Thăm Văn Miếu
Viết thư pháp và tôn
vinh văn hoá dân tộc.
Lúc trời tờ mờ sáng, sương bắt đầu rơi nhanh một
lúc. Dù chỉ là hơi sương, nhưng cũng đủ để khiến cho những mái nhà lô xô, những
cành lá trong khu phố ướt đẫm và lấp loáng ánh nước. Mấy ngọn đèn đường cũng đã
tắt từ lâu, cảnh vật mỗi lúc một sáng rõ dần. Dọc theo con ngõ quanh co, những
ngôi nhà và hàng quán hiện ra im lìm, nhấp nhô như một dãy tường thành thời
trung cổ. Đường sá hãy còn vắng tanh, nhưng chỉ ít phút sau, đã có thể nghe thấy
tiếng cửa xếp rít lên từ các ngôi nhà, tiếng người nói và đi lại ngoài đường
lao xao. Những âm thanh sôi động và quen thuộc của một ngày mới.
Từ đầu con ngõ, người bán bánh mỳ trong chiếc
áo bảo hộ lao động cũ sờn bổng đâu xuất hiện như mọc từ dưới đất lên. Anh ta vừa
gò lưng đạp chiếc xe đạp lăn bánh chậm như rùa, vừa nghển cổ cất lên những tiếng
rao vang vang, đều đặn.
- Bánh Mỳ…nóng giòn…đây!...
Vài người đứng trước nhà, vẫy tay, gọi. Anh
ta dừng lại, mở cái thúng chở phía sau, lấy ra những chiếc bánh mì nóng hổi
trao cho khách, rồi lại ngồi lên xe, tiếp tục lăn bánh.
Bên trong ngôi hàng phở đầu ngõ. Cạnh nồi nước
dùng đang bốc khói nghi ngút, bà chủ quán tóc búi cao, miệng đon đả mời chào,
trong khi tay vẫn không ngừng thoăn thoắt thái thịt và chần thêm hành để tra
vào tô cho khách. Cạnh đó là hàng chè chén, khách khứa đã tụ họp xôm tụ. Người
ta ngồi ở đây để uống nước và hút thuốc sau khi đã ăn quà sáng. Quanh chiếc bàn
con con được làm từ một tấm ván ép sơ sài, các cụ già đang ngồi chơi cờ. Tiếng
rít thuốc lào sòng sọc, tiếng quân cờ đập vào nhau chan chát vang vọng khắp cả
con ngõ.
Giờ này, khu trọ cũng đã bắt đầu thức giấc. Những cánh cửa lần
lượt mở toang. Tiếng dắt xe đạp ra khỏi phòng, tiếng gọi nhau đi làm í ới. Vài
người bật bếp ga nấu bữa sáng, mùi mì tôm, mùi cơm rang thơm thơm lan toả khắp
không gian chật hẹp.
Theo thói quen, thầy Thất Sách thức dậy sớm để ngồi uống trà và
nghe radio. Tam Văn thì vẫn còn ngủ trên giường. Thầy Thất Sách trìu mến nhìn
anh cháu nằm co mình ngủ ngon lành và nở một nụ cười đầy độ lượng. Thầy chưa muốn
gọi chú dậy, cả ngày hôm qua chú đã vất vả, vì vậy mà thầy muốn để chú ngủ thêm
một lúc nữa cho lại sức.
Khi thầy Thất Sách mở cửa ra, dãy trọ đã vắng tanh, hầu như mọi
người đều đã đi làm hết. Chỉ còn vài phòng còn mở cửa, đó là những người đi học
hoặc đi làm ca chiều.
Một lúc sau thì Tam Văn cũng thức dậy. Chú đánh răng rửa mặt, rồi
chạy ù ra trước ngõ mua của bà hàng xôi hai gói xôi chả mang về phòng.
Ăn sáng xong, hai thầy trò háo hức chuẩn bị đi tham quan thành
phố. Thầy Thất Sách vẫn mặc bộ trang phục cũ vì thầy còn phải giữ hình tượng.
Nghĩa là chân đi giày vải, bên ngoài khoác áo ba đờ xuy màu cứt ngựa, đầu đội
mũ lá rộng vành, tay chống gậy gỗ Lê. Còn Tam Văn thì diện quần âu áo sơ mi trắng
toát, bộ cánh mà chú cho là điệu đà nhất của mình lúc này.
Chừng 8 giờ sáng, hai thầy trò ra khỏi khu trọ và cùng dắt díu
nhau đi diễu phố. Thầy Thất Sách chống gậy xăm xăm đi trước, học trò Tam Văn
thì lẽo đẽo theo sau. Nhìn thầy bước đi thoăn thoắt, với những sải chân rất
dài, rất nhanh, Tam Văn không khỏi thán phục. Về khoản đi bộ, phải công nhận là
thầy của chú rất khoẻ và dẻo dai, đến nỗi một người trẻ khoẻ như chú mà cũng
không tài nào theo kịp, thường xuyên bị tụt lại phía sau. Thật đúng như câu:
“Đường xa mới biết ngựa hay” vậy.
Dù hai thầy trò không thạo đường lắm, nhưng họ vừa đi vừa hỏi đường,
vậy nên mọi việc vẫn diễn ra xuôi chèo mát mái mà chẳng có gì gọi là ách tắc cả.
Họ đi đến đâu, những ánh mắt tò mò, hiếu kỳ lại dõi theo như thỏi
nam châm hút kim loại đến đấy. Tại một góc phố đông đúc, đám người đang túm tụm
nhìn theo thầy trò Tam Văn, vừa chỉ trỏ, vừa bình phẩm ồn ào.
Một sinh viên nói:
- Hiệp khách hành (Tên một cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp của
Kim Dung đã được chuyển thể thành phim).
Cậu thiếu niên không kìm được, thốt lên:
- Bang chủ Cái Bang kìa!
Anh hoạ sĩ mỉm cười, thâm thuý:
- Tô Khất Nhi (Bang chủ cuối cùng của Cái Bang).
Còn anh hàng phở mập ú thì giơ tay, quả quyết:
- Tôi thì lại thấy ông ta giống một người đang chống gậy đi khất
thực thì đúng hơn!
Phố xá đông vui, cửa nhà biển hiệu san sát, vì vậy mà đường xa
cũng hoá gần. Chỗ nào cũng lạ, cũng thích mắt, mãi nhìn ngắm mà quên hết cả mệt
nhọc. Trong lúc hai thầy trò đang đi, Tam Văn chỉ tay, nói:
- Cái cổng làng này cao lớn ghê!
- Không phải cổng làng. Đó là cửa ô – Thầy Thất Sách chấn chỉnh
– Hà Nội xưa có tất cả năm cửa ô như thế.
Tam Văn tặc lưỡi, tự giải thích theo cách mà chú cho là dễ hiểu
nhất:
- Ờ!...Thì cứ coi Hà Nội cũng như một cái làng đi. Chẳng qua là
cái làng ấy lớn cho nên mới cần đến nhiều cổng như thế. Chứ như ở quê thì mỗi
làng chỉ có mỗi cổng, nhiều nhất cũng hai cái mà thôi.
Chẳng mấy chốc, hồ Hoàn Kiếm đã hiện ra trước mắt họ.
Những đôi tình nhân đang tình tứ khoác tay nhau đi dạo bên bờ hồ,
vừa nhỏ to tâm sự vừa ngắm nhìn sương thu là là bay trên mặt nước. Vài cụ già
miệt mài luyện tập dưỡng sinh, động tác uyển chuyển và nhẹ nhàng như liễu mềm
trước gió. Lại có những người đang ngồi trên ghế đá, ánh mắt lơ đãng nhìn ra mặt
hồ mà quên hết mọi sự ồn ả của phố xá ngoài kia. Ở phía đối diện, toà nhà bưu
điện sừng sững với cái tháp đồng hồ khổng lồ nhô cao trên nóc.
Tam Văn kiễng chân, nheo mắt nhìn cái tháp rùa giữa hồ (mà chú
ta gọi là Miếu) hồi lâu với một thái độ tò mò hết sức. Mãi mà chú vẫn không hiểu
vì sao người ta lại có thể xây được một cái Miếu giữa hồ nước rộng như thế. Sau
đó, chú lại chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại như một nhà kinh tế học đang khảo
sát thị trường, đoạn phán một câu xanh rờn:
- Cái ao này mà nuôi cá thì kinh tế phải biết!
Xấu chàng hổ ai, thầy Thất Sách vội kéo tay ông cháu lại, thấp
giọng:
- Không được gọi là ao, nghe chửa! Đây là hồ hoàn kiếm. Năm
1427, đức thái tổ Lê Lợi, sau khi đánh đuổi quân Minh xâm lược đã lên ngôi vua.
Ông sai quân lính chèo thuyền ra giữa lòng hồ, rồi tự tay mình ném trả gươm báu
cho rùa thần. Với dụng ý rằng, đất nước từ nay sẽ chấm dứt hoạ binh đao. Hồ này
không phải để nuôi cá. Dưới hồ chỉ có rùa thần thôi. Nhớ chưa?
Tam Văn tặc lưỡi:
- Nuôi cá hay nuôi rùa thì cũng thế thôi. Tính con đơn giản, cứ
gọi là ao cho tiện. Gọi hồ làm gì cho phiền nhiễu, rắc rối ra.
Thầy Thất Sách bực mình, gắt:
- Nhà ngươi thật là ương bướng, ngang ngạnh. Hồ là hồ, mà ao là
ao. Giống nhau thế nào được. Hồ lớn hơn ao. Nghe chửa? Dốt gì mà dốt khổ dốt sở.
Thật chẳng hiểu biết gì cả.
- Thì có thấy ai quy định rộng bao nhiêu thì gọi là ao, bao
nhiêu gọi là hồ đâu? – Tam Văn vẫn chưa chịu, lầu bầu.
- Là ngươi ít học cho nên mới nghĩ thế thôi. Chứ một khi ngành địa
lý người ta đã phân chia cách gọi như thế là cũng có dụng ý cả.
Thầy Thất Sách còn nói thêm rằng, cách đây mấy thế kỷ, hồ Hoàn
Kiếm thông ra với sông Hồng. Nhưng giờ đây, dòng phụ lưu đã không còn dấu tích
nữa, thay vào đó là nhà cửa, phố xá đông vui, tấp nập. Nói đến đây, bất giác thầy
ngửa mặt lên trời, cảm thán: “Ôi! Thời gian trôi. Lịch sử biến thiên, con người
cũng khác, cảnh trí cũng khác. Thực là vật đổi sao dời vậy!”.
Từ chỗ chiếc ghế đá bên hồ, có một người cầm máy ảnh tiến lại.
Người ấy mặc áo sặc sỡ, tóc để dài bồng bềnh, nom rất nghệ sĩ.
- Hai người chụp kiểu ảnh kỷ niệm nhé! Đứng ở đây mà chụp cảnh hồ
thì phải nói là tuyệt cú mèo!
Sau vài giây lưỡng lự, thầy Thất Sách đáp:
- Anh chụp cho chúng tôi hai kiểu lấy nhanh!
Người thợ ảnh vui mừng, nhanh nhẹn chiếm lĩnh vị trí thuận lợi để
chuẩn bị tác nghiệp. Nhưng khi thấy Tam Văn cứ đứng đơ ra như tượng, anh ta lại
phải chỉnh tư thế cho chú:
- Anh đứng thế này này…thế!...Tay phải để lên đây…đúng rồi! Tươi
lên một chút thì mới đẹp…thế nhé!...
Đoạn anh ta lùi lại mấy bước và nâng cái máy ảnh lên ngang mặt,
rồi khom người, nheo mắt như đang nhắm bắn.
Tam Văn cứ nhìn đăm đăm vào cái ống kính to đùng của người thợ ảnh
như bị thôi miên, cố giữ vẻ mặt tươi tỉnh nhất có thể. Đối với chú, việc chụp ảnh
thật chẳng khác nào là một cực hình cả. Khổ! Chú có phải là một diễn viên có
tài năng diễn xuất đâu mà cứ bảo cười là cười, mếu là mếu được kia chứ.
Tiếng người thợ ảnh hô vang:
- Tươi lên chút nữa nào! Như thế!…Tập trung nhìn vào ống kính
đây!... Bắt đầu chụp nhé!...Một…hai…ba!...
Một tiếng rụp vang lên, ánh đèn flash loé sáng đến chói mắt.
- Chụp một kiểu ngồi nữa nhé! – Người thợ ảnh nói và chỉ tay về
phía chiếc ghế đá gần đó.
Ở kiểu ảnh này, thầy Thất Sách ngồi, một tay cầm đầu gậy, tay
kia chống cằm nhìn ra mặt hồ đầy suy tư. Tam Văn thì khoanh tay đứng cạnh, kiên
nhẫn như một người đầy tớ trung thành, tận tuỵ.
Chụp xong, người thợ ảnh nói với thầy Thất Sách, lúc này đang đứng
sửa lại trang phục:
- Tôi nói không phải nịnh. Chứ kiểu ảnh này nom bác chẳng khác
nào là một triết gia đang vắt óc tư duy vì hạnh phúc nhân loại cả. Thực là một
bức ảnh lịch sử, ý nghĩa hết chỗ chê!
Thầy Thất Sách hài lòng, hỏi:
- Khi nào thì có ảnh?
Người chụp ảnh nhanh nhảu:
- Hai người cứ dạo chơi ngắm cảnh đi. Tôi chạy ù qua bên kia đường
một lúc. Chỉ mấy phút nữa là sẽ có ảnh thôi!
- Được! Nếu vậy thì chúng tôi sẽ ngồi ở đây đợi để lát nữa anh
khỏi phải mất công tìm! – Thầy Thất Sách tâm lý, nói.
Sau khi đã có ảnh, hai thầy trò rời hồ Hoàn Kiếm, tiếp tục hành
trình tham quan thành phố.
Trước mắt họ hiện ra một toà nhà cao lớn màu vàng, nguy nga
tráng lệ. Bên trên có ba mái vòm, mái vòm lớn nhất ở chính giữa, hai mái vòm nhỏ
hai bên.
Tam Văn ngước nhìn lên, trầm trồ:
- Toà nhà gì mà lớn và đẹp thế thầy nhỉ?
- Đó là nhà hát lớn thành phố. Hay còn gọi là nhà hát opera. Một
kiệt tác kiến trúc tân cổ điển do người Pháp xây dựng.
- Opera là gì hở thầy? – Tam Văn ngơ ngác hỏi. Lần đầu tiên
trong đời chú nghe đến cái từ lạ lẫm ấy.
- À, đó là một loại hình âm nhạc của người châu âu có từ thế kỷ
17.
Rồi thầy chua thêm:
- Gần một trăm năm thuộc địa, người Pháp đã để lại cho nước ta
nhiều giá trị văn hoá, trong đó có các công trình kiến trúc. Các giá trị khác sẽ
nhanh chóng mất đi, riêng giá trị văn hoá thì sẽ trường tồn cùng thời gian.
Đi thêm đoạn nữa, thấy có một con phố đông đúc, hai bên cửa hiệu
bày biện rất hào nhoáng, sang trọng. Hỏi ra mới biết đó là phố tây, chuyên bán
hàng lưu niệm cho khách du lịch. Tò mò, hai thầy trò Tam Văn liền háo hức chen
chân vào để xem. Người ta đi lại, ngắm nghía, mua bán rất tấp nập. Ở đây, có đủ
loại người ở mọi quốc tịch, đặc biệt là người âu châu. Hai thầy trò dừng lại
trước một hàng bán đồ lưu niệm sang trọng. Thầy Thất Sách tay nâng túi vải, mãi
mê ngắm nhìn và tỏ ra vô cùng thích thú. Ngôi hàng sáng trưng ánh đèn màu, lấp
lánh như một sân khấu thu nhỏ. Bên trong trưng bày toàn thứ đẹp và đắt tiền. Những
mô hình tháp rùa, chùa một cột được đúc bằng đồng mạ vàng sáng loáng. Những đồ
gốm, sứ thượng hạng. Những mũ, những áo có in hình các thắng cảnh Việt Nam. Tất
cả được sắp đặt và treo lên một cách ngăn nắp, thẩm mĩ. Người bán hàng còn trẻ,
ăn vận lịch sự và đầu tóc xịt gôm bóng lộn. Anh ta đang trao đổi xì lồ xì là những
gì đó với một ông tây ba lô, mặc quần short, áo phông, để lộ hai cánh tay trần
đầy lông lá.
Nhác thấy thầy Thất Sách lôi thôi lếch thếch, tay chống gậy, gã
bán hàng nhăn mặt khó chịu. Chẳng cần biết phải quấy thế nào, gã lập tức xua
tay, đuổi như đuổi tà:
- Này lão kia! Đi chỗ khác mà ăn xin. Tránh ra cho người ta bán
hàng!
Thầy Thất Sách giận tím mặt, vung gậy lên toan đánh. Thấy thầy
mình hai mắt trợn trừng, mày tằm dựng ngược, Tam Văn vô cùng hốt hoảng. Sợ lại
xẩy ra một trận hỗn chiến như vụ “Giải cứu mĩ nhân đánh bạc” hôm qua nữa thì khốn,
chú vội giữ tay thầy lại, can:
- Thầy ơi! Xin thầy bớt giận! Hắn ta còn trẻ. Thầy chấp gì một kẻ
vô tri. Hắn đã có thái độ “Nhất bên trọng, nhất bên khinh” như thế, sớm muộn gì
khách hàng cũng sẽ tẩy chay cửa hàng của hắn mà thôi. Chúng ta đi!
Thầy Thất Sách chỉ một đầu gậy vào gã bán hàng, trừng mắt, nói:
- Nể lời đệ tử, ta tha cho nghe chửa! Nhà ngươi đã biết câu
“Khách hàng là thượng đế” bao giờ chưa hử? Hãy về mà đọc lại sách bán hàng đi
nhé!
Gã chủ quán thấy thầy Thất Sách dữ dằn như thế thì cũng có ý
kinh sợ, mặt tái xanh tái xám như chàm đổ. Hắn tức tối liếc nhìn thầy trò Tam
Văn lúc này đã bước đi một đoạn khá xa, lẩm bẩm:
- Sớm mai sớm mốt đã có hai gã khùng này từ đâu đến ám. Đến là
xui xẻo. Thôi, biến đi cho ông nhờ!
Đoạn tuyệt với phố tây, đích đến tiếp theo của hai thầy trò Tam
Văn là bảo tàng lịch sử.
- Khi đến một địa phương nào đó, việc đầu tiên và cần thiết nhất
là ghé thăm bảo tàng lịch sử. Vì ở đó sẽ cho ta biết tất cả những gì thuộc về
quá khứ cũng như tinh hoa văn hoá của vùng đất ấy! – Thầy Thất Sách vừa rảo bước
vừa nói.
Lúc trao vé cho họ, người bảo vệ bảo tàng hỏi:
- Hai người đến đây để đóng phim hả?
- Không! Chúng tôi chỉ là khách tham quan thôi! – Thầy Thất Sách
đáp.
Người bảo vệ nhìn theo hai thầy trò Tam Văn, lắc đầu, không hiểu.
Sở dĩ anh ta hỏi vậy, vì vừa mới hôm qua có một đoàn làm phim đến đây để quay
phim tài liệu về thời đại Hùng Vương.
Bên trong bảo tàng, người ta treo đầy những tranh, ảnh lịch sử
khổ lớn. Những tượng, những hiện vật thì được trưng bày trong các tủ kính trong
suốt. Thú nhất là mô hình và sa bàn mô phỏng các trận chiến qua các thời kỳ lịch
sử.
Đi đến đâu, thầy Thất Sách cũng đều giải thích tóm lược cho học
trò. Vì vậy mà chỉ cần nhìn hiện vật, Tam Văn đã có thể hình dung được ý nghĩa
lịch sử ẩn chứa nhiều tầng nhiều lớp trong đó. Thật là một bài học lịch sử quan
trọng và vô cùng bổ ích cho chú.
Cứ như thế, hai thầy trò họ kết thúc chuyến thăm bảo tàng lịch sử
trong một tâm trạng thấm đẫm tinh thần văn hoá dân tộc.
Buổi chiều, hai thầy trò Tam Văn đi thăm Văn Miếu Quốc Tử Giám,
một nơi mà tất cả những bậc thức giả chân chính đều cần phải đến để thấu hiểu nền
văn hiến ngàn năm của cha ông.
Khi vừa nhìn thấy Văn Miếu Môn từ đằng xa, thầy Thất Sách đã trỏ
tay, nói:
- Trường đại học đầu tiên của nước ta kia rồi!
- Trường đại học là thế này hả thầy? – Tam Văn lại hỏi theo thói
quen của chú.
Thầy Thất Sách nhíu mày:
- Gọi như vậy vì ngôi trường đã có cách đây mười thế kỷ. Đó là
nơi học tập của các hoàng tử và hoàng thân quốc thích. Còn trường đại học ngày
nay thì hiện đại và rộng lớn hơn rất nhiều.
Họ đi theo một lối thẳng ghép gạch cổ, hai bên cây cỏ được cắt
xén ngay ngắn để tiến vào bên trong.
Điều khiến Tam Văn cảm thấy thú nhất là nhà bia Văn Miếu. Đó là
một ngôi nhà lợp mái chạy dài, bên trong có những con rùa bằng đá đội trên lưng
những tấm bia có khắc chữ. Trong đời, đây là lần đầu tiên chú nhìn thấy những
hình ảnh kỳ lạ đó.
Tam Văn thì chỉ ngắm chơi, còn thầy Thất Sách thì dụng tâm tìm
hiểu và nghiên cứu một cách thực sự nghiêm túc. Với một vẻ mặt đầy xúc động, thầy
đeo kính vào, cẩn thận sờ tận tay vào những dòng chữ nho khắc trên bia và lẩm
nhẩm đọc. Hình ảnh đó khiến cho nhiều khách tham quan cứ nhầm tưởng thầy là một
nhà văn hoá, hoặc chí ít là một nhà khảo cổ đang miệt mài nghiên cứu lịch sử vậy.
Đến trước hồ văn, thầy Thất Sách đứng ngẩn ra hồi lâu, đoạn nhìn
lên Khuê Văn Các, bồi hồi:
- Ta như nhìn thầy những văn nhân tài tử, áo khăn nho nhã đang đứng
kia, vừa trò chuyện vừa bàn luận thi thư, chữ nghĩa.
Tam Văn cũng nhìn lên. Nhưng chú chỉ thấy một cái khung cửa hình
tròn và những hàng lan can có chạm khắc hoa văn, tịnh không có lấy một bóng người
nào cả.
- Con có thấy có ai trên đó đâu thầy? – Tam Văn ngạc nhiên, hỏi.
Thầy Thất Sách đáp, giọng khinh khỉnh:
- Nhà ngươi nhìn bằng tục nhãn thì thấy thế nào được. Như ta đây
là nhìn bằng tâm tưởng, bằng cả tấm lòng hoài vọng cổ nhân con ạ!
Là người hoài cổ, thầy Thất Sách rất trân trọng và nâng niu quá
khứ. Thầy nói, mà như đang tự nói với chính mình:
- Đã một thời, có đến cả ngàn năm, người ta sống với lý tưởng ấy,
văn hoá ấy. Tư tưởng Khổng, Mạnh đã trở thành niềm ước mong cho các sĩ tử sau mỗi
kỳ thi. Đã trở thành nấc thang danh vọng để họ lập thân, lập nghiệp. Ôi! Đừng
nói một trăm năm, ngay đến cả ngàn năm, đối với lịch sử cũng chỉ là một cái chớp
mắt thôi vậy. Giờ đây tất cả đã qua. Nền văn hoá một thời rực rỡ ấy đã thực sự
lui vào dĩ vãng, chấm dứt vai trò lịch sử rồi. Khiến cho những bậc thức giả như
ta đây không khỏi vấn vương, hoài niệm. Ôi! Thương thay! Tiếc thay!
Rồi trong niềm tiếc thương, bùi ngùi quá khứ, hai thầy trò cùng
đi ra phía cổng. Ngoài cổng có một quày thư pháp rộng rãi. Người phụ trách tuổi
trung niên, đầu đội khăn xếp, mình mặc áo dài đen. Xung quanh có rất nhiều người
đang xúm xít để xem người đó viết thư pháp. Những nét chữ viết ra như phượng
múa, rồng bay. Anh ta đang đóng vai ông đồ để cho chữ du khách.
Thầy Thất Sách lúc này rẽ đám đông, tiến lại gần, nói:
- Thưa ngài! Phiền ngài cho tôi đề thư pháp để tôn vinh văn hoá
dân tộc được chăng?
Người ấy xưa nay chỉ cho chữ du khách, chứ chưa được du khách
cho chữ mình bao giờ cả. Dù sao thì đó cũng chỉ là sự tương tác một chiều. Bây
giờ gặp được đồng đạo, anh ta mừng quýnh như bắt được vàng, vội trãi một tờ giấy
hồng điều ngay ngắn ra bàn, rồi chìa tay, vui vẻ:
- Ôi! Được vậy thì còn gì bằng. Tôi đây vô cùng hân hạnh. Xin mời
ngài!
Thầy Thất Sách cảm khái cầm lấy cây bút lông, vén tay áo, quệt
vào đĩa mực tàu. Động tác thành thạo và điêu luyện như một thư pháp gia. Kế đó,
thầy cẩn thận viết lên giấy mấy chữ thật to: 文学与武术 (Văn thao
Võ lược).
Nhà thư pháp nghiêng đầu ngắm nghía, rồi nói:
- Trong đời, tôi đã gặp nhiều người viết thư pháp, nhưng chưa từng
thấy ai có lối viết lạ và độc đáo như ngài đây. Chẳng theo một trường phái nào,
mà các nét chữ cũng tự do bay nhảy, như những nhánh cây đâm ngang, xoạc dọc vậy.
Thực là như cây cối mùa xuân đang đâm chồi nẩy lộc. Tốt lắm, tự nhiên lắm!
Thầy Thất Sách ưỡn ngực, vuốt râu hãnh diện.
Nhà thư pháp nói tiếp:
- Thưa ngài! Nếu được ngài tặng bức thư pháp này cho quày chúng
tôi làm lưu niệm thì thực là vinh dự lắm. Chúng tôi sẽ trưng bày ở đây để cho
du khách trong và ngoài nước đến đây cùng chiêm ngưỡng.
Thầy Thất Sách đáp:
- Vâng! Tôi đây xin được hiến tặng!
Nhà thư pháp lại khom mình, khúm núm:
- Nếu vậy thì xin ngài hãy ký tên vào góc bên phải này!
Thầy Thất Sách lại cầm bút, ký: 不明智的 (Thất
Sách).
Người kia giơ tờ giấy lên, nói:
- Thưa quý vị! Đây chính là bút tích của thư pháp gia: “Thất
Sách”.
Những người xung quanh cùng vỗ tay, reo hò và tán thưởng nhiệt
liệt.
Thật là vinh dự hết sức, tự hào hết sức. Không khí tại Văn Miếu
Quốc Tử giám chưa bao giờ được vui vẻ, náo nhiệt và tràn đầy ý nghĩa như thế.
Nhìn những dòng chữ nho đen lánh thầy viết trên tấm giấy hồng điều,
Tam Văn không khỏi cảm thấy tự hào và bội phục. Trên đường về, chú hỏi:
- Làm sao mà thầy viết chữ nho tài thế? Những cái chữ ấy loằng
ngoằng, rối rắm, con nhìn vào mà chẳng hiểu gì cả.
Thầy Thất Sách đáp:
- Từ hồi nhỏ, ta đã có cơ duyên được ông nội dạy cho chữ nho, lại
còn may mắn được xem các trước tác của ông để lại. Nhờ vậy mà ta cũng nhận biết
được một số mặt chữ. Cái giống chữ này tượng hình, hễ học được chữ nào là biết
chữ nấy, đã nhớ là như in trong đầu, không thể nào quên được đâu!
- Chữ tượng hình là gì hả thầy? – Tam Văn vẫn không bỏ được thói
quen tò mò, hỏi.
- À! Đại khái là để mô phỏng các sự vật, hiện tượng trong tự
nhiên bằng cách gợi lại hình ảnh cụ thể ấy mà.
Hai ngày ở Hà Nội, hai thầy trò Tam Văn đã thăm thú được hầu hết
những thắng cảnh trọng điểm của thủ đô. Đến ngày thứ ba, thầy Thất Sách lại đưa
học trò đi chơi nhà mấy người quen nữa. Sau đó thì họ quay trở về nhà trọ để trả
phòng, rồi khoác khăn gói lên đường, tiếp tục hành trình phiêu lưu như đã định.