầu tiên gợi cảm hứng để cho người ta xây dựng nên hình tượng một ông già noel tốt bụng đấy. Tam Văn!

- Chà chà! Thật là lý thú. Thì ra câu chuyện nào cũng có sự tích cả!

Không khí noel đông vui và câu chuyện của thầy Thất Sách khiến cho Tam Văn cảm thấy đường đi như ngắn lại. Chẳng mấy chốc mà hai thầy trò đã qua khỏi giáo xứ. Phía sau họ, ánh đèn nhấp nháy, và cả những âm thanh lễ hội cũng xa dần, nhỏ dần trong một mùa noel xa xứ.

o0o

Bấy giờ, danh tiếng lẫy lừng của hiệp sĩ Thất Sách đã vang dội khắp trong nam, ngoài bắc, khiến cho giới giang hồ, hiệp sĩ vô cùng khâm phục và ngưỡng mộ.

Bữa ấy, trên đường phiêu lưu, hai thầy trò Tam Văn đi đến một thị trấn nọ. Chốn này, xe cộ đông đúc, người qua kẻ lại tấp nập, cảnh tượng nom rất sầm uất, đông vui. Lúc đến gần một ngã tư có nhiều quán hàng san sát, thấy có đông người tụ tập, rồi có tiếng đàn hát từ đó vọng ra não nề, ai oán. Tò mò, họ bèn tiến lại gần để xem. Chỗ ấy là một ngôi quán thịt chó rộng rãi và khang trang. Bên trong tủ kính, những tảng thịt chó thui vàng óng đặt nằm ngay ngắn. Những lòng dồi, tim, gan thái sẵn bày ra đĩa chờ phục vụ khách. Quán có nhiều thực khách đang ăn uống, họ vừa tán chuyện vừa cụng ly với nhau ồn ào, rôm rả. Trước quán, có hai cha con người hát rong đang ngồi đàn, hát. Đứa bé gái chừng tám, chín tuổi gì đó, mặt mũi nhem nhuốc, ăn mặc lôi thôi, rách rưới. Nó ngồi cạnh bố, trước mặt đặt một cái bát tô bằng nhôm để xin tiền. Người bố bị mù, vừa đánh đàn guita vừa nghêu ngao hát. Người ta đứng xem rất đông, thi thoảng lại có người vì thương tình mà nhón tay bỏ ít đồng bạc lẻ vào cái bát nhôm để bố thí. Mỗi lần như thế, đứa bé lại cất giọng run run:

- Con cảm ơn cô dì!…chú bác!...

Người ta cho tiền vì thương ông bố mù một, nhưng lại thương đứa bé tội nghiệp kia mười. Tội, mới chừng nấy tuổi, lẽ ra đang được đi học và vui chơi cùng bạn bè thì giờ này lại phải dắt người bố mù đi hát kiếm ăn. Mặc dù nét mặt luôn tỏ ra sợ sệt, nhưng có vẻ như nó là một đứa bé rất ngoan và biết yêu thương người bố mù loà của mình một cách vô điều kiện.

Tiếng hát đang cất lên dìu dặt thì bổng bị cắt ngang bởi một tiếng quát đầy tức tối và gắt gỏng. Rồi một người to béo, mặt mày dữ tợn, từ trong quán hầm hầm đi ra. Đó chính là người chủ của quán thịt chó này. Ông ta tiến thẳng đến chỗ người hát rong đang ngồi, lớn tiếng, quát:

- Dẹp ngay! Biến đi chỗ khác! Không được hát hò gì ở đây nữa. Bộ mày định đuổi hết khách của quán ông đi hay sao?

Có lẽ tiếng hát đã làm cản trở việc kinh doanh của quán thịt chó. Khiến cho khách hàng khó chịu và ông ta cảm thấy tức tối chăng? Bên trong quán thì người ta vung tiền ăn uống phũ phê, vui vẻ, bên ngoài thì tiếng hát của người mù kể lể, khóc than thân phận nghèo hèn. Phải chăng hai cảnh đời đối lập ấy không thể cùng tồn tại, không thể dung hoà làm một? Tội nghiệp cho đứa bé, cũng vì nghĩ chỗ này đông đúc, nhiều người có tiền nên nó mới dắt bố đến đây để hát. Nào ngờ lại vì thế mà làm mích lòng người ta.

Tiếng đàn, hát lập tức im bặt. Có vẻ như người hát rong cũng đã cảm nhận được sự đe doạ và nguy hiểm đối với bố con mình. Vẻ mặt tái đi vì sợ hãi, ông ta mò mẫm quờ tay để cố gắng đứng lên. Nhưng vì không nhìn thấy gì, nên mãi mà vẫn chưa biết làm sao, cứ luống ca luống cuống như gà mắc tóc. Sự chậm chạp đó khiến cho gã chủ quán càng như bị chọc tức thêm. Gã tức giận hét lên, cặp lông mày chổi xễ xếch lên một cách đầy dữ tợn:

- Tao bảo mày biến nhanh lên. Sao lại lừng khừng làm vậy. Bộ cố tình trêu tức ông hả?

Dứt lời, gã vung tay tát người hát rong một cái trời giáng, nảy đom đóm mắt. Thuận đà, hắn đạp thêm một cú thật mạnh làm cho người mù ngã nhoài xuống đất. Rồi hắn bước lại, giật phăng cây đàn trong tay người hát rong và tức tối ném ra xa. Cây đàn bay liệng, va vào một cây cột bê tông gần đó rồi đáp xuống nền đất, vang lên một âm thanh khô khốc. Người mù đau đớn, quờ quạng, lồm cồm bò dậy. Bộ quần áo vốn đã rách rưới, bấy giờ lại lấm lem bụi đất, nom càng tội nghiệp, thảm thương.

Gã chủ quán quay sang, thấy đứa bé ngồi co rúm người vì kinh hãi, hắn lại co giò đá tung cái bát tô đựng tiền trước mặt nó. Những đồng tiền lẻ được gom nhặt bằng công sức của cả hai bố con lúc này bay lả tả trên không như những tờ giấy lộn. Đứa bé sợ quá khóc ré lên, mặt mày tái xanh tái xám. Những người đứng xem, dù cảm thương nhưng cũng đành phải quay mặt đi, làm bộ như ngó lơ.

Nguyên gã chủ quán này là một tay ác bá khét tiếng trong vùng, ngày thường vẫn hay hống hách nên không ai dám đứng ra can ngăn cả. Gã làm nghề giết mổ và kinh doanh thịt chó. Nhưng quán của gã nấu ngon, nên đông khách, có nhiều người máu mặt cũng hay lui tới đây để ăn uống, nhậu nhẹt. Vì có nhiều mối quan hệ, quen biết, càng ngày gã càng sinh ra hống hách và càn rỡ tợn. Cậy thần, cậy thế, vì thế mà gã đã làm ra vô số những chuyện bất công và ức hiếp người xưa nay.

Lúc này, gã chủ quán đang định giơ tay đánh tiếp thì bổng từ đâu trong đám đông, xuất hiện một đại hán cao lớn bước ra ngăn cản. Đại hán ấy mặc quần Jean, áo cộc tay, cằm vuông, mắt sáng, nom như một lực sĩ đô vật vậy. Đại hán nắm lấy tay gã chủ quán, gằn giọng:

- Không được đánh nữa! Anh không thấy người ta mù loà hay sao? Đánh một người mù thì có gì là tài giỏi kia chứ. Có giỏi thì hãy đánh ta đây xem!

"Kiến nghĩa bất vi, vô dũng dã" (Thấy việc nghĩa trước mắt mà không làm thì không phải là kẻ dũng). Vị đại hán kia quả là một trang anh hùng, hảo hán ở trên đời vậy. 

Xưa nay đã hống hách quen thói, nay thấy có người dám xía vào chuyện của mình thì gã chủ quán lấy làm tức giận lắm. Chẳng cần nói nhiều, hắn lập tức nghiến răng, trợn mắt, toan đánh. Nhưng khi cánh tay còn chưa kịp vung lên, hắn đã phải nhận một cú đấm như trời giáng của hảo hán vào mặt. Rồi trong lúc còn chưa kịp hiểu chuyện gì xẩy ra, hảo hán lại bồi thêm một cú đá vào mạng sườn nữa khiến hắn đổ gục xuống như thân một cây chuối bị phạt ngang.

Gã chủ quán đau điếng, cố lồm cồm bò dậy. Trước bàn dân thiên hạ, bị hạ nhục như thế, hắn lấy làm bẽ mặt lắm. Hắn đưa tay vuốt dòng máu rỉ ra từ miệng, rồi gầm lên:

- Á…à!...Mày lại dám đánh ông à?...

Nói rồi, hắn giật lấy một thanh gỗ dựng trước quán, lao đến vụt tới tấp vào đối thủ. Nhưng đại hán kia đã nhanh mình né tránh. Hắn mất đà vì dùng lực quá mạnh, lạng hẳn người sang một bên. Thuận đà, hảo hán đá mạnh vào tay hắn, thanh gỗ bay ra xa. Đại hán lại sáp vào, đánh cho hắn một chặp tối tăm mặt mũi, không còn biết trời biết đất gì nữa. Gã chủ quán biết sức mình không thể đấu lại, sợ hãi quỳ xuống, chắp tay van lạy:

- Xin hảo hán tha mạng!

- Người mà nhà ngươi cần xin lỗi không phải ta, mà là người kia! – Đại hán dừng tay, trỏ người mù, nói.

Cực chẳng đã, hắn ta đành phải muối mặt lết về phía người mù để van xin:

- Tôi xin lỗi! – Hắn nói, giọng cộc lốc.

Hảo hán dậm chân:

- Như thế chưa được! Phải xin lỗi cho thật thành khẩn vào!

Gã chủ quán nuốt nước bọt, níu lấy áo người mù, năn nỉ:

- Mong anh hãy làm phúc làm đức. Nói với ông ta tha cho tôi đi. Tôi thực lòng xin lỗi anh! Tôi thề là từ nay không bao giờ dám động đến, dù chỉ là một sợi tóc của anh nữa!...

Người mù chớp chớp mắt, rồi mấp máy khuôn miệng nhưng không nói nên lời. Khổ! Mọi việc diễn ra quá nhanh chóng, anh ta còn chưa kịp hoàn hồn, thử hỏi còn biết nói gì bây giờ?

Nhưng hảo hán kia thì vẫn chưa hết tức giận, anh ta lại vung chân đá cho gã chủ quán ngã nhào xuống đất, rồi đánh cho hắn một chặp lăn lộn nữa. Hảo hán vừa vung chân đá, vừa tức tối la lên:

- Đánh cho mày chừa này!...Chừa cái thói ỷ mạnh hiếp yếu đi này!...Chừa này!...

Gã chủ quán lúc này chỉ còn biết vật vã dưới đất, ôm đầu kinh hãi van xin. Nếu cứ tiếp tục đánh nữa thì e có án mạng. Thấy tình thế nguy cấp, thầy Thất Sách vội bước ra, nói:

- Tha cho anh ta đi! Anh ta đã biết lỗi rồi. Xin hảo hán hãy nương tay!

Hảo hán quay ngoắt nhìn sang thầy Thất Sách, tức tối, hỏi:

- Ông là ai mà lại can thiệp vào việc của tôi? Bộ định bênh vực cho kẻ ác hả? 

- Kẻ gieo gió thì ắt phải gặt bão. Ác giả ác báo. Chẳng ai có thể bênh vực được cả. Chỉ vì anh ta đã biết hối cải. Vậy xin hảo hán hãy nể mặt tôi mà tha cho hắn đi! Nếu hảo hán tiếp tục đánh nữa, lỡ xẩy ra án mạng thì từ chỗ anh hùng lại trở thành tội phạm. Tôi làm vậy là vì sự an nguy của cả hai người. Chứ không có ý can thiệp gì cả!...

Hảo hán nói:

- Trên đời này tôi chỉ phục có mỗi hiệp sĩ Thất Sách mà thôi. Nếu là ông ấy đứng ra can thiệp, tôi đây sẽ xin vâng lời ngay!

Thầy thất sách mỉm cười, nói:

- Thế hiệp sĩ Thất Sách ấy là ai vậy?

Hảo hán chắp tay, kính cẩn:

- Hiệp sĩ Thất Sách quê ở xã Yên Phong, là chủ nhân của “Đạo Nhân Thi Quán”. Người ấy hành hiệp trượng nghĩa, yêu chính nghĩa, ghét gian tà. Đó mới là một hiệp sĩ đích thực trên đời, chứ không phải là phường khua môi múa mép, giả danh hiệp sĩ để loè bịp thiên hạ. Đấy! Hiệp sĩ Thất Sách là người như thế đấy. Ông ấy chính là đỉnh cao chói lọi, là vầng nhật nguyệt sáng soi mà tất cả giới giang hồ chúng tôi ai ai cũng phục tùng và ngưỡng vọng cả!

Hai thầy trò Tam Văn đưa mắt nhìn nhau, mỉm cười. Đoạn, thầy Thất Sách lại ôn tồn, hỏi:

- Vậy chứ hiệp sĩ Thất Sách mà anh nói đến có vóc dáng như thế nào?

Hảo hán đáp:

- Hiệp sĩ Thất Sách người cao mảnh khảnh, đầu đội nón lá, chân đi giày vải, tay vác thanh trường côn. Hình tượng đó thật oai hùng, đúng là một biểu tượng của lòng nhân ái và dũng cảm, dám xả thân vì đại nghĩa vậy.

Thầy Thất Sách lại nói:

- Vậy anh hãy nhìn kỹ xem ta đây có giống người đó không?

Hảo hán lùi lại một bước, đưa mắt nhìn kỹ thầy Thất Sách từ đầu đến chân. Rồi như nhận ra điều gì đó, bất giác anh ta há hốc mồm, kinh ngạc:

- Quả…là…là rất giống! Hiệp sĩ…sĩ…Thất Sách!...

- Phải! Ta chính là hiệp sĩ Thất Sách mà anh đang nói đây! – Thầy Thất Sách mỉm cười, nói.

Hảo hán mừng rỡ, sụp lạy:

- Đại ca! Tha tội cho tiểu đệ có mắt mà không nhìn thấy núi Thái Sơn! Xin hãy nhận của tiểu đệ đây một lạy!

Thầy Thất Sách đỡ đại hán dậy, nói:

- Nào, hãy đứng lên! Cùng là hảo hán trong thiên hạ cả, việc gì mà phải khách sáo như thế. Tứ hải giai huynh đệ. Từ nay, cứ hãy coi nhau như huynh đệ một nhà.

Đại hán kia lại quay sang nhìn Tam Văn, hỏi:

- Còn đây có phải là Tam Văn, người đệ tử tài giỏi đã cùng ngài lập bao chiến công hiển hách chăng?

Thầy Thất Sách chìa tay về phía Tam Văn:

- Đặc biệt giới thiệu với anh: Đây chính là Tam Văn, người đồ đệ trung thành và tận tuỵ nhất đời của tôi!

Tam Văn đứng thẳng người, ưỡn ngực, mặt vênh lên đầy tự đắc. Từ khi theo thầy đi chu du thiên hạ đến nay, chưa bao giờ chú thấy mình được vinh dự như thế. Thì ra, cùng với danh tiếng của thầy, tên tuổi chú cũng đã được các anh hùng, hảo hán trong thiên hạ biết đến và ngưỡng mộ từ lâu.

Lúc này hảo hán quay sang, nói với gã chủ quán:

- Nể mặt hiệp sĩ Thất Sách đây. Ta tha mạng cho ngươi! Còn không mau lạy ông ấy đi!

Gã chủ quán lết đến trước mặt thầy Thất Sách, lạy như tế sao:

- Trăm lạy hiệp sĩ! Ngàn lạy hiệp sĩ! Tiểu nhân xin đội ơn cứu mạng của ngài!...

Thầy Thất Sách nói:

- Không có chi! Anh hãy đứng lên đi. Từ nay nhớ là đừng có ỷ mạnh để ức hiếp người yếu thế nữa nhé!

Gã chủ quán vâng dạ liên hồi, rồi trong khi được người nhà dìu trở lại quán, hắn nhăn mặt vì đau và tấp tểnh bước đi như một con thú dữ đang bị trọng thương.

Tam Văn cúi nhặt những đồng tiền bị đá văng vào tô cho đứa bé rồi ngồi xuống, lựa lời an ủi nó. Thấy người hát rong đưa tay quờ quạng như để tìm kiếm, một người tốt bụng đã nhặt lấy cây đàn bị vứt cách đó một đoạn, rồi đưa cho anh ta và nói:

- Đàn của anh đây! Bị đứt một dây. Ngoài ra không can gì cả. Tìm đến thợ nhờ người ta sửa cho rồi còn đi hát để kiếm tiền nuôi con!

Người hát rong mấp máy miệng để cảm ơn, mừng rỡ ôm lấy cây đàn vào lòng như tìm lại được thứ gì đó quý báu nhất đời vậy.

Hảo hán lấy trong túi ra một số tiền, đưa cho người hát rong:

- Tôi chỉ có chừng nấy tiền. Biếu ông để chi tiêu.

Thầy Thất Sách cũng đặt vào tay người hát rong một món tiền và nói:

- Tôi cũng biếu anh một ít tiền. Hãy cầm lấy để mà chi dụng thêm!

- Đa tạ hảo hán!...Đa tạ sư phụ!... Trọn đời, trọn kiếp này cha con tôi sẽ không bao giờ dám quên ơn hai ngài đâu! – Người mù xúc động, lắp bắp. Từ hai hốc mắt sâu hoắm và mờ đục của ông ta rỉ ra mấy giọt nước mắt trong suốt như nước cất lăn dài trên gò má.

- Bây giờ thì hai cha con ông hãy đi đi! Tìm đến một nơi khác mà hát! – Thầy Thất Sách nói.

- Đa tạ ân nhân! Ta đi thôi con!

Người hát rong nói, rồi đưa bàn tay thô ráp cho đứa con gái cầm để dắt đi. Khi hai cha con người mù đã đi khuất, hảo hán quay sang thầy Thất Sách, hớn hở:

- Nào! Bây giờ thì huynh đệ ta cũng đi tìm một quán rượu nào đó để uống mừng gặp mặt đi thôi!

- Được! Chúng ta đi! – Thầy Thất Sách cũng hào sảng đáp lại.

Đi qua mấy dãy phố nữa, hảo hán và hai thầy trò Tam Văn tìm được một ngôi quán rượu ưng ý và cùng ghé vào.

Ba người chọn một cái bàn còn trống ở góc phòng và ngồi xuống. Thầy Thất Sách nhìn quanh, rồi lớn tiếng, gọi:

- Tửu bảo đâu?!

Người phục vụ còn trẻ nhanh chóng có mặt. Anh ta cúi người, lịch sự:

- Quý khách cần dùng gì ạ?

- Có những món gì ngon nhất thì cứ dọn hết ra đây! Chớ có hỏi nhiều lời! – Hảo hán hất cằm, nói.

- Vâng! Có ngay! – Người phục vụ đáp rồi nhanh nhảu quay trở lại quày.

Trong lúc đợi món, thầy Thất Sách hỏi:

- Chẳng hay hiền đệ quê quán ở đâu?

Hảo hán đáp:

- Quê đệ ở miền Cửu Long sông nước!

- Ở đó cảnh trí tươi đẹp. Con người lại hào sảng, tươi vui. Hà cớ gì đệ không ở đó mà lại trôi dạt đến tận chốn xa xôi này làm chi?

- Chẳng dấu gì đại ca! – Đại hán thấp giọng, bắt đầu kể - Từ nhỏ, tiểu đệ đã được gia đình cho đi học võ sư phụ. Lớn lên cũng là người có chút tiếng tăm về võ thuật trong vùng. Đến năm ba mươi tuổi, vì tức giận đánh một lũ côn đồ chuyên bức hại dân lành, đệ lỡ tay làm cho mấy đứa bị thương nặng. Vì sợ tội nên đệ trốn đi lang bạt khắp nơi. Đến đâu thì tìm việc làm kiếm sống qua ngày ở đó. Nhân đó mà cũng gặp gỡ và kết giao hảo hán khắp nơi. Hôm nay đến vùng này thì lại may mắn được gặp đại ca ở đây!...

- Rượu đây! Đồ nhắm đây! – Người phục vụ khệ nệ bê khay đồ ăn lên, cất giọng vang vang.

Tam Văn nhanh nhảu giúp anh ta sắp các đĩa thức ăn xuống bàn một cách đầy ý tứ, cẩn thận. Chú bày biện như đang làm cỗ ở nhà, đâu ra đấy, vừa thuận tiện, vừa nom đẹp mắt dễ ưa.

Hảo hán rót rượu đều khắp lượt, rồi nâng ly lên ngang mày:

- Ly này là để mừng huynh đệ ta gặp mặt. Kính mời đại ca!

Thầy Thất Sách cũng nâng ly:

- Cạn!

Cả ba người cùng ngửa cổ, uống cạn. Đại hán tiếp thức ăn vào bát thầy Thất Sách, rồi nói:

- Giới thiệu với đại ca. Tiểu đệ đây tên Long. Vì nước da đen, lại nhân tiện trên cánh tay có xăm hình một con rồng, nên giang hồ vẫn quen gọi là “Xích Long”!

- Vậy thì từ nay ta sẽ gọi đệ là “Xích Long”! – Thầy Thất Sách nói.

Chuyện được một lúc, Xích Long lại rót rượu đầy hai ly, rồi nâng lên:

- Ly rượu này là để kết nghĩa huynh đệ!

- Được! – Thầy Thất Sách cũng nâng chén rượu lên.

- Cạn! – Hảo hán nói.

- Cạn! – Thầy Thất Sách cũng đáp lại.

Vậy là trước sự chứng kiến của Tam Văn, thầy Thất Sách và hảo hán Xích Long đã kết nghĩa huynh đệ. Sau khi uống cạn chén rượu, Xích Long quỳ xuống, nói:

- Xin đại ca hãy nhận của tiểu đệ một lạy!

- Hiền đệ hãy đứng lên! – Thầy Thất Sách đỡ Xích Long đứng dậy, nói.

Tam Văn giơ ngón tay cái, nói:

- Anh Xích Long và thầy tôi đây, đúng là hảo hán trọng hảo hán, anh hùng biết anh hùng vậy!

Xích Long nghe vậy thì thích chí vỗ đùi, cả cười:

- Anh nói hay quá, đúng quá!

Cả ba người cùng nhìn nhau, cười lớn, ai nấy lòng những đầy sảng khoái.

Hai huynh đệ lại quay ra nói chuyện với nhau rất chi là tâm đắc. Nào là chuyện lưu lạc giang hồ, chuyện nghĩa hiệp, chuyện về những chiến công hiển hách mà họ từng lập được. Câu chuyện tâm sự cứ thế kéo dài mãi, tưởng chừng như không bao giờ kết thúc vậy.

Ngoài việc dùng món, phần lớn thời gian Tam Văn chống cằm ngồi nghe hai người nói chuyện một cách chăm chú. Chú uống ít, chỉ cố gắng làm tốt vai trò của một người tiếp rượu. Hễ ly nào cạn, chú lại nâng bình rượu lên và rót đầy vào như cũ.

Cuối buổi biệc, hai bên bịn rịn chia tay nhau. Thầy Thất Sách nói:

- Tiệc vui nào rồi cũng đến lúc phải tàn. Lẽ ra chúng ta phải nói chuyện những mấy ngày mới thoã. Ngặt nỗi bây giờ ai cũng phải có việc của người nấy. Huynh đệ ta đành phải chia tay nhau ở đây thôi!

Xích Long nói:

- Đại ca nói phải! Bây giờ đệ cũng phải lên đường để tìm nhà một người bà con lâu ngày chưa gặp mặt.

Thầy Thất Sách cầm tay người anh em kết nghĩa, ân cần dặn dò:

- Xích Long hiền đệ! Đệ thấy việc nghĩa mà ra tay sốt sắng như thế là rất tốt. Nhưng tính đệ hơi nóng nảy. Cổ nhân có câu “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Một khi họ đã biết hối lỗi, cải tà quy chính rồi thì cũng nên rộng lượng. Không nên cố chấp!

Xích Long chắp tay:

- Tiểu đệ xin vâng lời dạy của đại ca. Từ nay về sau, hễ có việc gì khó khăn thì đại ca cứ nói với đệ một tiếng. Dù có nước sôi lửa bóng hay khó khăn bao nhiêu đi nữa thì đệ đây cũng chẳng hề quản ngại!

Thầy Thất Sách gật đầu, nói:

- Tạm biệt hiền đệ! Hẹn ngày tái ngộ!

- Hẹn ngày tái ngộ! – Xích Long chắp tay, rơm rớm nhìn theo hai thầy trò Tam Văn cho đến khi bóng họ khuất hẳn phía sau một con phố nhỏ gần đó.

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương XXIV)

 

Vào hang đá, đốt lửa để nhớ về nguồn cội

Rừng sâu đi lạc, ăn tiệc và nhảy múa cùng bộ lạc Sừng Hươu

Sau khi đã thăm viếng Tháp Chàm, thầy Thất Sách quyết định sẽ đi vào rừng sâu để khám phá và tìm hiểu về nguồn cội loài người. Thầy cho rằng, tổ tiên xa xưa của con người chính là loài Vượn, vì vậy không có lý do gì ngày nay ta lại không trở về với núi rừng, nơi mà những bầy người nguyên thuỷ đã từng sinh sống để tìm lại dấu tích xưa.

Sau khi đã mua sắm những vật dụng cần thiết cho chuyến đi dài ngày, hai thầy trò bắt đầu men theo đường mòn và đi sâu vào trong rừng. Rừng sâu âm u, đâu có sẵn đường bằng phẳng để đi, vì vậy mà họ vừa phải tự xác định phương hướng, vừa vạch lá, leo dốc để băng rừng. Cuộc sống trong rừng khó khăn và cũng đầy rẫy những hiểm nguy. Ngoài việc chịu đựng gian khổ, ngày lại ngày, họ còn phải căng mình ra để mà chiến đấu với muỗi, vắt, rắn độc, côn trùng và cả thú dữ nữa.

Ngày thứ hai, họ đến một nơi rậm rạp, cây cối mọc dày như vách ngăn, dây leo thì quấn chằng chịt, che gần hết cả lối đi. Hai thầy trò dừng lại, nhìn quanh, lòng những đầy hoang mang, lo lắng. Trong lúc vượt rừng, Tam Văn đã vài lần trượt chân và va vào đá, khiến cho đầu gối bị trầy xước, rớm máu. Vì vậy mà lúc này vừa đi, chú vừa nhăn nhó vì đau, vì mệt. Cảm thấy kiệt sức và thoái chí, chú nói:

- Núi sâu, rừng thẳm thế này. Chỉ có cây cối, muỗi vắt và côn trùng. Có đi sâu vào nữa thì cũng chỉ chuốc lấy gian khổ và hiểm nguy mà thôi. Có gì ở trong đó đâu mà tìm với kiếm kia chứ. Hay là hai thầy trò ta quay trở lại đi thôi!?...

Thầy Thất Sách quay ngoắt lại, nghiêm giọng, đáp:

- Ta đã nói rồi, Tam Văn! Chúng ta đi vào rừng sâu là để tìm lại dấu vết xưa. Mục đích ấy là vô cùng to lớn và cao cả, chẳng có gì cần phải bàn cãi nữa. Đối với những hiệp sĩ như chúng ta, dù phía trước có là thiên binh vạn mã hay núi đao biển lửa thì cũng phải dũng cảm vượt qua. Huống chi chỉ là việc leo rừng, lội suối. "Bất oán thiên, bất vưu nhân" (Khi gặp trắc trở, không oán trời đất, không trách người khác). Hãy cứ tiếp tục đi đi. Nhà ngươi chớ có bàn lùi nữa!

Bị thầy nói cho một thôi một hồi, Tam Văn bẽ mặt, phụng phịu ngồi bệt xuống một tảng đá. Chú gác chân lên, tỉ mẩn buộc lại dây giày, rồi sau đó lại lấy dầu ra và bắt đầu xoa bóp chỗ đầu gối bị đau hôm trước. Thầy Thất Sách cũng nhân đó bỏ gậy, ngồi xuống nghỉ ngơi một lúc và để nghĩ cách tìm đường đi tiếp.

- Vô duyên vô cớ, tự dưng lại dắt díu nhau vào rừng để trèo đèo lội suối. Đúng là dở người! - Tam Văn bất mãn, nói.

Câu này là chú chỉ lầu bầu trong cổ họng, nào ngờ thầy Thất Sách thính tai nghe được. Vậy là mày tằm dựng ngược, mắt hổ trợn trừng, thầy la lên, giọng the thé đầy tức giận:

- “Làm việc đừng mong dễ thành, việc dễ thành lòng thường kiêu ngạo. Sự nghiệp đừng mong bằng phẳng dễ đi, vì không gặp phải chông gai thì chí nguyện không kiên cường”. Nhà ngươi biết chửa? Muốn thành tựu thì cần phải khổ công rèn luyện. Mà có khổ luyện thì mới thành tài, ngoài ra không có con đường nào khác cả. Thành công không có lối tắt. Chỉ khi ta phải đổ mồ hôi, sôi nước mắt, thậm chí cả máu để nung mình trong lò luyện cuộc đời, phải trãi qua mọi sướng khổ, vinh nhục trên đời thì mới thành nhân được. Nhà ngươi có hiểu không hử?!

Tam Văn rụt đầu, lí nhí:

- Vâng! Con hiểu!…

Để cho học trò từ nay không còn dám thoái chí hay tỏ ra dao động nữa, thầy Thất Sách quyết định làm căng:

- Này, Tam Văn! Nhà ngươi có biết như vậy là đã vi phạm nghiêm trọng “Ngũ Quy” rồi chăng?

 Hẳn là quý độc giả còn nhớ đến lễ kết nạp đệ tử đã được đề cập tại chương 3 ở đầu truyện. Tại đây, Tam Văn đã thề là sẽ tuyệt đối tuân thủ năm quy định dành cho giới hiệp sĩ giang hồ, mà sau này thầy Thất Sách gọi đó là “Ngũ Quy” vậy.

Nghe nhắc đến “Ngũ Quy”, Tam Văn giật nảy mình như phải bỏng:

- Thưa…thưa thầy!...Con nhớ! – Chú lắp bắp, mặt tái như chàm đổ.

- Vậy thì nhà ngươi thử nhắc lại ta nghe nào? – Thầy Thất Sách sửa lại trang phục, ngồi thẳng người lên, nói.

Tam Văn nuốt nước bọt khan, bắt đầu đọc một cách khó nhọc, giống như đứa trẻ khi lên bảng để đọc thuộc lòng:

- Một là phải gan dạ, kiên cường. Hai là không ngại khó, ngại khổ. Ba là phải chiến đấu chống lại mọi cái xấu, cái ác trên đời. Bốn là không được thoái chí, thối lui. Năm là phải hành hiệp trượng nghĩa, cứu khốn phò nguy.

- Vậy là nhà ngươi cũng có dụng tâm. Tốt! Từ nay cứ thế mà thực hiện “Ngũ Quy” cho nghiêm chỉnh và đầy đủ! – Thầy Thất Sách vuốt râu, hài lòng.

Bị ràng buộc bởi những điều luật ấy, dĩ nhiên là Tam Văn không hề thích cái “Ngũ Quy” ấy một chút nào. Đối với chú, nó chẳng khác nào là cái vòng kim cô mà Đường Tam Tạng đã chụp lên đầu Tôn Ngộ Không trên đường đi thỉnh kinh cả. Nhưng khổ nỗi, hồi ấy chú đã trót nghiêm trang thề thốt với tất cả vẻ rưng rưng xúc động rồi nên không thể nào làm khác được. Là một con người chân chính, chú không thể nào phản bội lại những gì mà mình đã thề thốt với tất cả lương tâm và trách nhiệm.

Từ nãy, vì phải leo trèo, mệt bở hơi tai, nên họ không nghe được những tiếng động xung quanh. Nhưng giờ đây, trong lúc nghỉ ngơi, không gian tĩnh lặng, họ bắt đầu nghe thấy những âm thanh róc rách như là tiếng suối chảy.

Thầy Thất Sách lắng tai nghe một lúc, rồi nói:

- Gần đây có một con suối thì phải!

- Con cũng có nghe thấy! – Tam Văn đồng tình.

Với đích đến là dòng suối mát rượi, hai thầy trò phấn khởi quẩy hành lý lên vai, rồi tiếp tục tìm đường để băng rừng. Đi thêm một đoạn nữa, quả nhiên họ bắt gặp một con suối chảy quanh co, uốn lượn. Hai bên bờ suối, cây mọc lúp xúp, hoa Vàng Anh nở vàng óng và bạt ngàn man dã những hoa Lưu Ly, Sơn Trà tím biếc. Hiện ra trước mặt họ lúc này là một khung cảnh vô cùng tráng lệ và đẹp mắt.

Tam Văn thích chí, quên cả mệt nhọc, kêu lên:

- Cả một thảm hoa! Đẹp quá thầy ơi!

Thầy Thất Sách vuốt râu, gật gù:

- Ừ! Đẹp thật! Thiên nhiên thật kỳ diệu. Được ngắm hoa nở nơi nó sinh ra, giữa núi non hùng vĩ như thế này mới thật là kỳ thú. Đó chính là phần thưởng xứng đáng mà thiên nhiên đã dành tặng cho những con người đam mê tìm hiểu và dám khám phá như chúng ta đấy.

- Tiếc là ở nơi núi sâu, rừng thẳm. Hoa nở rồi hoa lại tàn. Chẳng ai biết, chẳng ai hay! – Tam Văn bùi ngùi, nói.

- Hoa đến thì hoa phải nở, chứ chẳng phải vì ai cả. Cũng như những người hiệp sĩ chúng ta, thấy việc nghĩa thì làm, chứ không phải vì danh lợi hay muốn người đời đền ơn, đáp nghĩa. Làm việc nghĩa trong âm thầm, như một bổn phận vốn có, như sinh ra là phải thế. Đó mới chính là vẻ đẹp khiêm nhường nhưng lại vô cùng cao cả vậy.

Bị cảnh đẹp hút hồn, thầy Thất Sách quyết định sẽ  dừng chân cắm trại để nghỉ lại ở đây. Thế là cả hai thầy trò đặt hành lý xuống bãi cỏ và cùng ngồi bệt xuống một cách thích thú. Cỏ mọc dày, xanh và mềm mại như một tấm thảm nhung. Nghỉ ngơi một lúc, họ bắt đầu xuống suối để rửa ráy chân tay cho mát. Nước trong leo lẻo, có thể nhìn thấy tận đáy. Dưới đó, từng đàn cá đang chậm rãi quẫy đuôi bơi lội tung tăng.

Tam Văn thấy suối có nhiều cá, cái máu đánh bắt lại nổi lên. Chú hào hứng:

- Cá nhiều thế này. Lại có buổi trưa thịnh soạn cho thầy trò ta rồi đây!

Nói rồi, chú tháo giày, xắn hai ống quần lên quá đầu gối và bắt đầu lội bì bõm xuống suối. Nước trong nhìn thấy cá, chẳng cần phải đi kiếm hay mò tìm gì cả. Bởi vậy mà chẳng khó khăn gì, chỉ một lúc, Tam Văn đã bắt được năm, sáu con cá rồi ném lên bờ. Mỗi con như vậy, ước cũng nặng khoảng hai đến ba cân.

Sau đó, Tam Văn đi lấy con dao rồi bắt đầu mổ và làm thịt cá ngay bên bờ suối.

Trong khi Tam Văn mang cá xuống suối làm thịt, thầy Thất Sách đi tìm củi khô, nhóm lửa, để chuẩn bị nướng.

Nhìn ngọn lửa cháy bùng bùng, thầy Thất Sách nói:

- Mẹ thiên nhiên đã có sẵn mọi thứ để nuôi sống con người chúng ta. Cá tôm dưới suối, trái cây, muông thú và rau củ trong rừng. Chỉ cần con người chịu khó săn bắt, hái lượm là sẽ có đủ cái ăn mà thôi.

Lửa cháy lớn và táp mạnh theo chiều gió, những cành củi khô bắt đầu nổ lép bép như pháo tép. Mùi thịt cá chín nhừ bốc lên, thơm thơm, nức mũi.

- Trong tất cả các món chế biến từ thịt, có lẽ thịt nướng là thơm ngon và hấp dẫn bậc nhất. Kỳ lạ thay, đó cũng chính là kiểu chế biến đầu tiên do loài người phát minh ra, kể từ khi bầy người nguyên thuỷ biết dùng lửa để nấu chín thức ăn vậy! – Thầy Thất Sách trầm ngâm, nói.

Lớp da bên ngoài của mấy con cá đã cháy sém thành than, mỡ từ những thân cá béo ngậy chảy ra xèo xèo dưới lớp than hồng.

- Vậy là chín rồi đấy! – Thầy Thất Sách hất đầu, nói.

Tam Văn cầm dao, tìm chặt một tàu lá chuối rừng rồi mang về trãi ra giữa bãi cỏ. Mấy con cá được cời ra khỏi đống than nóng rực rồi đặt lên trên lá chuối. Khi lớp da cháy đen được lột ra, để lộ lớp thịt trắng ngần, thơm phức. Thầy Thất Sách mở túi lấy gia vị ra, bỏ vào một cái bát để làm món chấm.

- Đã là món ngon thì không thể thiếu bia được! – Tam Văn nói rồi nhanh nhẹn lôi từ trong túi ra hai lon bia Halida được mua sẵn từ trước.

- Phải đấy! Cũng nên uống một chút để lấy phong vị! – Thầy Thất Sách vui vẻ tán thành.

Vậy là họ đã có một bữa nhậu ngon lành. Khung cảnh cũng thật lãng mạn và có một không hai. Thực là một trãi nghiệm tuyệt vời nơi núi rừng hoang dã. Tam Văn gỡ một miếng thịt cá, bỏ vào miệng ăn thử, rồi tấm tắc khen:

- Chà! Thịt cá suối ngon hơn cá ao nhà nuôi thầy ạ!

- Một phần là cá tự nhiên có nhiều chất dinh dưỡng. Phần nữa là do thịt cá nướng ngon hơn. Ở nhà thì chúng ta chẳng bao giờ chế biến theo cách như thế này cả! – Thầy Thất Sách giải thích.

Hai thầy trò cùng bật nắp, cụng lon. Ngồi ăn cá nướng và uống bia ngay bên bờ suối, thử hỏi còn có thú nào bằng? Cạnh đó, tiếng suối chảy róc rách bên tai như đàn hạc, đàn cầm. Bốn bề là cỏ xanh, hoa nở, gió thổi cành lá rì rào, đung đưa.

- Ở “Đạo Nhân Thi Quán”, chúng ta cũng có vườn cây, ao cá. Nhưng đó chỉ là tiểu cảnh trong một không gian bó hẹp do con người tạo nên. Còn đây mới thực là thiên nhiên rộng lớn, do đất trời hình thành, tạo dựng. Thực là thống khoái và hào sảng biết bao! - Thầy Thất Sách nói và đưa cặp mắt long lanh nhìn khắp lượt khung cảnh tráng lệ xung quanh.

Bình sinh, Tam Văn vốn rất thích những thứ miễn phí. Một bữa thịt cá do thiên nhiên ban tặng thế này thì còn gì tuyệt hơn. Vì thế mà chú cứ thế tha hồ chén đẫy. Thuận đà, chú ăn liền một lúc hai con. Thầy Thất Sách thì chỉ ăn nửa con rồi buông đũa. Phần còn lại Tam Văn xử lý rốt ráo, ngoài xương ra, chú chẳng để thừa một chút gì để gọi là phung phí của trời cả.

Ăn xong, hai thầy trò thu dọn rồi nằm xuống bãi cỏ để nghỉ trưa. Cỏ êm, hoa thơm, gió mát, chưa bao giờ họ cảm thấy được ngủ ngon giấc và thoã thích đến vậy.

Đến chiều, Tam Văn xâu mấy con cá còn lại vào một sợi dây rừng, rồi xách theo. Chú nói:

- Mấy chú cá to này, tối nay thầy trò ta sẽ đốt lửa để nướng. Vừa ăn, vừa thức khuya uống bia. Thật là thú vị biết bao!

- Nhà ngươi nói phải lắm! – Thầy Thất Sách tán thành - Cái đức tính chăm chỉ của anh đã được phát huy và trở nên hữu ích trong những hoàn cảnh như thế này rồi đấy. Giờ đây, tất cả đều phải dựa vào sự thông minh và cần cù của chúng ta. Cần phải phát huy sức mạnh nội tại, khám phá những thứ mà ngày thường, vì những tiện ích vật chất của xã hội văn minh mà người ta lười suy nghĩ, lười sáng tạo và vận động. Nói nôm na cho dễ hiểu, thời gian này chúng ta sẽ sống một cuộc sống tự cung, tự cấp. Đối với những người hiệp sĩ tha hương, cuộc sống như thế cũng coi như là sung túc rồi. Cứ gì phải giàu sang phú quý mới gọi là.

Lần này dù được khen, nhưng Tam Văn vẫn tỏ ra khiêm tốn:

- Chỉ là chút việc mọn, con đã quen làm từ nhỏ rồi. Có gì đáng để gọi là sáng tạo kia chứ?!

Thầy Thất Sách vừa đi vừa nói tiếp:

- Tổ tiên loài người chúng ta xưa kia cũng sống gần gũi với thiên nhiên. Trước khi định cư thành các thôn ấp hay thành phố như ngày nay, họ sống trên núi cao, rừng thẳm, bằng cách săn bắt và hái lượm. Họ sống thành bầy đàn trong các hang đá hoặc lều cỏ. Nay ta cũng mong muốn được trãi nghiệm một cuộc sống như vậy, để tưởng nhớ và hướng về nguồn cội, tổ tiên. Không chỉ riêng chúng ta đâu, ở bên Âu Châu, từ lâu, người ta cũng đã có một phong trào du lịch gọi là “Về nguồn” vậy. Họ đi vào rừng sâu, chinh phục thiên nhiên, trãi ngiệm cuộc sống hoang dã để thấu hiểu tổ tiên, để khám phá khả năng thích nghi và chịu đựng của con người. Xa xưa, với phương tiện thô sơ và hiểu biết hạn hẹp mà tổ tiên ta vẫn còn sống trong rừng được. Vậy hà cớ gì, ngày nay chúng ta ở trong một thời đại văn minh tiến bộ, với đầy đủ phương tiện hiện đại trong tay mà lại không làm được kia chứ?

o0o

Rời khỏi bờ suối một đoạn, thầy Thất Sách nói:

- Chúng ta cần phải tìm cho được một cái hang để trú ẩn trước khi trời tối!

Sau một hồi cất công tìm kiếm, rốt cục hai thầy trò cũng phát hiện ra được một cái hang trên cao, cách mặt đất chừng vài mét. Mừng rỡ, họ nắm tay nhau, dò dẫm, bám vào những bậc đá để leo lên. Cái hang sâu khoảng ba mét, lòng hang rộng rãi và có ngách. Đứng trước cửa hang, có thể nhìn bao quát những sườn núi thoai thoải và một hồ nước trong xanh phía dưới.

- Bây giờ thì trò hãy đi nhặt củi khô mang lên đây. Nhớ là phải nhặt thật nhiều vào nhé! – Thầy Thất Sách phân công.

- Chúng ta chỉ ở trong hang một đêm, nhặt nhiều củi để làm gì hở thầy? – Tam Văn lại thuận miệng hỏi.

- Tam Văn! Nhà ngươi đã quên rồi hay sao? Chúng ta còn phải nướng cá để ăn. Vả lại, lửa phải đốt suốt đêm, vì ánh lửa sẽ xua đuổi muỗi, vắt và côn trùng nữa!

- Chà! Thế mà con lại không nghĩ ra! – Tam Văn vỗ mạnh tay vào trán, nói.

Dĩ nhiên là Tam Văn tỏ ra rất hứng thú với nhiệm vụ đi nhặt củi của mình. Chỉ một loáng sau, lòng hang đã được chất đầy những củi khô. Với số lượng ấy, có thể đốt được đến hai, ba hôm chứ chẳng cứ gì là một đêm.

 Hai thầy trò thu dọn đồ đạc và dọn dẹp lòng hang xong một lúc thì trời cũng vừa tối hẳn. Họ bắt đầu nhóm lửa và chuẩn bị cho bữa tối. Có lửa, lòng hang lạnh lẽo phút chốc trở nên ấm cúng và sáng sủa hẳn lên. Ngọn lửa cháy bập bùng, bóng những viên thạch nhũ nhảy múa trên vách đá, tạo nên đủ hình thù kỳ dị, ma quái.

Để không gian bớt phần hoang vắng, u tịch, hai thầy trò vừa nướng cá vừa trò chuyện để cho có tiếng người. Tam Văn nói:

- Chà! Nướng cá suối ăn qua bữa. Ở thì trong một cái hang đá giữa rừng. Chẳng biết sau này có ai tặng thưởng huân chương cho sự khổ hạnh của hai thầy trò ta không nhỉ?

- “Quân tử ăn không cầu no, ở không cầu an!”. Tam Văn! Ta đã nói với con rồi. Người quân tử tự quản thúc bản thân, chẳng cần phải ai biết, ai hay cả! – Thầy Thất Sách đáp.

Bữa tối có thịnh soạn hơn bữa trưa một chút. Ngoài cá và bia, họ còn có thêm bánh, trái và lương khô do Tam Văn mang theo. Hai người đàn ông, vừa ăn uống, vừa trò chuyện bên ánh lửa bập bùng. Cảnh tượng thật chẳng khác nào những người nguyên thuỷ đang sinh hoạt trong hang đá vậy. Không gian bên ngoài lúc này yên tĩnh đến rợn người. Chẳng có âm thanh gì khác ngoài những tiếng côn trùng kêu và tiếng gió rít qua lòng hang vi vút.

Nhưng những nơi yên tĩnh bao giờ cũng là nơi lý tưởng nhất cho việc hồi tưởng ký ức vậy. Vậy nên, những hồi ức đáng nhớ trước đây cứ ào ạt trở về với Tam Văn như một dòng suối tươi mát, chảy tràn. Chú ngồi chống cằm, tư lự như một triết gia. Nhớ là trước đây đã từng có nhiều người gọi thầy mình là Đông – Ki - Sốt, Tam Văn buộc miệng hỏi:

- Thầy ơi! Cho con hỏi thật nhé: Đông - Ki - Sốt là ai vậy?

Thầy Thất Sách ngồi thẳng người, chậm rãi cời cho ngọn lửa cháy bùng lên, rồi đáp:

- Tam Văn! Chẳng phải là có lần ta đã giải thích cho con rồi hay sao. Đó chính là Đôn-ki-hô-tê (Nguyên văn tiếng Tây Ban Nha là Don Quijote), một hiệp sĩ trứ danh người Tây Ban Nha sống vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17. Người đã lập nên những chiến công hiển hách như: Đánh nhau với cối xay gió, chiến thắng đàn Cừu, tấn công vào một đám ma…

- Vậy cái xứ Tây Ban Nha đó ở đâu hả thầy? – Tam Văn vẫn chưa hết tò mò, hỏi.

- Đó là một đất nước ở phía Nam Âu Châu. Cụ thể là bán đảo lberia.

- À! Ra vậy! – Tam Văn gật gù.

- Ngoài ra, trong giới hiệp sĩ ta còn ngưỡng mộ thêm một người nữa. Đó chính là nhà thám hiểm Christopher Columbus, người đã khám phá ra châu Mỹ, đã đặt chân lên philippine và vô số những hòn đảo khác trên khắp các đại dương.

Christopher Columbus có phải là hiệp sĩ không thầy?

- Ông ấy cũng chính là một hiệp sĩ vĩ đại!

- Nhưng nghề thám hiểm và nghề hiệp sĩ thì có gì liên quan tới nhau kia chứ?

- Sao lại không, Tam Văn! Trong suốt hành trình lênh đênh trên đại dương, đoàn thám hiểm của họ luôn gặp phải vô số những hiểm nguy rình rập. Phải chiến đấu với bọn cướp biển, với quân đội các nước khác, và cả với những bộ lạc không thân thiện với người lạ. Vì vậy mà họ cũng chính là những chiến binh dũng cảm và thiện chiến bậc nhất vậy. Như vậy chẳng phải là hiệp sĩ thì còn gì?

- Vậy thì mới phải! – Tam Văn nói, rồi thuận miệng tợp một ngụm bia. Hơi men khiến cho khuôn mặt chú biêng biêng và cũng đỏ bừng lên như ánh lửa.

- Theo chân đoàn thám hiểm của ông, còn có những nhà truyền giáo, những đại diện của nhà vua. Vì vậy mà đoàn thám hiểm đi đến đâu, tôn giáo được truyền bá tới đó, ngoài ra, quân đội sau đó sẽ tiến hành các cuộc chinh phạt những vùng đất mới mà ông đã khám phá ra. Cũng chính vì thế mà dư luận về ông cũng có những luận điểm trái ngược. Một số cho rằng ông là người có công vẽ ra bản đồ thế giới, khám phá ra những vùng đất mới vô danh. Nhưng cũng có một luồng ý kiến cho rằng, ông chính là sứ giả của những đội quân xâm lược. Dù người ta nghĩ thế nào về ông, thì trong lòng ta, ông vẫn là một hiệp sĩ dũng cảm và vĩ đại. Tam Văn! Con có muốn ta kể cho nghe một câu chuyện thú vị về ông ấy không?

- Thầy kể đi! – Tam Văn háo hức, dục.

- Sau khi Christopher Columbus từ châu Mỹ trở về. Một số người trong triều đình đã ganh tị với công trạng của ông. Họ muốn dùng ngôn từ để làm lu mờ đi những phát kiến vĩ đại ấy, nên đã nói: “Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật. Sớm muộn gì rồi người ta cũng sẽ phát hiện ra châu Mỹ mà thôi. Đó đâu phải là chuyện gì to tát kia chứ?!”. Christopher Columbus không cãi lại, chỉ bình thản nói: “Tôi đố ai trong số các ngài ở đây bỏ được quả trứng vào trong cái chai này?”. Quả trứng thì to, mà cổ chai thì nhỏ, ai cũng lắc đầu chịu không làm được. Đến lúc ấy, Christopher Columbus mới thản nhiên đập vỡ quả trứng rồi bỏ vào trong cái chai. Những người kia lại nói: “Đập vỡ trứng rồi cho vào thì ai mà chẳng làm được?”. Christopher Columbus ôn tồn nói: “Đúng vậy. Thưa các ngài! Nhưng vấn đề ai là người nghĩ ra điều đó đầu tiên!”. Thế đấy, những người tài giỏi và có công lao thường hay bị kẻ xấu ganh ghét. Thầy trò ta cũng vì đã lập được vô số những chiến công hiển hách nên mới bị người ta đố kị. Thế rồi họ tìm cách để giam hãm, quản chế chúng ta tại “Đạo Nhân Thi Quán” một thời gian. Nếu như ta không dùng diệu kế để trốn đi thì chưa biết chừng họ còn quản thúc chúng ta đến bao giờ?

- Hay quá! Ông Christopher Columbus này quả là một người vừa thông minh vừa dũng cảm! – Tam Văn vỗ tay, nói như reo. Nhưng rồi chỉ vài giây sau, chú lại chống cằm, mơ màng - Nếu thầy trò ta mà tuyển dụng quân đội, rồi tiến hành chiến tranh xâm lược, có khi cũng lập ra được một quốc gia mới như ông ấy được đấy. Khi ấy, thầy sẽ làm vua, còn con thì làm tể tướng!

- Thời ấy đã qua lâu lắm rồi. Tam Văn! Bây giờ đường biên giới giữa các quốc gia phần lớn đều đã ổn định. Lại có luật pháp quốc tế bảo vệ và liên hợp quốc giám sát hẳn hoi. Không thể vô cớ mà phát động chiến tranh xâm lược nước khác được đâu. Luật pháp chỉ cho phép một đất nước tiến hành chiến tranh để tự vệ khi bị tấn công mà thôi.

Tuy có chút buồn vì giấc mộng bá vương tan vỡ, nhưng cũng chỉ thoáng chốc là Tam Văn lại quên khuấy đi ngay. Vì với chú, những hư vinh kia dù sao cũng chẳng thể hấp dẫn và ngon bằng cái món bia nhắm với thịt cá nướng thơm lừng, nức mũi này được.

Hình như có tiếng động phát ra từ phía bên ngoài cửa hang. Tiếng khụt khịt như ai đó hỉ mũi, tiếng thì thầm và cả tiếng bước chân dẫm lên cành cây khô nghe răng rắc. Tam Văn lắng tai nghe một cách chăm chú, khuôn mặt như đóng băng vì lo lắng và sợ hãi. Lát sau, chú quờ tay, vớ lấy đèn pin và thanh đoản đao định ra ngoài để đi tuần. Thầy Thất Sách vội ngăn lại, nói:

- Cứ ở yên đấy! Đó chỉ là tiếng thú đi ăn đêm mà thôi!

Tam Văn bỏ vũ khí và ngồi xuống. Tuy vậy, trong lòng chú vẫn cảm thấy lo lắng và bất an. Trong lúc trò chuyện với thầy, thi thoảng chú lại đưa ánh mắt nhìn ra phía ngoài cửa hang tối om với một vẻ tập trung và cảnh giác cao độ.

- Chúng ta đốt lửa thế này, tuy xua đuổi được ruồi muỗi và lũ côn trùng thật đấy, nhưng có thể lại thu hút ánh mắt của những kẻ bất lương ngoài kia chăng? Cửa hang lại chẳng thể đóng, làm sao có thể yên tâm để ngủ? – Tam Văn hỏi với một giọng đầy lo lắng.

Thầy Thất Sách vuốt râu, nói:

- Có khó gì đâu, Tam Văn! Như vậy là nhà ngươi chẳng hiểu gì về quân đội rồi. Ở đó, người ta đều phân công ca trực cả đấy. Bây giờ trò hãy đi ngủ trước đi, ta sẽ gác. Sau đó sẽ đổi phiên cho nhau.

Cả ngày trèo đèo lội suối vất vả, giờ này thêm men bia đã làm cho hai con mắt như díp lại. Vì vậy mà khi nghe nói được đi ngủ trước, Tam Văn mừng quýnh như bắt được của. Chú vội lục túi, lấy ra tấm ga và trãi xuống nền hang, rồi nằm co ro ngay bên đống lửa để ngủ.

Chẳng mấy chốc, tiếng ngáy khò khò của Tam Văn đã vang động khắp lòng hang. Thầy Thất Sách thì vẫn ngồi bên đống lửa, vừa vuốt râu vừa trầm tư suy nghĩ về tổ tiên loài người xưa. Ngọn lửa nhảy múa, bập bùng, khiến cho khuôn mặt thầy khi hiện rõ, lúc lại méo mó, biến dạng như trong một bức tranh lập thể, trừu tượng. Biết đâu cũng chính trong lòng hang này, hàng triệu năm về trước, đã có những bầy người nguyên thuỷ cư trú thì sao?...Thầy tưởng tượng ra cảnh những con người tiền sử đang sinh sống và sinh hoạt tại đây. Họ cũng đốt lửa như thế này để nướng thức ăn, để sưởi ấm và xua đuổi lũ côn trùng, thú dữ…

o0o

Tiếng chim rộn ràng khắp núi rừng báo hiệu một ngày mới bắt đầu. Trời đã sáng rõ, những thân cây cổ thụ rì rào, đung đưa, dường như chúng cũng thức giấc để đón chào bình minh như con người thì phải. Thầy Thất Sách bước ra cửa hang, đưa mắt nhìn xuống phía dưới, rồi chậm rãi vươn vai để hít thở bầu không khí của núi rừng hoang dã.

- Thật là một nơi yên tĩnh, tốt cho sức khoẻ cũng như tâm trí con người. Khí hậu thì trong lành, chỉ có ta với chim chóc và thiên nhiên, cây cỏ mà thôi. Giờ thì ta mới hiểu vì sao, các bậc cao nhân thường tìm lên những ngọn núi cao để mà sống ẩn dật vậy! – Thầy Thất Sách nói.

- Chẳng phải “Tuyết Sơn Cư Sĩ” cũng là một người như thế hay sao?! – Tam Văn tỏ ra hiểu biết, nói.

- Đúng vậy! Ông ấy là người ẩn cư tiêu biểu nhất trong số những người tiêu biểu! – Thầy  Thất Sách khẳng định.

Để tiết kiệm thời gian, hai thầy trò nhanh chóng sửa soạn đồ đạc. Họ làm một cách chuẩn xác và chuyên nghiệp, không cần phải ai nhắc nhở ai. Và rồi, khi mặt trời lên cao độ nửa con sào, họ đã rời cửa hang và tiếp tục hành trình khám phá thiên nhiên.

Bấy giờ thầy trò Tam Văn đã đi sâu, rất sâu vào bên trong rừng rậm. Từ đây, chỉ còn những cánh rừng nguyên sinh, thân cây cổ thụ cao vút, tán rộng che khuất, không thể nhìn thấy mặt trời. Chính vì thế mà họ đã gặp phải khó khăn khi xác định phương hướng để đi. Kể từ lúc này, họ như lạc vào một mê cung chỉ toàn là cây cối, vách đá và những lớp nấm, rêu lầy lội, ẩm thấp.

Tam Văn quỳ xuống, loay hoay gỡ những đám dây leo quấn chặt như đan lưới, rồi luồn tay để gạt những cành lá lùm xùm, cố căng mắt nhìn, hy vọng sẽ nhìn thấy chút ánh sáng le lói phía trước. Chú cẩn thận tránh những cành cây có gai để khỏi bị xây xước, cả thân hình lúc này nom chẳng khác nào một con rắn đang trườn trên thảm thực vật xốp và mềm của rừng nguyên sinh. Và rồi những nỗ lực không biết mệt mỏi của chú đã được đền đáp xứng đáng. Trong một lần vạch lá để tìm đường như thế, chú bất giác nhìn thấy một luồng ánh sáng chói loà hiện ra. Sau khi đã dụi mắt kỹ, chú nhìn thấy phía dưới có một khoảng đất rộng, và một đám người rất đông đang vui chơi, nhảy múa ở đó.

Miệng há hốc vì kinh ngạc, Tam Văn ngoái lại, cất giọng thì thầm:

- Thầy ơi! Lại đây mà xem. Dưới kia có…

- Chuyện gì vậy? – Thầy Thất Sách ngừng tay vạch lá, hỏi.

- Dưới kia có rất nhiều người. Hình như…họ đang…

Thầy Thất Sách cảm thấy lạ, bèn bỏ gậy, tò mò đi lại chỗ Tam Văn xem sao.

- Suỵt! Khẽ thôi, thầy!...

Thầy Thất Sách phải khom người xuống thì mới nhìn qua được cái lỗ thủng mà Tam Văn vừa mới vạch ra. Quả như Tam Văn đã nói, dưới kia có một đám người rất đông, dường như họ đang tổ chức hội hè gì đó thì phải.

- Họ là ai mà lại sống trong rừng sâu thế này thầy nhỉ? – Tam Văn lại nói, giọng thì thầm.

- Đó là một bộ lạc! – Thầy Thất Sách đáp, mắt vẫn không rời mục tiêu quan sát phía dưới.

- Bộ lạc là gì?

- Đó là một hình thức tổ chức xã hội sơ khai của loài người, chủ yếu dựa trên quan hệ huyết thống, chưa phải là nhà nước.

- Thảo nào mà đông ơi là đông! – Tam Văn gãi đầu, vỡ lẽ.

Đang lúc chăm chú theo dõi, chợt hai thầy trò cảm giác như có bàn tay ai đó chạm vào cổ áo mình. Cả hai ngoảnh đầu nhìn lại. Có mấy người cao lớn, lực lưỡng đã đứng sau lưng họ từ lúc nào. Những người đó khắp mình đều có hình xăm, người cầm cung, kẻ cầm giáo đang đứng nhìn họ với một ánh mắt đầy vẻ tức giận. “Xong rồi! Thế là bị quân lính của họ tóm được rồi. Phen này thì lên giàn hoả thiêu để làm lễ tế thần là cái chắc!” – Thầy Thất Sách kinh hãi nghĩ.

Trước vẻ hung dữ của những người lính bộ lạc, cực chẳng đã, hai thầy trò Tam Văn đành phải từ từ giơ tay lên khỏi đầu. Một hành động khuất phục mà cho dù là bất đồng ngôn ngữ hay khác biệt văn hoá thì người ta vẫn có thể nhận ra được.

Những người lính kia thấy hai thầy trò Tam Văn đã đầu hàng vô điều kiện thì cũng cảm thấy yên tâm. Họ quay ra trao đổi những gì với nhau bằng một thứ ngôn ngữ kỳ lạ mà hai thầy trò chưa được nghe thấy bao giờ cả. Lát sau, thấy mấy người lính ấy gật đầu đồng thuận với nhau, rồi có hai người lực lưỡng tiến đến, túm lấy cổ áo hai thầy trò bắt đứng lên, rồi giải đi.

Đoàn người áp giải xuống đến bãi cỏ, rồi thầy trò Tam Văn được dẫn đến trước mặt một người đàn ông to béo ngồi trên chiếc ghế cao nhất. Người ấy đội trên đầu một cái sừng hươu, cổ đeo răng nanh lợn lòi, hai bên tai đều đeo khuyên. Ông ta chính là tù trưởng của bộ lạc này vậy. Người tù trưởng nhìn hai thầy trò Tam Văn một lúc, rồi lại quay sang chăm chú lắng nghe mấy người lính kia trình bày những gì đó. Lát sau, ông ta gật gật đầu rồi đưa tay ra hiệu mời ngồi. Thầy Thất Sách được mấy người lính dẫn đến và chỉ cho một chỗ ngồi cạnh tù trưởng. Còn Tam Văn thì ngồi ở bàn phía dưới, cách đó một đoạn. Trước khi ngồi xuống, thầy Thất Sách cúi rạp người để bày tỏ thái độ biết ơn và cảm kích đối với vị tù trưởng đáng kính. Ông ta đáp lại bằng cách đặt tay lên trái tim rồi mỉm cười, gật đầu. Vậy là tạm thời đã qua cơn nguy hiểm. Họ được đối xử như khách quý, thay vì bị xem như những kẻ thù địch của bộ lạc.

Có một sự tình cờ đã cứu mạng hai thầy trò Tam Văn mà chính họ cũng không hề hay biết. Ấy là nhờ lối trang phục kỳ dị của họ, mà những người thổ dân kia lầm tưởng thầy Thất Sách là một tù trưởng khác đi ngang qua, cho nên đã không nghi ngờ gì cả. Chứ nếu biết họ là người của thế giới văn minh lạc vào đây thì chắc chắn là hai thầy trò đã bị đưa thẳng lên dàn hoả thiêu để tế thần rồi.

Nguyên đây là một bộ lạc hoang dã thờ thần mặt trời. Họ sống trong rừng sâu, xưa nay chưa từng tiếp xúc với thế giới văn minh bên ngoài bao giờ cả. Quần áo họ mặc là vỏ cây và lá chuối. Mỗi khi gặp nhau, họ đặt tay lên chỗ trái tim rồi cúi gập người để chào. Tất cả những người đàn ông trưởng thành thì đều đội trên đầu một cái sừng Hươu thay vì mũ. Cũng bởi đặc điểm kỳ lạ này mà thầy Thất Sách đã gọi họ là “Bộ lạc Sừng Hươu” để cho dễ nhớ. Bộ lạc Sừng Hươu cư ngụ trong một lòng chảo lớn, bốn bề là rừng rậm âm u. Họ sống trong những chiếc lều hình tròn, mái lá, vách đất. Mỗi chiếc lều như thế có một cửa chính hình vòm và một cửa sổ nhỏ hình vuông để thông gió và lấy ánh sáng mặt trời.

Trên bàn tiệc, đồ ăn, thức uống được bày la liệt, ê hề. Bàn tiệc là một tấm gỗ dài được đẽo gọt phẳng phiu bằng rìu và dao rựa. Thức ăn thì toàn là những sâu bọ, ếch, nhái nấu nguyên con. Chỗ thì nướng chín, chỗ thì nấu canh nổi lềnh phềnh nom như đang bơi lượn.

Người tù trưởng mỉm cười, đưa tay mời hai thầy trò dùng món. Tam Văn kinh hãi, cứ nuốt nước bọt khan mà không dám ăn. Chú liếc mắt nhìn sang, thấy thầy Thất Sách vẫn vừa nói cười vừa ăn uống ngon lành như không có chuyện gì xẩy ra cả. Sợ nếu như không ăn thì thất lễ, Tam Văn cũng đành nhắm mắt, nhắm mũi bốc vài con sâu rồi cho vào miệng nhai chóp chép.

Để đáp lễ và cũng để khỏi tiếp tục phải ăn sâu bọ, Tam Văn mở túi lấy bánh, kẹo ra mời tù trưởng và mọi người cùng ăn. Mấy người thổ dân sau khi ăn quà của Tam Văn thì đều gật đầu khen ngon và còn chìa tay xin thêm. Thế là có bao nhiêu vốn liếng, Tam Văn đành phải dốc túi lấy hết ra để tặng cho họ cả. Vì sự an nguy của bản thân, nhiệm vụ quan trọng nhất của chú lúc này là cốt làm sao để cho những chủ nhân của bộ lạc không phật lòng hay tỏ ra tức giận.

Tù trưởng lại vui vẻ mời tất cả mọi người cùng nâng ly. Rượu được đựng trong những cái gáo dừa khô đã khoét rỗng. Đó là một thứ rượu được ngâm ủ và lên men từ một loại quả đã thối rữa, vì vậy mà đặc sánh và có mùi thum thủm. Lúc nâng bát rượu lên, ngay tức khắc Tam Văn đã muốn nôn thốc nôn tháo. Nhưng vì sợ thất lễ, chú ta đành làm ra vẻ bình thản rồi đưa lên miệng tợp một ngụm. Kỳ lạ thay, tuy mùi rượu khó chịu là thế, nhưng chất lượng lại tuyệt hảo và rất tốt cho sức khoẻ. Sau khi uống vào, Tam Văn cảm thấy cơ thể mình hừng hực và tràn đầy sinh lực, cứ như thể là một con mãnh thú đang đến kỳ động dục vậy. Chú cảm giác rằng, ngay lúc này, nếu trước mặt xuất hiện một con báo hay sư tử, chú sẵn sàng xắn tay áo lên để mà chiến đấu tay đôi với chúng mà chẳng hề sợ hãi chút nào sất.

Ở bàn bên, thầy Thất Sách vẫn đang chăm chú nói chuyện với tù trưởng. Thầy nói về ô tô, ti vi, xe đạp của thế giới văn minh ngoài kia, nhưng xem ra họ chẳng hiểu gì hết. Dĩ nhiên là thầy giao tiếp bằng ngôn ngữ ký hiệu, dùng động tác để mô phỏng, chứ họ có hiểu được tiếng của thầy đâu mà nói.

Ngoài bãi, những người tham gia buổi lễ vẫn đang nhảy múa xung quanh đống lửa cháy bập bùng. Dưới một gốc cây to gần đấy, từ nãy vẫn có một cô gái trẻ đứng nhìn thầy Thất Sách với một ánh mắt chăm chú, ngưỡng mộ. Cô gái ấy xinh đẹp như một đoá hoa rừng, eo thắt vỏ cây, ngực che lá chuối được xé tua rua, để lộ hai bầu vú tròn và căng mẩy. Lúc này, cô từ từ tiến về phía thầy Thất Sách đang ngồi, duyên dáng mỉm cười và nắm tay mời thầy ra nhảy. Có một điều mà quý độc giả chưa biết, ấy là ngoài chức danh hiệp sĩ ra, thầy Thất Sách còn là một nhà ngoại giao xuất sắc và không để ai phải cụt hứng bao giờ cả. Vì vậy mà thầy đã đứng lên, vui vẻ theo chân cô gái ra giữa vòng tròn và bắt đầu nhảy múa. Với khả năng quan sát tuyệt vời, chẳng mất nhiều thời gian, thầy đã bắt chước được những động tác của điệu nhảy và nhảy một cách rất lả lướt, điêu luyện. Thành ra, thầy Thất Sách và cô gái ấy đã trở thành một đôi bạn nhảy đẹp nhất, hay nhất của buổi lễ vậy. Hoà vào không khí lễ hội, những người đứng xem vừa vỗ tay vừa hát theo một cách rất chi là vui vẻ, cuồng nhiệt. Ông tù trưởng và các vị quan khách ngồi trên thì khỏi phải nói, họ hài lòng lắm, vì vậy mà vừa uống rượu, họ vừa nói cười và tán thưởng thầy Thất Sách hết sức.

Khi những người ngoài bãi dừng nhảy múa thì cũng là lúc mà buổi lễ kết thúc. Tù trưởng đứng dậy, quàng vào cổ thầy Thất Sách một cái răng nanh Lợn Lòi để làm kỷ niệm. Theo quy định của bộ lạc, chỉ những người được tôn trọng và là khách quý thì mới được tặng răng nanh, cũng giống như ở ngoài xã hội văn minh người ta trao huân chương cho nhau vậy. Để đáp lại, thầy Thất Sách cũng tặng lại cho ông ta cái đèn pin mới mua để đi rừng của mình.

Lúc chia tay, tù trưởng đích thân dẫn theo đông đủ quan khách đi theo để tiễn biệt. Đến một gốc cây to ở cuối bãi, tù trưởng dừng lại và đưa tay lên trái tim, cúi đầu. Những người xung quanh cũng nhất loạt làm theo. Dĩ nhiên rồi, nhập gia tuỳ tục, thầy trò Tam Văn cũng bày tỏ tình cảm bằng cách bắt chước giống y hệt như vậy.

Trên đường trở ra, thầy Thất Sách phấn khởi, nói:

- Thực là một trãi nghiệm có một không hai. Những kẻ ngoài kia dù có nằm mơ cũng không tài nào có được. Họ sẽ không bao giờ được gặp gỡ cũng như trở thành khách quý của bộ lạc Sừng Hươu như thầy trò ta cả. Tam Văn! Nhà ngươi đã thấy chưa? Đó chính là phần thưởng xứng đáng dành cho những người dám dấn thân tìm kiếm phiêu lưu như chúng ta đấy. Mai sau dù có bao giờ, ngươi có thể kể cho con cháu hay bất kỳ ai khác nghe về chuyện này. Chắc chắn là họ sẽ cũng không ngớt lời trầm trồ và thán phục về chuyến phiêu lưu ly kỳ đầy mạo hiểm của thầy trò ta đến bộ lạc Sừng Hươu đâu!

- Tuy là một trãi nghiệm hiếm có thật đấy! Nhưng nếu mà không có được sự đồng hành của thần may mắn, ắt hẳn là thầy trò ta cũng đã bị họ hoả thiêu trên dàn lửa vì nghi là gian tế rồi cũng nên! – Tam Văn bổ sung.

Im lặng một lúc, Tam Văn lại hỏi:

- Thầy ơi!...Con hỏi thật thầy điều này nhé!...

- Trò cứ hỏi!

- Tại sao lúc nãy thầy lại có thể ăn ếch nhái và sâu bọ một cách ngon lành như thể là không có chuyện gì xẩy ra như thế?

- Thú thực là từ thủa cha sinh mẹ đẻ - Thầy Thất Sách đáp – ta cũng chưa ăn ếch nhái, sâu bọ như thế bao giờ cả. Nhưng thử hỏi, nếu một đằng là dàn hoả thiêu, một đằng là ăn những thứ đó thì nhà ngươi sẽ chọn cái gì nào?

- Ấy đấy! Cũng chính vì nghĩ như thầy nên con mới ăn đấy! Nhưng mà con thì ăn ít thôi! – Tam Văn ranh mãnh nói.

Thầy Thất Sách không nói nữa, chỉ im lặng chống gậy bước đi. Dù gì đi nữa, với thầy, cuộc gặp gỡ với tù trưởng bộ lạc Sừng Hươu vừa rồi là một trong những đỉnh cao chói lọi nhất trên bước đường phiêu lưu vạn dặm. Nó khiến thầy cảm động và rưng rưng hạnh phúc, vì đó là một kỷ niệm vô giá và có một không hai trong suốt cuộc đời của thầy vậy.

Vậy là đã sắp ra khỏi rừng sâu. Từ trên cao, họ đã có thể nhìn thấy những xóm làng nhấp nhô, những con đường chạy dài quanh co phía dưới. Đương khi hai thầy trò Tam Văn cắm cúi bước đi, bất chợt phía trước nghe có tiếng thét lớn:

- Hai gã kia! Nếu muốn sống thì hãy để tất cả hành lý lại đây!

Thầy trò Tam Văn hốt hoảng nhìn lên. Thấy trước mặt có ba gã đại hán lực lưỡng và dữ tợn đang đứng chắn ngang đường. Tên đứng giữa cầm kiếm, râu ria xồm xoàm che kín gần hết cả khuôn mặt. Hai tên còn lại, một tên cầm đao, một tên cầm rìu, vẻ mặt tên nào tên nấy đều đằng đằng sát khí.