Đi Sà Lan trên sông Hồng
Sau khi rời khỏi nhà trọ, hai thầy trò Tam Văn cùng nhắm hướng hữu
ngạn sông Hồng, rảo bước.
Qua nhiều tuyến phố nhằng nhịt như những ô bàn cờ, sau cùng, họ dừng
lại trước một cái ngã sáu đông đúc. Tại đây, họ vừa phải né mình tránh những
dòng xe cộ đang lao vun vút trên đường, vừa nhanh chóng băng qua bốt hàng Đậu để
đi lên cầu Long Biên. Bốt này vốn là một cái tháp hình tròn được xây bằng đá, bề
mặt lồi lõm, nom rất đẹp mắt. Trông xa giống như một cái đài quan sát, đồng thời
còn đóng vai trò là một lô cốt phòng thủ kiên cố. Bên trên bốt có các ô cửa
hình vòm thông ra các hướng như những lỗ châu mai. Khi xây dựng cách nay khoảng
một thế kỷ, hẳn là người ta cũng đã có dụng ý đó rồi. Vì cái bốt này án ngữ
ngay cửa ngõ cầu Long Biên, kiểm soát toàn bộ lối ra vào quan trọng của thành
phố.
Mấy ngày ở Hà Nội, điều khiến Tam Văn cảm thấy khó khăn nhất và
cũng không kém phần sợ hãi, ấy là những lúc đi bộ sang đường. Lúc này, xe cộ
lao vun vút, chẳng có quy luật gì cả, cứ như là đang sắp đâm thẳng vào người vậy.
Những lúc ấy, chú cứ phải nhắm mắt lại, đánh liều mà bước qua đường, mặc cho số
phận ra sao thì ra. Sau cùng, chú rút ra một kinh nghiệm, ấy là cứ đi thật chậm
rãi, đừng sợ hãi gì cả, cứ để cho xe cộ họ tự tránh mình. Nhưng dù sao, phó mặc
sự an nguy của mình cho những người khác khi đang lái xe với tốc độ cao như thế,
thì cũng không phải cách mà chú cho là tốt lắm.
Đi qua một đoạn đường vòng cua có hàng rào gắn những con tiện
phía dưới, họ đã đặt chân lên cầu Long Biên. Cây cầu giống như một con rồng sắt khổng lồ này được người
Pháp xây dựng trong vòng bốn năm (từ 1899 đến 1902), giúp cho
việc lưu thông qua lại giữa hai bờ trở nên vô cùng thuận tiện và hữu ích. Ban đầu
cầu có tên là Doumer, vốn được đặt theo tên của Toàn quyền Đông Dương lúc bấy
giờ là Poul Doumer. Cầu có tổng chiều dài là 1862 mét. Khách bộ hành, xe đạp,
xe máy, xe ba gác, tàu hoả đều có thể đi qua được cả. Tàu hoả thì chạy trên đường
ray được thiết kế ở giữa, còn người đi bộ và các phương tiện khác thì lưu thông
hai bên.
Đến một chỗ có lan can nhô ra, hai thầy trò dừng lại để nghỉ
ngơi. Tam Văn đặt hành lý xuống, đứng vịn tay vào thành cầu, ngắm nhìn dòng nước
đục ngầu đang không ngừng cuộn chảy phía dưới. Gió thổi
lộng, ràn rạt bên tai như có bão, khiến cho đầu tóc chú xổ tung, dựng đứng như
lông nhím.
Thầy Thất Sách nói với học trò:
- Mọi nền văn minh đều bắt nguồn bên những dòng sông vậy!
Rồi thầy lại cúi nhìn những con sóng phía dưới, trầm ngâm:
- Đồng bằng châu thổ sông Hồng vốn là cái nôi của nền văn minh Đại
Việt ta. Những dòng luôn sông gắn liền với tiến trình lịch sử nhân loại, nuôi
dưỡng các nền văn hóa phát triển rực rỡ. Để rồi cuối cùng có được một xã hội
loài người tiến bộ như ngày hôm nay.
Cách chỗ họ đứng không xa, có một cái cù lao
nhô ra giữa lòng sông. Người dân ở đây vẫn quen gọi là bãi giữa. Mùa nước cạn
thì bãi giữa nổi lên với phù sa màu mỡ, những người nông dân đã trồng trọt các
giống cây nông nghiệp ngắn ngày ở đây. Khung cảnh vì vậy mà thêm phần thơ mộng
bởi ngô, khoai, lạc, đậu và màu xanh mướt của cây trái. Đến mùa mưa lũ thì bãi
giữa lại ngập chìm trong nước, khi ấy thì không còn trồng trọt được gì nữa cả.
Khi dòng nước rút đi, để lại một bãi giữa phù sa màu mỡ, chờ đợi con người gieo
trồng, chăm bón vụ sau. Trên bãi, những cái lán tạm bằng tranh liếp nằm chênh
vênh, xiêu vẹo. Dưới bến, có mấy chiếc thuyền nan đang neo đậu, mỏng mảnh như
những chiếc lá tre đang nổi trôi trên dòng nước. Cảnh tượng ấy tạo nên một sự
tương phản thú vị, một phương thức canh tác xa xưa hiện diện ngay giữa lòng một
thành phố rộng lớn và hiện đại của thời nay.
Dưới lòng sông, những chiếc phà chở cát và hàng hoá nông sản ngược
xuôi qua lại. Đứng từ trên cầu, có thể nhìn thấy những con người đang đi lại nhấp
nhô dưới đó, nom bé nhỏ và ngộ nghĩnh như những con búp bê di động.
Giữa khi ấy thì có tiếng rầm rập như cán thép bổng từ đâu dội lại.
Tam Văn còn chưa kịp hiểu chuyện gì xẩy ra thì đã thấy một đoàn tàu hoả xình xịch
từ đằng xa lao tới. Chưa bao giờ chú thấy tàu hoả chạy gần đến thế, đến nổi chú
có thể nhìn thấy được cả những hành khách đang ngồi lố nhố bên trong. Lần đầu
đi xa, Tam Văn đã được chứng kiến rất nhiều những cái đầu tiên như thế. Đây là
lần đầu tiên chú thấy một cây cầu bằng sắt dài và đẹp như trong phim, lại có cả
đường ray để cho tàu hoả chạy được trên đó nữa.
Một thế kỷ tồn tại, cây cầu đã chứng kiến biết bao buồn vui kiếp
người, cũng như những thăng trầm của vùng đất nơi đây. Bởi vậy mà trong tâm hồn
người Hà Nội, cầu Long Biên có một ý nghĩa lịch sử và văn hóa rất quan trọng,
không thể thay thế.
Qua khỏi cầu Long Biên, Tam Văn hỏi:
- Bây giờ thì chúng ta đi đâu hở thầy?
Thầy Thất Sách không đáp, mà chỉ hỏi:
- Này Tam Văn, trò có biết đạo hồi không?
- Có phải những người đội khăn, mặc áo dài trắng và thường cầu
nguyện trong những ngôi nhà thờ có mái vòm thật lớn không thầy?
Thầy Thất Sách gật gù:
- Phải! Chính thế đấy! – Rồi thầy nói tiếp - Có hơn một tỉ tín đồ
hồi giáo sống ở trên khắp hành tinh. Và trong suốt cuộc đời mình, ít nhất một lần
họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nơi đã khai sinh ra đạo hồi. Chúng ta
cũng vậy, là con dân nước Việt, mỗi một người cũng cần ít nhất một lần trong đời
phải đến viếng thăm đền Hùng.
- Ý thầy muốn nói?...
- Phải! Hai thầy trò ta sẽ hành hương về Phú Thọ, viếng mộ các
vua Hùng.
Tam Văn tỏ ra rất háo hức, nét mặt rạng ngời, vì đây là lần đầu
tiên chú được đi đền Hùng.
- Bây giờ chúng ta sẽ đến bến xe chứ? – Tam Văn lại hỏi.
- Không! Chúng ta sẽ không đi bằng đường bộ, không đi ô tô!
- Vậy thì đi bằng gì?
- Chúng ta sẽ đi phà. Đi đường thuỷ!
- Vì sao lại không đi ô tô hở thầy?
- Vì nếu thế thì tầm thường quá. Ta muốn ra mắt các vua Hùng
theo một cách độc đáo và ấn tượng nhất có thể. Có trãi qua những khó khăn, vất
vả thì mới chứng tỏ được lòng thành, cuộc viếng thăm mới có ý nghĩa trò ạ. Hơn
nữa, đi phà trên sông vừa thi vị, vừa là một trãi nghiệm có một không hai vậy.
Tam Văn à lên một tiếng đầy thú vị. Thật không hổ danh, thầy chú
bao giờ cũng là người nghĩ cao, nghĩ xa hơn chú rất nhiều. Rồi trong cơn mơ
màng vì ảo ảnh, chú hỏi:
- Con xem phim chưởng, thấy có những cao thủ võ lâm có thể khinh
công đi trên mặt nước như đi trên bộ ấy. Như vậy thì cần gì phải thuyền bè nữa
thầy nhỉ?
Được khơi đúng mạch, thầy Thất Sách phấn chấn hẳn lên:
- Đúng là có thể làm như vậy. Nhưng chỉ với khoảng cách ngắn
thôi. Ví như từ bờ bên này sang bờ bên kia chẳng hạn. Chứ không thể khinh công
trên mặt nước suốt cả chặng đường dài hàng trăm cây số như thế này được.
Trao đổi xong, họ lại dắt díu nhau đi dọc theo bờ bắc sông Hồng.
Đến một cái bến, nơi có những đống cát chất cao như núi, thầy Thất Sách dừng lại,
nói:
- Chúng ta sẽ xuống đây để xin quá giang!
Có bốn người phu đang xúc cát đổ lên một chiếc xà lan đỗ ở sát mé
sông. Họ cắm cúi làm việc, cho nên chẳng ai để ý là hai thầy trò Tam Văn đang
tiến lại gần. Có vẻ như công việc cũng sắp hoàn thành, vì cát ở dưới boong đã đầy
ắp, chiếc xà lan cứ dập dềnh lên xuống một cách nặng nhọc như một lời cảnh báo
là trọng tải đã đạt đến mức giới hạn.
Quả vậy, vừa khi ấy thì bốn người kia cũng dừng tay mà không làm
nữa. Họ ném những cái xẻng lên trên thành boong, rồi cùng xoãi chân, ngồi bệt xuống
vạt cỏ gần đấy để nghỉ. Rồi họ lại lấy thuốc lá ra hút và bắt đầu trò chuyện rì
rầm.
- Chào các anh! – Thầy Thất Sách chống gậy bước tới, nói.
Đám người kia ngạc nhiên, quay lại nhìn.
- Phiền cho hỏi, thuyền này xuôi về đâu vậy? – Thầy Thất Sách nói
tiếp.
- Chúng tôi về Phú Thọ! – Một người đáp với thái độ thờ ơ, rồi bật
lửa châm thuốc hút.
Thầy Thất Sách cả mừng:
- Ôi! Quý hoá quá. Thật là ông trời run rủi. Chúng tôi cũng đang
định xin quá giang về Phú Thọ đây!…
Mấy người kia im lặng, họ chỉ tò mò nhìn hai thầy trò Tam Văn từ
đầu đến chân với một thái độ dè dặt mà chẳng có vẻ gì là thân thiện cả.
Sau khi đã trao đổi với nhau những gì không rõ, một gã quay nhìn
thầy Thất Sách, hỏi:
- Hai người làm cái nghề này lâu chưa vậy?
- Nghề gì? – Thầy Thất Sách hỏi lại.
Gã kia tặc lưỡi:
- Thì cái nghề…bị gậy ấy! (Nghề bị gậy, một cách gọi khác của nghề
ăn mày).
Thầy Thất Sách giận dữ, ấn mạnh cây gậy, khiến cho đầu gậy lún
sâu xuống mặt đất mềm đến cỡ vài phân.
Tam Văn vội tiến lên, nói:
- Ấy!...Là các anh hiểu nhầm rồi. Chúng tôi không phải đến để ăn
xin đâu!...
Một gã râu quai nón nhếch mép:
- Không ăn xin thì cũng là đệ tử ruột cái bang chứ chẳng sai!
Một tràng cười khả ố lập tức rộ lên, giọng điệu đầy mỉa mai,
châm chọc. Tam Văn kinh hãi, sợ thầy mình lại nổi trận lôi đình thì khốn. Nhưng
chú đã nhầm, tuy nóng tính, nhưng thầy của chú luôn là một người biết tuỳ cơ ứng
biến, chứ đâu cố chấp, bảo thủ như những phường thất phu.
Mặc dù ý nghĩa hai từ “Đệ tử Cái Bang” và “Nghề bị gậy” chẳng có
gì khác nhau, rõ ràng là họ đã có ý xúc phạm mình. Nhưng vì đại cục, lần này thầy
Thất Sách đã đổi giận làm vui:
- Anh nói phải lắm. Cái Bang chính là bang phái mà tôi đây rất
yêu thích và ngưỡng mộ đấy!...
Đám phu cát kia lại càng ngơ ngác, nhìn nhau mà chẳng hiểu gì cả.
Từ phía dưới triền sông có một người đàn ông đang đi lên. Người ấy
mặc một bộ đồ ka ki đã cũ, dáng người cao lớn lực lưỡng. Thấy Thầy Thất Sách
cùng mấy người phu cát đang tranh cãi ồn ào, anh ta liền cất tiếng oang oang:
- Có chuyện gì vậy?
- Hai người này muốn đi nhờ về Phú Thọ - Một gã mặc áo phông đen
trỏ tay vào hai thầy trò Tam Văn, đáp.
- Đấy, ông muốn gì thì cứ nói với người này. Ông ấy là chủ sà
lan đấy! – Gã râu quai nón nói với thầy Thất Sách.
- Ông đi Phú Thọ có việc gì? – Người mới đến nhìn thầy Thất
Sách, hỏi.
- Chẳng dấu gì anh. Chúng tôi đi viếng đền Hùng. Phiền anh cho
chúng tôi đi nhờ!… Chúng tôi sẽ thanh toán tiền đầy đủ! – Giọng thầy Thất Sách
kéo dài ra, khẩn khoản.
Nhắc đến vua Hùng thì ai mà chẳng vị nể muôn phần, huống chi anh
ta lại là người đất tổ nữa. Vì vậy mà sau vài giây suy nghĩ, người kia đáp:
- Vậy thì được! Nhưng là cho đi nhờ thôi. Chẳng phải tiền nong
gì đâu. Có thêm hai người, xà lan của chúng tôi cũng có bị chìm đâu mà sợ - Anh
ta pha trò. Mọi người ở đấy cùng cười vui vẻ.
- Vậy thì cảm ơn anh lắm! – Thầy Thất Sách mừng quýnh. Rồi thầy
vẫy tay – Tam Văn! Mau mang hành lý lên đi con.
Tam Văn khệ nệ vác cái túi to đùng của mình để đi lên boong tàu.
Cầu tàu tròng trành, khiến chú cứ ngả nghiêng như đang làm xiếc trên dây, suýt
nữa thì rơi tỏm xuống sông.
Trên sà lan lúc này gồm có chủ tàu và bốn người công nhân kia, cộng
với thầy trò Tam Văn nữa, vị chi tất cả là bảy người.
Người chủ tàu bắc chân, rồi bám vào lan can và leo lên buồng
lái. Máy nổ xành xạch, vang động cả một khúc sông. Chiếc sà lan tròng trành rời
khỏi bến.
Hai thầy trò Thất Sách đứng ở đầu mũi, vịn vào thành lan can để ngắm
nhìn sông nước. Những người phu cát thì đã quen cảnh, họ tập trung vào một góc
ngồi đánh bài để giết thời gian, chờ cho sà lan cập bến.
Lúc sau, ngắm cảnh mãi cũng chán, Tam Văn bèn bỏ vào để xem mấy
người kia chơi bài. Ở mũi tàu lúc này chỉ còn mỗi mình thầy Thất Sách đứng thơ
thẩn, sông dài gió lộng, tha hồ mà đắm mình với non nước, trời mây.
Hai bên bờ sông, nhà cửa, phố xá san sát. Xa xa, bãi giữa sông Hồng
nhấp nhô trên sóng nước, xanh rì những bờ bãi, ngô khoai. Hơi nước từ dưới mặt
sông bốc lên thành đám, mờ mờ như sương. Cảnh tượng ấy như ảo ảnh, như thực, như
mơ. Thực là:
Nhác trông sóng lặng cây bày
Bãi xa mơn mởn xanh dày cỏ non
Quê hương khuất bóng hoàng hôn
Trên sông khói sóng cho buồn lòng
ai.
Thấy thầy Thất Sách cứ thơ thẩn trên boong, khi chau mày, lúc lại
trỏ tay mà lẩm nhẩm những gì không rõ, mấy người phu cát thi thoảng lại liếc
nhìn nhau, mỉm cười một cách tùng đảng.
Một gã đánh cằm về phía hiệp sĩ của chúng ta, nói:
- Đố ai đoán được ông ta đang làm gì đấy?
- Chắc là đang làm thơ! – Gã áo phông vuốt ria, tủm tỉm.
- Hay là ông ta đang tìm luồng cá? – Gã râu quai nón tếu.
Một tràng cười hô hố vang lên đầy sảng khoái.
Tam Văn thấy đám người kia coi thường chủ mình thì tỏ ra khó chịu.
Chú cựa mình, nói:
- Là các anh không biết con người thầy tôi đấy thôi. Ông ấy vừa
là thi sĩ, vừa triết gia, lại vừa là một võ sĩ nữa kia đấy – Tam Văn giơ ngón
tay, quả quyết – Một võ sĩ đích thực thật đấy. Chỉ với một cây gậy trong tay,
ông ấy có thể hạ một lúc ba, bốn tên cường địch chỉ trong vòng chớp mắt chứ chẳng
chơi.
Mấy gã kia nghe vậy há hốc mồm vì kinh ngạc. Khi biết thầy Thất
Sách còn là một võ sĩ thì họ lại càng có ý kinh sợ hơn. Từ đấy, thái độ của họ
cũng trở nên dè dặt chứ không dám xấc láo như trước nữa. Họ không nể thi sĩ hay
triết gia, mà chỉ nể cái con người võ sĩ của thầy Thất Sách mà thôi. Những người
có sức mạnh cơ bắp là vậy. Họ không sợ những người có tri thức, mà chỉ sợ những
kẻ mạnh hơn mình.
Nếu như khi ở trên phố tấp nập bao nhiêu, thì bấy giờ khung cảnh
trên sông lại vắng lặng, đìu hiu bấy nhiêu. Thi thoảng mới lại bắt gặp một, vài
chiếc phà hay sà lan trôi ngược chiều. Nhưng khác với sà lan của họ, những chiếc
kia trên boong còn nhẹ, cứ lướt sóng băng băng, thoáng cái đã lùi xa phía sau.
Tàu chạy ra giữa dòng, khung cảnh hai bên bờ chỉ còn là những dải
xanh xanh, lờ mờ, thấp thoáng.
Lúc này, mấy người phu cát đã không còn chơi bài nữa. Vài người
trong số họ nằm lăn ra boong tàu để nghỉ, người khác thì ngồi bó gối nhìn ra
sông nước mịt mù, ánh mắt lơ đãng, xa xăm. Sóng đánh dập dờn, có cảm giác như
đang ngồi trên một chiếc đệm hơi khổng lồ. Tam Văn cảm thấy buồn ngủ, chú bèn
ngồi tựa lưng vào thành tàu, chống cằm, ngủ gà ngủ gật.
Mũi tàu vẫn đạp sóng lướt tới, cần mẫn như một mũi khoan xuyên
vào lòng nước. Thầy Thất Sách vẫn đứng vịn lan can, khi khoẻ thì đứng, lúc mệt
lại ngồi, ánh mắt vẫn không rời khỏi mặt sông với những dòng suy tưởng bất tận.
Sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Phú Thọ có tên gọi là sông Thao, một
cái tên cũng đã đi vào thơ ca của những con người vùng đất này. Đến khi chảy
qua địa phận Hà Nội thì mới gọi là Nhị Hà hoặc Nhĩ Hà. Sông Hồng là cái tên mà
người ta dựa vào màu phù sa đặc trưng của nó để đặt, vì vậy khi gọi lên, ta
nghe được sự dân dã cũng như gần gũi trong đó. Với chiều dài và quang cảnh hùng
vĩ của mình, dòng sông Hồng đã chuyên chở biết bao số phận con người, nuôi dưỡng
những vùng đất và làng mạc mà nó chảy qua. Trước hết là một nền văn minh nông
nghiệp được hình thành và phát triển dọc đôi bờ con sông vĩ đại này.
Từ xa xưa, ở đây người ta đã trồng lúa nước và cây ăn trái, rồi nuôi
tằm, dệt vải. Dọc hai bên bờ sông Hồng, những làng nghề cũng mọc lên san sát,
nào là làng giấy, làng dệt vải, làng hoa, làng gốm sứ…; Khi lượng
sản phẩm mà con người làm ra đã nhiều thì dòng sông lại là nơi chuyên chở, lưu
thông để trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền. Vì thế mà sự giao thương đã
trở nên phát đạt với hình ảnh tấp nập trên bến dưới thuyền, phố xá san sát, phồn
thịnh.
Một quần thể di tích dày đặc ven sông Hồng cũng đủ để cho thấy
chiều dày lịch sử của vùng đất địa linh lâu đời này. Thành Cổ Loa với truyền
thuyết Mỵ Châu – Trọng Thuỷ nổi tiếng, làng cổ Đường Lâm là đất của hai vị vua
Phùng Hưng và Ngô Vương Quyền, Đền thờ Tản
Viên Sơn Thánh ở Ba Vì, đền Hát Môn ở Phú Thọ, đền Dầm, đình Chèm, đền Ghềnh, đền
Rừng, đền Gióng ở Hà Nội…
Trong lúc thầy Thất Sách vẫn còn đang đắm mình trong những địa
danh lịch sử thì chợt nghe có tiếng gọi:
- Này! Hai người về đền Hùng phải không?
Nhìn ra thì thấy người râu quai nón đang hướng về phía thầy, hỏi.
- Phải! – Thầy Thất Sách vội đứng lên, đáp.
- Vậy thì xuống ở đây. Sà Lan sẽ ghé vào bờ. Chúng tôi thì còn
phải chạy tiếp vài chục cây số nữa kia.
Được thầy đánh thức, Tam Văn giật mình tỉnh dậy. Chú giơ tay
nhìn đồng hồ: Sà lan đã khởi hành được bốn tiếng. Đó cũng là khoảng thời gian
mà hai thầy trò chú đã lênh đênh trên sóng nước sông Hồng.
Sà Lan chạy chậm lại, rồi ghé vào bờ. Chủ và khách bịn rịn chia
tay nhau.
- Cảm ơn anh nhiều nhé! Chúng tôi thật chẳng biết lấy gì để đền
ơn! – Thầy Thất Sách cứ nắm lấy bàn tay người chủ Sà Lan mà lắc lắc một cách nồng
nhiệt.
- Tạm biệt!
- Hẹn ngày tái ngộ!
- Lên đến bờ, cứ hỏi đường đến đền Hùng là người ta sẽ chỉ cho!
– Người chủ sà lan nói vọng theo.
Vậy là hai thầy trò họ đã đặt chân lên đất tổ. Từ khi lên bờ, thầy
Thất Sách tỏ ra vô cùng xúc động. Thầy đi đứng chậm rãi, mọi cử chỉ, lời nói đều
e dè, cẩn trọng. Thầy quay sang nói với học trò:
- Vậy là chúng ta đã hành hương về đến đất tổ. Nơi in dấu bóng
dáng tiền nhân, từng tấc đất, từng cành cây ngọn cỏ ở đây đều thấm đẫm sự oai
linh, huyền thoại. Phút giây này thật trọng đại xiết bao, ý nghĩa xiết bao!
Suốt nhiều giờ phải lên đênh sông nước, giờ này lên đất liền,
Tam Văn những muốn vung vẫy tay chân cho thoải mái. Nhưng thấy thầy mình thành
kính như vậy, chú cũng chỉ dám khép nép đi theo mà chẳng dám gây sự ồn ào gì cả.
Đi được chừng cây số, họ bắt gặp một ngôi làng độ vài chục nóc
nhà lớn nhỏ. Nhìn thấy dưới gốc cây Thị sum suê phía trước có một ngôi quán nhỏ,
hai thầy trò bèn dắt nhau vào nghỉ.
Một cụ già mặc bộ đồ nâu đang ngồi bán hàng. Thấy có khách, cụ mở
ấm tích và rót ra hai cốc nước chè nóng.
- Hai bác uống nước đi! Chè mới ủ đấy. Thơm lắm!
Rồi cụ lại ẩy nải chuối mật chín mẩy về phía khách:
- Hai bác ăn chuối nhé!
- Vâng! Cụ cứ để mặc chúng tôi! – Thầy Thất Sách lịch sự đáp.
Chủ quán, một cụ già quắc thước và vẫn còn khoẻ mạnh, da nâu như
màu đồng hun. Thấy hai thầy trò họ là người lạ, cụ hỏi:
- Chẳng hay hai ông khách đi đâu bây giờ?
- Chúng con đi viếng đền Hùng – Tam Văn nhanh miệng đáp.
Cụ già nhấp một ngụm nước, hỏi:
- Có lẽ là khách mới đến đây lần đầu?
- Thưa phải! – Thầy Thất Sách đáp.
Cụ già trầm ngâm một lúc, rồi nói:
- Như thế cũng phải! Hễ là người Việt Nam, chúng ta ai cũng nên
một lần đến viếng mộ các vua Hùng, để anh linh các ngài ấy phù hộ cho!
Sau khi được cụ già chỉ dẫn đường đi cặn kẽ, Tam Văn hỏi:
- Đến ngày giỗ tổ, hẳn là ở đây đông người lắm cụ nhỉ?
Cụ già đáp:
- Hẳn rồi. Giỗ tổ mà. Người cả nước tìm về. Khi ấy thì cả biển
người như sóng cuộn, triều dâng. Đứng từ xa trông lại, trang phục sặc sỡ đủ màu
sắc, dòng người cứ như không bao giờ dứt ấy.
Rồi cụ đọc:
Dù ai đi ngược về xuôi
Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba
Thầy Thất Sách chắp tay, nói:
- Mong rằng anh linh các vua Hùng sẽ phù hộ cho con cháu và đất
nước muôn đời!
Cụ già nói:
- Phải rồi! Các ngài anh linh lắm!
Rồi cụ bắt đầu miên man kể:
- Mỗi năm gần đến ngày giỗ vua, tức là lễ hội đền Hùng ấy, vẫn
thường xẩy ra những hiện tượng lạ như một điềm báo trước. Năm ngoái, ngay ở
khúc sông này, nổi lên một con Giao Long thật lớn. Con Giao Long ấy khắp mình vảy
vàng óng ánh, mắt sáng như sao, trên đầu lại còn có mào đỏ như lửa. Giao Long
quẫy đuôi, phun nước mù trời như đang làm mưa. Những thuyền bè qua lại khi ấy đều
nhìn thấy cả. Cảnh tượng như thế diễn ra trong khoảng vài phút thì con giao
long ấy lặn xuống nước rồi biến mất. Có năm thì lại có những đám mây ngũ sắc hiện
lên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Đến khi người ta làm lễ tế thì mới tan…
Những câu chuyện
huyền hoặc của ông lão đã thu hút sự chú ý đặc biệt của hai thầy trò Tam Văn.
Khiến họ cảm nhận được cái không khí huyền sử, ngay khi vừa mới đặt chân lên miền
đất tổ huyền thoại và linh thiêng.