Thứ Tư, 10 tháng 9, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương IV)

PHẦN II: BẮC CHIẾN

 Đi Thủ Đô

Tối đến, thầy Thất Sách nói với vợ:

- Lát nữa, mình cứ đóng cửa đi ngủ sớm nhé. Tôi sẽ ngủ ở dưới nhà ngang. Có cuốn sách mới mua, vì vậy mà cần phải xem cho hết. Vậy nhé!

Vốn chẳng lạ gì thói đam mê đọc sách của chồng, bà Lan bình thản đáp:

- Mặc kệ những cuốn sách quý báu của ông. Tôi đi nghỉ đây! – Rồi bà luồn tay tháo cái kẹp đầu, xoã tóc đi vào nhà, bắt đầu cẩn thận đóng hai cánh cửa chính lại.

Lúc sau, nhìn qua khe chớp, thấy vợ đã tắt điện đi ngủ, thầy Thất Sách liền lập tức bắt tay vào hành động. Việc đầu tiên là ông cẩn thận xích con chó dữ vào tận góc sân, sau đó thì cầm theo chùm chìa khoá và bắt đầu rón rén đi ra phía cổng. Trong khoảng không sáng tối nhạt nhoà, ông vừa đi vừa nhìn trước ngó sau, âm thầm và cảnh giác như một bóng ma của màn đêm. Ông lần mò, tra được chìa vào ổ và mở khoá, rồi đưa tay đẩy hé cánh cổng ra một chút, chỉ đủ chỗ cho một người lách qua. Sở dĩ hiệp sĩ nhà ta cố tình làm như vậy, vì sáng mai đây, Tam Văn sẽ đến sớm để đón thầy như họ đã ước hẹn với nhau từ trước.

Xuôi theo chiều gió, tiếng loa chiếu video từ phía sân kho vọng vào léo nhéo, lúc nhặt, lúc khoan. Ngoài đường, có tiếng bước chân rầm rập của những người đi xem phim ngang qua. Đám người vừa đi vừa bàn tán sôi nổi, âm thanh ồn ào, nhốn nháo cứ như vỡ chợ.

Sau khi trở lại phòng, việc đầu tiên là thầy Thất Sách tự pha cho mình một ấm trà ngon để thưởng thức. Trong lúc chờ trà đượm, ông ngồi chống cằm suy nghĩ, nét mặt đầy vẻ ưu tư. Dưới ánh đèn vàng vọt, chỗ sơn căn nhíu lại thành một vệt dài và thẳng tắp như một nét vẽ bằng mực tàu. Trước mắt ông là cuốn kinh dịch, tấm bản đồ và cuốn sổ được để gọn gàng nơi góc bàn. Chiếc radio thì vẫn è è phát ra những chương trình buổi tối quen thuộc. Ông đang nghĩ về chuyến đi ngày mai, về những dự cảm đang đón đợi hai thầy trò ông trên bước đường phiêu lưu phía trước. Qua đêm nay, ông sẽ bắt đầu một cuộc sống mới, không gia đình, không nhà cửa, chỉ có núi non, sông hồ và những con đường thiên lý làm bạn đồng hành. Khi ấy, tất cả sự sinh tồn đều phải dựa vào trí tuệ linh mẫn, cũng như lòng dũng cảm và hai cánh tay dũng mãnh vô song của người hiệp sĩ mà thôi. Một chuyến đi không đích đến, một hành trình đầy gian nan, khổ ải mà người ta không thể nào sắp đặt hay định lượng từ trước.

Thầy Thất Sách bắt đầu khoan thai rót trà. Ông nâng chén, đưa lên mũi hít hà cái hương vị ngòn ngọt, thơm thơm rồi nhấp một ngụm nhỏ. Là người sành thưởng trà, bao giờ ông cũng để tâm cảm nhận đủ ba thứ: Sắc, vị, ý, như một nghi lễ trà đạo. Sắc ở đây là màu sắc, vị là hương vị, còn ý chính là ý niệm. Trong vườn nhà thầy có mấy bụi hoa nhài nở hoa trắng muốt. Vào những sáng tinh sương, khi chim chóc trên cành còn líu lo bài ca đón chào ngày mới thì thầy đã đi ra vườn, chọn hái những bông hoa nở rộ nhất, thơm hương nhất, rồi mang vào bỏ trong hộp trà để ướp. Mấy hôm sau, khi mở hộp ra, những bông hoa đã khô và chuyển sang màu nâu nhạt, mùi hương nhài toả ra ngan ngát, ngất ngây. Thầy Thất Sách rất thích uống loại trà ướp hương nhài này, cũng như dùng nó để tiếp đãi khách quý, những người yêu trà và biết thưởng trà như ông.

Như một thói quen, mỗi khi gặp phải chuyện khó khăn không thể quyết định, thầy Thất Sách đều tự tay bói một quẻ dịch, coi đó như là kim chỉ nam và là người dẫn đường sáng suốt của mình. Giờ đây, trong thời khắc quyết định này, điều đó càng trở nên quan trọng và cần thiết với thầy hơn bao giờ hết.

Thầy mở ngăn kéo bàn, lấy ra ba đồng xu cổ, nhắm mắt lầm rầm khấn rồi bắt đầu gieo quẻ. Kết quả thu được quẻ “Thiên hoả đồng nhân”. Thầy Thất Sách vui mừng giơ tay lên trán, kêu:

- “Đồng nhân dã. Đồng tâm dã”. Quẻ tốt!... Đại cát! Đại cát!...

Từ phía cánh đồng làng, một làn gió thổi vào và luồn qua khe cửa mát rượi. Giữa không gian thanh vắng, tiếng côn trùng trong vườn kêu rỉ rả như ru. Vài tiếng sấm ì ùng phía trời xa vọng lại, nghe như tiếng đại bác kêu đêm. Mặc cho gió thổi, mặc cho thời tiết ngoài kia thế nào, tại đây, trong căn phòng nhỏ này, vị hảo hán của chúng ta vẫn còn đang mãi mê, cắm cúi lên ý tưởng cho chuyến phiêu lưu vĩ đại của mình vào ngày mai đến nỗi quên hết mọi sự trên đời.

Lúc này, thầy Thất Sách lại cẩn thận bỏ bốn bảo bối là sách kinh dịch, tấm bản đồ, cuốn sổ và đài radio vào cái túi vải nhẹ của mình rồi treo sẵn lên móc. Sáng mai, lúc khởi hành, thầy chỉ việc khoác nó lên vai là xong, để khỏi phải mất nhiều thời gian. Rồi thầy lại ngồi yên lặng, chống cằm mà ngắm nhìn chúng với một vẻ bồi hồi, trầm tư. Những vật quen thuộc ấy, rồi đây sẽ theo thầy trên suốt dặm đường dài. Cùng với Tam Văn, chúng sẽ trở thành những trợ thủ đắc lực giúp thầy vượt qua mọi thử thách và gian lao trên bước đường kiến công lập nghiệp.

Đến đây, hẳn quý độc giả đã nhận ra rằng, nhân vật của chúng ta - Thầy Thất Sách - chính là một con người văn võ toàn tài. Văn thì trên thông thiên văn, dưới tường địa lý, kiến thức kim cổ đông tây đều hiểu rõ trong lòng bàn tay, có thể đảm đương chức vụ tể tướng. Võ thì dũng mãnh siêu quần, bát ban võ nghệ đều thuộc làu cả, đặc biệt là sở trường sử dụng trường côn thiên hạ vô địch. Nếu theo nghiệp binh đao, chắc hẳn thầy sẽ được nhà vua phong cho chức bình tây đại nguyên soái, cầm đầu quân đội để chinh phạt và trấn giữ biên thuỳ. Thâu tóm gồm cả hai ban văn võ như thế, trong lịch sử chỉ có một người có thể so sánh nổi với thầy, ấy chính là Khổng Minh Thừa Tướng thời Tam Quốc bên Tàu. Như đã nói, vì là một người sinh bất phùng thời, thầy Thất Sách chỉ có thể làm hiệp sĩ mà thôi, nhưng đó là một hiệp sĩ vĩ đại, hiệp sĩ của mọi hiệp sĩ vậy.

Sắp xếp mọi thứ xong xuôi, thầy Thất Sách mới yên tâm lên giường đi nghỉ. Ông không đặt báo thức, vì sợ đánh động bà vợ ở nhà trên. Vì vậy mà trong lúc ngủ, ông vẫn thấp thỏm vì sợ quên giờ. Nhưng ông vẫn còn một cái đồng hồ báo thức dự phòng nữa, ấy là Tam Văn, người đệ tử trung thành và không bao giờ quên lời chủ dặn. Sáng mai chú sẽ đến gọi chủ vào lúc 5 giờ sáng.

Mãi đến gần sáng thầy Thất Sách mới chợp mắt được một lúc nhưng lại gặp một giấc mơ kỳ lạ. Trong mơ, ông thấy hai thầy trò mình công thành danh toại, ca khúc khải hoàn. Họ đã lập được nhiều chiến công hiển hách và vang danh thiên hạ. Lúc trở về, họ được dân làng chào đón và công kênh trên vai như những vị anh hùng huyền thoại. Tiếng reo hò vang dội khiến ông giật mình tỉnh dậy. Vốn là người duy tâm, nhiều khi, thầy Thất Sách vẫn tin rằng, những giấc mơ chính là hình ảnh của tiền kiếp gợi lại trong tâm trí con người. Ông cho rằng, ở một tiền kiếp nào đó, mình chính là một võ tướng nổi danh từng lập được vô số những chiến công hiển hách.

Từ giây phút ấy, ông không chợp mắt thêm được chút nào nữa, chỉ nằm thấp thỏm và lắng tai nghe ngóng, có ý đợi học trò đến đón.

Đến gần sáng, có tiếng gõ cửa nhè nhẹ, cách quãng ba tiếng đều nhau như ám hiệu họ đã thoả thuận từ trước. Như một chiếc lò xo đã bị nén căng, thầy Thất Sách bật ngay dậy và nhanh tay lần tìm chốt cửa, rồi nhẹ nhàng kéo nó ra. Thầy không bật điện vì sợ gây sự chú ý xung quanh. Cửa mở, Tam Văn đứng đó, mang theo làn hơi sương lạnh giá, sừng sững như một bức tượng đồng. Vai chú khoác cái túi lớn căng phồng, tay đeo đồng hồ Seiko có dạ quang sáng loáng, mũ lưỡi trai ngay ngắn trên đầu. Tất cả đều cho thấy, chú đã rất sẵn sàng và chỉn chu cho chuyến khởi hành hôm nay.

Như một chiến binh trước giờ xung trận, thầy Thất Sách làm mọi việc một cách mau lẹ và chuẩn xác đến mức kinh ngạc. Trong bóng tối lờ mờ, thầy lồng đôi giày vào chân, khoác chéo cái túi vải lên vai, chụp cái mũ lá rộng vành đội lên đầu, rồi tiện tay vớ luôn cây gậy dựng ngay đầu giường. Quý vị có tin không, tất cả những việc ấy chỉ diễn ra trong vòng có ba giây đồng hồ mà thôi, thật là một kỷ lục vô tiền khoáng hậu vậy.

Vẻ mặt đầy căng thẳng, Tam Văn liếc nhìn đồng hồ: Đúng 5 giờ sáng. Chú cất giọng thì thầm:

- Đã đến giờ rồi. Thầy trò ta lên đường thôi!

- Suỵt! Khẽ chứ! – Thầy Thất Sách khẽ nhắc và đánh mắt lên nhà trên. Căn nhà chìm trong bóng tối im lìm. Giờ này bà Lan vẫn còn đang ngủ say.

Thấy chủ thức dậy, chú chó vàng ngoáy tít đuôi mừng rỡ. Cái mũi khịt khịt liên hồi, và vì thể hiện tình cảm một cách thái quá, những sợi xích trên cổ nó cứ va vào nhau leng keng như tiếng nhạc ngựa rung. Thầy Thất Sách cúi xuống, vuốt đầu chú chó yêu quý và thì thầm với nó câu gì đó như một lời tạm biệt, rồi ông xốc cái túi trên vai, chống gậy xăm xăm bước theo anh đầy tớ. Ra đến cổng, thầy Thất Sách ngoái lại nhìn lần cuối cái nóc nhà mái nhọn nhô cao, cánh cửa sổ màu xanh lơ đầu hồi đóng kín, những tán cây um tùm trong vườn nhà…; “Đạo Nhân Thi Quán” vẫn còn đang ngái ngủ, cảnh vật chìm đắm và bồng bềnh trong sương. Rồi ông quay đầu, chống gậy bước đi, bàn chân dẫm lên lớp cỏ xanh rì, lành lạnh vì ướt đẫm sương mai. Trong ánh sáng lờ mờ của buổi sáng tinh mơ, hai cái bóng, một già một trẻ, một béo, một gầy tấp tểnh bước đi cạnh nhau trên con đường quê. Hôm ấy nhằm ngày 23 tháng 9 năm 1994 tây lịch, tức là chỉ còn hơn 5 năm nữa sẽ bước sang thiên niên kỉ thứ ba của đời sống nhân loại. 

Thực là:

“Đài cao suốt chín tầng

Khởi sự nhúm đất nhỏ

Đi xa được ngàn dặm

Khởi đầu một bước chân”.

o0o

Khoảng 6 giờ sáng, bà Lan thức dậy rồi lục tục đi xuống bếp để chuẩn bị nấu bữa sáng. Đó vốn là công việc nội trợ quen thuộc mà một người phụ nữ tần tảo như bà thường làm, trừ những khi ốm đau bất khả kháng. Bà duy trì thói quen này cốt là để rèn cho đức ông chồng lười ăn thành nếp. Vì bà lo cho sức khoẻ của ông, một con người vốn đã gầy gò ốm yếu, lại còn hay lười ăn bỏ bữa vì thú đam mê đọc sách xưa nay.

Bà bật điện, bắc nồi nước lên bếp ga rồi bắt đầu thu dọn luôn tay. Khi nước sôi, bà cho vào nồi ít thịt băm, hai quả trứng gà rồi ngồi xuống ghế chờ một lúc. Khi mùi thịt chín đã thơm thơm, bà cho thêm miến, gia vị, một ít hành hoa thái nhỏ cùng rau thơm vào. Vài phút sau, bà tắt bếp và đậy vung lại rồi tất tả đi gọi chồng.

Xuống đến nhà ngang, bà ghé sát vào cánh cửa, gọi:

- Bữa sáng đã nấu xong. Dậy ăn sáng ông nó ơi!

Nhưng không có tiếng đáp lại, bên trong vẫn lặng ngắt như tờ. Mọi hôm, chừng này ông ấy đã thức dậy mở cửa và đi bách bộ ngoài sân rồi kia mà. Sao hôm nay lại trễ thế không biết. Hay là tối qua lại thức khuya để đọc tiểu thuyết kiếm hiệp?  Mấy cuốn sách kia chẳng biết có gì mà hấp dẫn ông ấy thế kia chứ. Thật là khốn khổ, tai hại. Bà vừa nghĩ vừa nắc nỏm trong lòng như thế. Lúc sau, vẫn chưa nghe thấy tiếng dép lẹt xẹt hay tiếng động gì trong phòng, bà lại gõ cửa và gọi thêm lần nữa:

- Ông nó đã dậy chưa? Nhanh lên nào! Bữa sáng sắp nguội hết rồi đấy!

Nhưng vẫn không thấy ông thưa. Linh cảm có chuyện chẳng lành, bà nắm lấy cánh cửa mà lay. Cửa không đóng, bà vội đẩy mạnh cửa và bước vào bên trong. Quái lạ! Phòng trống không, chẳng thấy ai cả, cứ như là ông ấy đã bốc hơi khỏi mặt đất rồi vậy.

Sau khi hầu như đã lật tung khắp căn phòng mà vẫn không thấy chồng đâu, bà Lan hốt hoảng chạy ù sang nhà hàng xóm. Ông Thái mặc một bộ đồ pijama, đang đứng tập thể dục trước sân.

- Ông nhà tôi có sang bên đó không ông Thái ơi? – Bà Lan dừng lại dưới gốc sung trước cổng, hỏi vọng vào.

- Tôi vừa mới thức dậy. Chưa thấy bác ấy sang đây! – Ông hàng xóm ngáp dài, đáp.

- Lạ nhỉ! Mới sớm thế mà ông ấy đã đi đâu được nhỉ?

- Chắc là bác ấy đi đâu quanh xóm, lát nữa sẽ về thôi! – Ông Thái động viên, rồi lại vươn vai làm động tác hít thở đều.

- Vậy chào bác nhé. Hy vọng là vậy! - Bà Lan nói, rồi lại hớt hải đi đến nhà bác trưởng tộc. Bà biết, ngày thường, hễ có việc gì quan trọng, chồng bà cũng thường hay đến đây để bàn bạc.

Lòng đầy lo lắng, bà Lan bước thấp bước cao, đi mà cứ như chạy. Đã vài lần, bà vấp phải đám đất đá lổn nhổn trên đường, suýt ngã, trống ngực thì cứ đập thình thình như trống trận.

- Bác Lâm ơi! Bác có thấy nhà tôi sang đây không? – Bà lại hỏi ngay khi vừa bước chân đến cổng.

Bác trưởng tộc đang ngồi uống trà trong nhà, đáp vọng ra:

- Bà Lan đấy hử? Vào nhà ngồi chơi đã nào. Ông ấy đi đâu à? Có chuyện gì hãy vào đây nói tôi nghe. Việc gì mà phải hốt hoảng như thế!

Bà Lan đi vào, le te ngồi xuống ghế sa lông, mặt tái xanh tái xám vì mệt và lo. Rồi bà bắt đầu kể lể sự tình, vừa nói vừa đưa tay lau hai con mắt đã đỏ hoe.

Nhận thức được tầm nghiêm trọng của vấn đề, ông trưởng tộc ngồi lặng người suy nghĩ. Lát sau, ông lựa lời, nói:

- Bây giờ thì bà hãy cứ về nhà đi. Tôi nghĩ là ông ấy đi đâu có việc mà không muốn đánh thức bà đấy thôi. Nhưng từ giờ cho đến trưa, nếu vẫn không có tin tức gì, tôi hứa là sẽ đi tìm ông ấy dùm bà! 

- Vâng! Vậy thì trăm sự nhờ bác! – Bà Lan hỉ mũi, đáp, trong bụng đã tạm yên vài phần.

Bà Huệ - vợ bác trưởng tộc -  bê trên tay một rổ bát đĩa đi qua. Thấy bà Lan, bà dừng lại, dặn:

- Bà sang chơi đấy à? Lát nữa bà đi chợ thì ghé qua gọi tôi đi cùng cho vui nhé!

- Vâng!...Vâng! Tôi sẽ qua gọi! – Bà Lan đáp cho qua chuyện. Chứ đang nước sôi lửa bỏng thế này, còn bụng dạ nào mà nghĩ đến chợ với búa nữa.

Ra về với tâm trạng đầy lo lắng, bất an, bà Lan bụng bảo dạ: “Lạ thật, con người chứ có phải cái kim đâu mà tự dưng biến mất không một dấu vết như thế kia chứ?”.

Về đến nhà, vì không đành lòng, bà đã bước vào phòng với hy vọng xem xét lại một lần nữa, hòng có tìm thấy dấu vết gì của ông chăng. Lần này, bà đưa mắt nhìn kĩ khắp căn phòng, soi xét từng ngóc ngách, cẩn thận và tỉ mỉ như một điều tra viên đang tiến hành điều tra vụ án. Mọi thứ vẫn ngăn nắp, gọn gàng mà không có xáo trộn gì cả. Chiếc đồng hồ báo thức vẫn phát ra những âm thanh tích tắc đều đặn, như thể ông ấy vừa mới đi đâu khỏi đây chốc lát mà thôi. Nhưng cái đài radio nhỏ trên bàn thì đã không còn nữa. Cái túi vải thường treo trên móc cũng vậy, cũng đột nhiên biến mất như có phép lạ. Ông ấy hay nghe đài, đi đâu thì mới mang theo, chứ trộm thì nó lấy cái của ấy làm gì cho nặng gánh. Mà trộm thì phải nghe chó sủa chứ, nhưng tối qua vẫn yên tĩnh chứ có thấy gì đâu.

Rút cục thì con chim bay cũng còn vương lại tiếng, con cá lặn cũng phải để lại tăm hơi. Thấy ngăn kéo đã mở ra một nửa, bà Lan nhìn vào, trong đó có một tờ giấy gấp tư để ngay ngắn. Tò mò, bà liền cầm lên để xem. Thì ra đó là một lá thư viết tay. Trên đó có mấy dòng chữ nguệch ngoạc, dù viết vội, bà vẫn nhận ra nét chữ quen thuộc của chồng mình: “Bà nó!…Tôi và Mạnh Trí hành hiệp giang hồ để tìm kiếm vinh quang. Khi nào thành tựu sẽ về. Mong bà ở nhà giữ gìn nhà cửa và coi sóc “Đạo nhân thi quán” cho thật cẩn thận. Bà và mọi người hãy yên tâm và đừng lo lắng gì cho chúng tôi cả!...”.

Đọc xong lá thư, bà Lan ngồi phịch xuống ghế, ngẩn ngơ như người mất hồn. Xưa nay, chưa từng xảy ra chuyện ông ấy bỏ nhà ra đi như thế bao giờ cả. Tuy vậy, bà cũng vừa mừng, vừa lo. Mừng vì ông ấy đã không xẩy ra chuyện gì. Lo là vì không hiểu chuyện này rồi sẽ đi đến đâu đây? Bỏ nhà đi lang thang như thế, liệu rồi ông ấy sẽ sống ra sao? Nhưng nghĩ có đứa cháu Mạnh Trí bên cạnh hầu hạ, bà cũng bớt lo lắng phần nào. Chỉ mong ông ấy mau hồi tâm chuyển ý, sớm quay về cho đỡ khổ tấm thân.

Chú chó vàng xích ở góc sân chợt vùng lên sủa dữ dội, hai cái nanh dữ tợn nhe ra cứ như phát điên phát cuồng. Bà Lan để vội lá thư vào trong ngăn kéo và nhìn ra ngoài. Từ ngoài cổng, vợ Tam Văn đang hốt hoảng đi vào, áo xống, tóc tai rũ rượi.

- Nhà cháu có sang đây không bác ơi? – Vừa vào đến sân, chị ta đã cất tiếng rổn rảng – Sáng ra đã không thấy anh ấy đâu. Cháu đi tìm một vòng rồi chạy vội sang đây. Đến tóc còn chưa kịp chải đây này!...

Nghe giọng hốt hoảng của cô cháu, bà Lan vừa buồn cười vừa bực. Hình ảnh đó thật chẳng khác nào tình cảnh của mình lúc sáng nay. Bà vẫy tay:

- Cô Hiền đó hả? Mau vào đây tôi bảo!...Vào đây!...

Vợ Tam Văn dài cổ ra vì hy vọng. Chắc mẫm là có tin vui, vội tấp tểnh bước nhanh lên thềm.

 Bà Lan lấy lá thư ra rồi đưa cho cô ta xem. Thế là, hai người phụ nữ cứ ngồi ôm nhau mà kêu khổ, nước mắt vắn dài.

- Biết làm sao bây giờ hả bác? – Vợ Tam Văn đặt lá thư lên bàn, thở dài.

Dù lòng đang rối như tơ vò, nhưng bà Lan vẫn lên tiếng an ủi:

- Hi vọng là hai thầy trò họ chỉ đi đâu đó ít bữa. Đến lúc hết tiền chắc sẽ phải quay về thôi. Sảy nhà ra thất nghiệp mà cô!…

o0o

Lại nói về hai thầy trò Tam Văn. Sau khi rời khỏi đạo nhân thi quán, họ cùng nhau đi bộ ra đường quốc lộ để bắt xe đi Hà Nội. Đứng chờ một lúc, cho đến khi trời sáng rõ thì cũng có xe. Đó là một chiếc xe khách cũ kĩ, với những chiếc ghế da nứt nẻ, để lộ cả phần đệm mút bên trong. Xe chạy chậm, cà rì cà dựt như rùa bò, đã vậy thi thoảng lại còn dừng để bắt khách và vận chuyển hàng hoá lên.

     Đến trưa thì ô tô dừng lại ở một ngôi quán bên đường. Khách khứa lục tục xuống xe để nghỉ ngơi và ăn cơm. 

     Sau chặng đường mệt mỏi, mọi người đều ngồi bệt xuống ghế mà nghỉ ngơi cho thỏa. Hai thầy trò hiệp sĩ của chúng ta cũng tìm được hai chiếc ghế cạnh hàng trái cây để đặt lưng nghỉ tạm. Thầy Thất Sách ngồi bắt chân chữ ngũ, vừa rung đùi vừa đưa mắt quan sát cảnh vật xung quanh. Tam Văn thì ngồi thu lu, hai tay ôm khư khư lấy túi đồ căng phồng, mắt nhìn những người qua lại với một vẻ cảnh giác cao độ. Vì là lần đầu đi xa và chưa có kinh nghiệm, chú chỉ sợ mất cái túi, bởi trong đó là tất cả tài sản cũng như vật dụng sinh hoạt của cả hai thầy trò họ vậy.

     Đương lúc mơ màng, chợt thầy Thất Sách nhìn thấy một anh chàng thanh niên ăn mặc sặc sỡ bước tới. Anh ta cầm trên tay hai lá bài tây, mồm miệng thì cứ liến thoắng liên hồi. Thì ra hắn đang mời mọc mọi người chơi trò đỏ đen. Cách chơi bài rất đơn giản, cứ như là thò tay vào túi lấy đồ vật vậy: Anh ta cầm hai quân bài giơ lên cho mọi người cùng nhìn thấy rõ. Rồi sau vài động tác vung vẩy như phù thủy bắt quyết, hắn úp quân bài xuống đất. Ai đoán đúng quân nào đen, quân nào đỏ thì coi như thắng. Tỉ lệ là một ăn mười, người đoán nếu thua thì chỉ mất một, còn thắng được ăn gấp mười lần số vốn đã bỏ ra. Tuy điều kiện đưa ra thật hấp dẫn, nhưng mọi người vẫn sợ là cờ bạc bịp, cho nên không ai dám chơi cả. Mấy bà đi buôn chuyến lúc này còn cẩn thận sờ xem túi tiền của mình đang còn hay mất.

      Vài phút sau lại có hai người đàn ông to cao khác xuất hiện bên cạnh cái người mặc áo hoa sặc sỡ kia. Một người có vẻ như cán bộ đang đi công tác, trên tay xách chiếc cặp da to đùng, còn người kia thì giống như khách buôn. Sau khi nghe anh chàng kia giảng giải luật chơi, họ chấp nhận đánh bài với anh ta. Hai người khách mới đến thắng liên tục. Nhìn anh chàng áo hoa rút từng xấp tiền dày cộp ra trả, ai cũng thấy ham.

     Một bà to béo trạc ngoại tứ tuần, lúc này cũng quyết định tham gia trò đỏ đen. Anh chàng kia lại vung hai quân bài xuống đất, bắt đầu vào cuộc chơi. Chính mắt mình nhìn thấy rõ ràng quân bài, bà kia dẫm hẳn chân lên cho chắc ăn, rồi nói:

      - Tôi đánh năm triệu. Bắt quân bài màu đen này!

      Ai cũng thấy rõ ràng đó là quân bài màu đen, và chắc mẫm bà kia sẽ thắng. Nếu thắng ván bài này thì sẽ được nhiều tiền lắm, một ăn mười kia mà. Gã cờ bạc chấp nhận và yêu cầu đặt cọc. Bà kia liền thò tay vào túi quần để móc tiền ra. Nhân lúc bà kiễng chân lên để lấy tiền, hắn liền nhanh tay đánh tráo quân bài dưới chân. Nhận được tiền đặt cọc rồi, hắn liền lập tức lật quân bài lên. Mọi người xung quanh đều trố mắt ngạc nhiên, thì ra đó là một quân đỏ.

     Thế là bà kia bị thua đau. Rồi vì tiếc của mà bà ta cứ bưng mặt khóc thút thít mãi.

      Tận mắt nhìn thấy kẻ kia đã đánh tráo quân bài, rõ ràng là cờ bạc bịp. Lúc này máu hiệp sĩ trong người nổi lên, thầy Thất Sách liền đứng bật dậy, chỉ tay, nói lớn:

      - Này anh kia! Tôi nhìn thấy anh đã đánh tráo quân bài dưới chân người phụ nữ này. Thực ra là anh đã thua. Yêu cầu anh hoàn lại tiền cho bà ấy, đồng thời trả đầy đủ không thiếu một xu số tiền mà anh đã thua!...

      Gã cờ bạc trố mắt ngạc nhiên, hắn đứng thẳng người lên, chống nạnh:

      - Lại có kẻ điên này ở đâu ra vậy? Chúng tôi chơi bài thì có liên quan gì tới ông hả? Ông thấy tôi gian lận hồi nào? Khôn hồn thì cút đi, nếu không lại bị nhừ đòn bây giờ!...

      Thầy Thất Sách nghe vậy thì càng giận, liền xuống tấn, quát lên:

      - Rõ ràng nhà ngươi đã tráo quân bài khác. Có trả tiền không thì bảo? Ta đây giữa đường thấy sự bất bình chẳng tha đâu nhé!...

      Gã cờ bạc bịp từ chỗ ngạc nhiên chuyển sang tức giận. Mặt hắn phừng phừng như say rượu, cặp mắt vằn lên những tia đỏ ngầu như một con bò tót đang say máu. Gã không ngờ một ông lão nhà quê gầy guộc như vậy mà lại dám hùng hổ nơi chốn này, vốn là địa hạt làm ăn của hắn.

- Ái chà! Nhà ngươi định xưng hùng xưng bá ở đây sao? – Hắn lùi lại vài bước, nói. Dứt lời, liền búng ngón tay ra hiệu.

Lập tức, hai gã to lớn kia cùng hè nhau xông vào mà tấn công thầy Thất Sách tới tấp. Nước chảy đất ngăn, binh lâm tướng đón. Không chút nao núng, hiệp sĩ của chúng ta cũng bình tĩnh vung quyền đánh trả. Thế trận lúc này thật chẳng khác nào “Tam anh chiến Lữ Bố” trong tác phẩm “Tam Quốc chí” của La Quán Trung cả. Nhưng vì “Mãnh hổ nan địch quần hồ”, cuối cùng thầy bị chúng đánh cho một trận nhừ tử, mặt mày sây sướt và có vài chỗ sưng to như quả ổi.

     Bấy giờ mọi người mới biết cả ba tay kia đều là đồng bọn, chúng vờ chơi bài với nhau chỉ cốt để cò mồi thiên hạ mà thôi.

     Thấy thầy mình bị ba kẻ lực lưỡng quây đánh, Tam Văn cứ cuống hết cả lên. Sự việc diễn ra quá bất ngờ, khiến chú không kịp trở tay và cũng chẳng biết nên xử trí thế nào. Lại vì đang phải lo giữ đồ, chú không dám bỏ cái túi xuống để can ngăn. Nửa muốn nửa không, thành ra chú cứ nhấp nha nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa. Đến khi thấy thầy bị đánh đau quá, sợ thầy chết mất, chú đành phải đánh liều nhảy vào can. Không kịp suy nghĩ nhiều, chú đặt cái túi xuống đất rồi đứng phắt lên, nói lớn:

     - Này, mấy anh kia! Hãy dừng tay! Không được hại chủ ta nữa!...

     Bị tiếng thét bất ngờ làm cho giật mình, ba gã kia cùng ngoái đầu nhìn lại. Nhìn thấy Tam Văn, một tên trong bọn đưa ngón tay quệt ngang cái mũi lỗ chỗ như cam sành, chống tay, cười khẩy:

- Lại còn có tên quỷ lùn ở đâu ra nữa đây? Nếu không muốn ăn đòn thì mau biến khỏi đây ngay tắp lự!

     Nhưng Tam Văn bỏ ngoài tai những lời hăm doạ của hắn, chú xông ngay vào trận địa, cố gắng lôi thầy mình ra. Trong cơn nguy biến, chú chẳng quản ngại gì đến thân mình nữa, chỉ cốt sao mau chóng cứu được chủ mà thôi. Ba tên kia cũng lập tức bỏ thầy Thất Sách, quay sang tấn công Tam Văn liên hồi, khiến chú tối tăm mặt mũi. Bị bất lợi về quân số, Tam Văn vừa lùi vừa đỡ. Sau cùng, vì thất thế, chú vấp phải cái ghế nhựa ngã lăn kềnh ra đường, chân tay chới với như một con rùa bị lật ngửa. Bị bọn kia đấm đá tới tấp, Tam Văn chỉ còn kịp ôm lấy đầu, bảo vệ thủ cấp. Bấy giờ, người ta chỉ còn nghe thấy những tiếng đấm, tiếng đá bình bịch như đánh vào bao cát.

 Được Tam Văn chia lửa, thầy Thất Sách rảnh tay, xông vào táng cho gã áo hoa một cú như trời giáng vào đầu. Gã kia ôm đầu, đau điếng, mặt hắn méo xệch, mắt trợn trừng như toé lửa.

- Á…à! Cái lão già chết tiệt này! - Gã gầm lên như một con thú bị thương và lập tức chuyển hướng tấn công sang thầy Thất Sách.

     Những người xung quanh cứ trố mắt ra mà đứng xem. Những gì họ đang được chứng kiến thật mãn nhãn, chẳng khác nào trong một cuốn phim hành động võ thuật cả. Thú hơn nữa, nó lại đang diễn ra ngoài đời thực, ngay trước mắt họ chứ đâu xa.

     Lúc này Tam Văn cũng tiện tay vớ luôn chiếc ghế nhựa xông vào vụt mạnh, trúng vào vai phải một tên. Bị đánh đau, tên kia điên tiết lao vào Tam Văn như một con thú điên. Vì khoẻ hơn, hắn giằng được cái ghế trong tay Tam Văn, vậy là chú lại bị ăn một trận đòn như mưa.

     Thấy thầy trò Thất Sách gặp bất lợi quá, vài người bắt đầu lên tiếng can ngăn. Rút cục, bọn người kia cũng chịu chùn tay. Bởi chúng chỉ muốn dạy cho những kẻ hay xen vào chuyện của người khác một bài học chứ cũng không cần phải làm lớn chuyện làm gì, nhỡ cảnh sát kéo đến thì khốn. Bởi vậy mà chúng dừng tay hành hung rồi hè nhau rút lui. Nhưng trước khi bỏ đi, một tên còn không quên táng thêm cho Tam Văn một cú đá bồi nữa vào mông đau điếng.

     Ba kẻ kia bỏ đi rồi, hai thầy trò Tam Văn nén đau, dìu nhau ngồi xuống ghế gần đó. Tam Văn mở túi, lấy ra hộp dầu cù là và cẩn thận xoa bóp cho thầy. Mỗi khi chạm phải chỗ đau, thầy Thất Sách lại giật nẩy mình vì đau đớn, nhưng vì thể diện, thầy chỉ nhăn mặt mà không dám kêu lên thành tiếng.

     Người phụ nữ thua bài từ nãy vẫn run rẩy đứng ở một góc quan sát cuộc chiến. Tận mắt chứng kiến những gì xẩy ra, bà ta đã vô cùng hối lỗi. Bà ta sượng sùng tiến đến trước mặt thầy Thất Sách, mặt cúi gằm vì xấu hổ:

     - Thưa ngài! Tôi thật là có lỗi. Chỉ vì ham mê bài bạc mà đã khiến ngài bị vạ lây. Đến nỗi ngài bị chúng đánh đau như thế!…

     Thầy Thất Sách cũng lịch sự đứng lên, nghiêng mình:

     - Thưa quý tiểu thư vô cùng xinh đẹp và diễm lệ! (Đặc tính của thầy Thất Sách nhà ta là hễ nhìn thấy người đàn bà nào cũng thành ra tiểu thư xinh đẹp cả. Cho dù đó chỉ là một bà đã luống tuổi và mập ú như bà đây). Được phục vụ tiểu thư chính là điều mà tôi rất lấy làm sung sướng và vinh hạnh. Vả lại, tôi chiến đấu là để bảo vệ công lý và lẽ phải. Cứu khốn phò nguy vốn là bổn phận của những người hiệp sĩ như chúng tôi đây. Xin tiểu thư chớ có áy náy!

Bà kia lại ngước cặp mắt đen láy, to tròn như mắt của một con bò mộng nhìn thầy Thất Sách, nói:

- Gặp gỡ giữa đường, chẳng quen biết gì mà ngài lại ra tay cứu giúp như vậy. Tôi đây thật chẳng biết lấy gì để đền ơn tri ngộ. Vậy xin ân nhân cho biết tên tuổi để người trong thiên hạ còn biết đến đức tốt của ngài?

Thầy Thất Sách xua tay, đáp:

- Chút công lao nhỏ mọn, có gì mà phải bận tâm. Xưa nay tôi làm việc nghĩa không mong đền đáp bao giờ cả. Nhưng nếu quý cô nương thực lòng muốn biết quý danh thì xin thưa: Chẳng dấu gì cô nương, tôi đây đi không đổi tên, ngồi không đổi họ. “Hiệp sĩ Thất Sách” chính là tôi đây!

     Những người xung quanh cùng ồ lên thú vị. Thì ra là một hiệp sĩ, thảo nào mà ông ấy dũng mãnh và trượng nghĩa đến vậy. Thế này thì chẳng còn gì để mà thắc mắc và khó hiểu nữa cả. Điều duy nhất khiến họ ngạc nhiên, ấy là tại sao thầy Thất Sách nhà ta lại gầy gò, ốm yếu như thế, nom chẳng có vẻ gì giống một hiệp sĩ cơ bắp đầy sức mạnh cả. 

Thời gian này, trên tuyến xe bắc nam vẫn thịnh hành lối chơi bài đỏ đen này lắm. Tuy nói là cờ bạc bịp, nhưng dù sao cũng có luật chơi rõ ràng. Khi đã chấp nhận tham gia thì anh phải chịu, chứ chẳng có ai ép buộc cả. Thật ra đây là một trò nhanh tay nhanh mắt, cho nên không thể gọi là bịp được. Nguyên do là hiệp sĩ của chúng ta lâu nay vẫn ở trong “Đạo nhân Thi quán” mà ít khi ra ngoài, vì thế mới không biết đến chuyện này mà thôi.

      Bấy giờ, những người chứng kiến, lắm người tỏ ra thán phục thầy trò Tam Văn, nhưng cũng có vài kẻ độc mồm độc miệng nói:

      - Rõ là ách ngoài đàng, quàng vào cổ. Bị đánh đau như thế, từ nay ắt hẳn chừa cái thói hay nhúng mũi vào chuyện của người khác rồi đấy nhỉ?…

     Cho dù người ta có nói gì đi nữa, thì đó cũng là chiến công thứ nhất và bài học đầu tiên của cả hai thầy trò trên bước đường phiêu lưu vạn dặm. Một chiến công mà sau này, trong cuốn hồi ký của mình, thầy Thất Sách đã gọi bằng cái tên rất kêu và mĩ miều là: “Giải cứu mỹ nhân đánh bạc”.

o0o

Chừng 2 giờ chiều thì chiếc xe khách chở thầy Trò Tam Văn cập bến xe Giáp Bát - Hà Nội. Khách khứa lại nối nhau xuống xe. Hai thầy trò ngơ ngác đi dọc theo những chiếc xe khách xếp thành hàng dài trong bến để quay ngược trở ra. Một gã xe ôm loắt choắt, trên tay cầm chìa khoá xe cứ lẳng nhẳng bám theo họ từ trong bến ra đến cổng.

- Hai bố con đi xe ôm không? – Anh ta tưởng nhầm họ là hai bố con.

Thầy Thất Sách không muốn đi xe máy, vì họ có hai người và còn kèm theo đồ đạc lỉnh kỉnh, bèn đáp:

- Chúng tôi không đi đâu!

Nhưng gã xe ôm thì cứ bám dai như quả ké. Mặc cho thầy Thất Sách tỏ vẻ khó chịu, hắn ta vẫn cứ đi theo, chưa chịu buông tha:

- Về đâu? Lên xe đi, tôi lấy rẻ thôi!

Bị quấy rầy mãi, vết thương sau trận ẩu đả lại đang sưng tấy và đau nhức, thầy Thất sách bực mình, gắt:

- Có biến đi không nào! Đã bảo là không đi rồi kia mà!...

Gã xe ôm giật mình đứng sững. Hắn hằn học nhìn theo, nhưng thấy thầy Thất Sách lăm lăm cây gậy, lại có vệ sĩ Tam Văn lực lưỡng tháp tùng, đành cố nuốt cục tức vào trong. Hắn nhổ bãi nước bọt đánh toẹt, rồi hậm hực:

- Hừ!...Rõ là đồ nhà quê. Cứ như lũ ngợm ấy. Tưởng là báu lắm chắc. Ông đây thì thèm vào!....

Thây kệ, chó cứ sủa, đoàn người cứ đi. Vả lại, thầy trò Tam Văn đâu có nghe thấy hắn chửi mình kia chứ. Vì thế mà họ vừa vui vẻ trò chuyện vừa ung dung rảo bước ra đến cổng bến xe.

- Đi xích lô nhé? – Một bác xích lô đứng tuổi, đang ngồi gác chân lên càng xe, nhìn thầy trò Tam Văn, mời.

Thầy Thất Sách tiến lại gần, cúi người, hỏi:

- Gần đây có chỗ trọ nào không? Phiền ông chở chúng tôi đến đó!

- Ồ! Nhà trọ thì nhiều lắm. Thích loại nào? Bình dân thôi nhỉ?...

- Bình dân thôi! – Thầy Thất Sách gật đầu.

- Vậy lên xe đi, tôi sẽ chở đến tận nơi! - Người xích lô nói rồi vội nhảy xuống, đỡ lấy túi hành lý của Tam Văn để gọn lên thùng xe.

Chiếc xe xích lô kẽo kẹt lăn bánh. Đường phố lúc này đông nghịt những người. Nào là xe đạp, xe máy, ô tô chen chúc nhau như mắc cửi. Khác với miền quê, ở đây cửa nhà san sát, xây liền vào nhau cứ như dính thành một khối. Tam Văn ấn tượng nhất là những toà nhà cao tầng màu vàng, cửa chớp xanh lộng lẫy. Những công trình này vốn do người Pháp xây dựng trước đây trong thời kỳ thuộc địa. Phần lớn đó là những biệt thự, công sở hoặc là khu nhà ở dành cho viên chức. Trên phố, trai thanh gái lịch ăn vận tân thời chở nhau trên những chiếc xe máy sang trọng. Thấp thoáng bên hàng phượng vĩ, những nữ sinh xinh đẹp trong tà áo dài trắng thong thả đạp xe lướt qua. Thực là:

Dập dìu tài tử giai nhân

Ngựa xe như nước, áo quần như nêm.

Tuy đã ngoài ba mươi tuổi, nhưng đây là lần đầu tiên Tam Văn đi ra thủ đô. Vì vậy mà cái gì cũng khiến cho chú thấy lạ và ngạc nhiên cả. Mắt chú nhìn trước, ngó sau, quan sát mọi thứ với một vẻ vừa tò mò vừa háo hức, rõ ràng là một anh nhà quê ra tỉnh.

Xích lô chạy qua một khu chợ đông đúc, rồi một ngôi trường tiểu học, trước khi rẽ vào con ngõ sâu và ngoằn ngoèo. Đến cuối ngõ, xe dừng lại trước một dãy nhà trọ cấp bốn đã sập sệ. Có một người đàn ông ăn vận lịch sự đang đứng sửa bóng điện trên thềm. Vừa làm, ông ta vừa nói những chuyện gì đó với một anh chàng đang ngồi chồm hỗm trước cửa phòng.

Ông xích lô xuống xe và tiến đến cạnh người đàn ông, hỏi:

- Còn phòng cho thuê không ông chủ ơi?

Người kia ngoảnh lại, nhìn những người mới đến qua cặp kính cận lấp loá:

- Còn một phòng nhỏ kia! – Ông ta nói và chỉ tay về phía căn phòng cuối dãy.

Tam Văn kiễng chân nhìn theo, dãy nhà trọ dài và sâu hun hút như một cái trại lính.

- Phòng nhỏ có được không? – Người xích lô tháo cái mũ vải đội trên đầu, quay nhìn thầy Thất Sách, hỏi.

Thầy Thất Sách xốc lại cái túi vải đeo trên vai, đáp:

- Chúng tôi chỉ có hai người. Chỉ cần phòng nhỏ là được rồi.

- Vậy thì ok! – Người xích lô búng ngón tay, vui vẻ – Xin ông chủ cho giá luôn!

- Phòng lớn hai mươi ngàn một ngày. Phòng này nhỏ, tôi lấy mười lăm ngàn – Người chủ nhà thủng thẳng, mắt vẫn không rời khỏi cái đui bóng đèn đang được gắn hờ trên tường.

- Ông thấy thế nào? – Ông xích lô lại hỏi thầy Thất Sách.

- Tôi đồng ý thuê! – Thầy Thất Sách gật đầu, đáp.

- Vậy là tôi hoàn thành nhiệm vụ rồi nhé! – Ông ta cười bổ bã và vỗ vỗ vào vai thầy Thất Sách trước khi rời đi.

Người xích lô đi rồi, chủ trọ liền dẫn thầy Thất Sách đi xem phòng. Tam Văn xách túi đồ khệ nệ theo sau, nom chú chẳng khác nào một người phu khuân vác cần mẫn. Một người đàn bà tóc ngắn, mặc váy hoa bê chậu quần áo ra phơi ở khoảng sân nhỏ trước dãy trọ. Cái dây cao, khiến bà ta cứ phải nhón nhón chân lên để phơi. Nước từ những bộ đồ mới giặt nhỏ tong tong xuống nền xi măng, thánh thót như những giọt mưa thu. Trước cửa một căn phòng, có hai cô gái trẻ đang đứng trò chuyện, có vẻ như họ là sinh viên của một trường nào đó. Trong lúc trao đổi, thi thoảng họ lại liếc mắt nhìn về phía thầy trò Tam Văn với một vẻ tò mò khó cưỡng. Tuy đã cố tỏ vẻ bàng quan nhất có thể, nhưng trên khoé môi người nào cũng thấp thoáng một nụ cười đầy ý vị. Như thể là họ đang được chứng kiến những nhân vật nguyên mẫu vừa bước ra từ trong một bộ phim hài vậy.

Căn phòng chỉ độ mười mét vuông. Bên trong có một giường đôi, một cái bàn nhỏ, vài cái ghế nhựa để ngồi. Phía sau có nhà tắm và Toilet. Người chủ trọ dẫn họ vào, giới thiệu và dặn dò qua loa cho có lệ rồi quay trở ra.

Tam Văn bỏ đồ vào một góc phòng, rồi ngã người nằm phịch xuống giường. Chú nằm ngửa, chân tay dang rộng hết cỡ cho gân cốt thư giản. Từ sáng tới giờ vất vả tàu xe, đến giờ chú mới có được giây phút tự do, thoải mái. Thầy Thất Sách thì ngồi xuống ghế, chậm rãi lục túi lấy thuốc lào ra hút.

Lần đầu tiên ra thủ đô, Tam Văn đã nhận ra sự khác biệt giữa thôn quê với chốn thành thị phồn hoa. Ở đây, người ta sống gần nhau, san sát cứ như chơi trò xếp hình. Thành phố thì lúc nào cũng đông người, hễ ra khỏi cửa là gặp toàn những người là người. Chẳng hiểu lấy đâu ra mà lắm người thế không biết. Người ngồi trước ngõ, dọc hàng quán hai bên đường, chỗ nào cũng có người. Không bù cho ở quê, nhiều khi chú làm đồng cả buổi mà cũng chẳng có lấy một bóng người nào đi qua để bắt chuyện.

Tam Văn nhìn trân trân lên trần nhà, nói:

- Ở thành phố cái gì cũng kỳ cục. Nhà cũng có nhà nghỉ, nhà trọ. Ở quê thì làm gì có cái của ấy, thầy nhỉ?

- Thành phố là nơi tập trung dòng người tứ xứ. Vậy nên cần phải có nhà trọ, nhà nghỉ cho những người làm việc và học tập xa nhà. Tóm lại là những người nhỡ độ đường – Thầy Thất Sách ôn tồn giải thích rồi nhả khói mù mịt.

Tam Văn cũng nhổm dậy hút thuốc lào. Trong lúc tra thuốc vào nỏ, chú lại nói:

- Mỗi căn phòng bé như lỗ mũi thế này mà giá mười lăm ngàn một ngày. Một tháng vị chi là…bốn trăm…năm mươi…ngàn. Chỉ cần một dãy nhà trọ này, họ đã thu nhập bằng cả “Đạo nhân thi quán” của mình rồi chứ chẳng chơi!

Thầy Thất Sách vẫn kiên nhẫn giải thích cho anh cháu lần đầu tiên ra thành phố:

- Thành phố gạo châu củi quế, cái gì cũng đắt đỏ cả. Ở đây chỉ có đường nhựa và bê tông, làm gì có vườn cây ao cá như quê mình đâu. Với họ, cái gì cũng cần tiền để mua cả. Họ không làm ra cá, ra rau như mình. Cho nên điều đó cũng dễ hiểu thôi. Ở quê mình, nhiều lúc không có tiền vẫn sống được, còn người thành phố thì ngoài tiền ra họ có gì khác đâu.

Nghe thầy nói thế, Tam Văn cũng không còn thắc mắc nữa. Chú ngồi ngồi chống tay, mơ màng:

- Chà! Mới sáng nay còn ở “Đạo Nhân Thi Quán”, vậy mà giờ đây hai thầy trò ta đã ở thủ đô Hà Nội rồi. Giờ này chắc là bác gái và vợ con cũng đang hoang mang, lo lắng về chúng ta lắm đây?!

- Cứ mặc họ chạy đôn chạy đáo đi tìm. Tha hồ mà đoán già đoán non. Vài bữa là lại yên thôi mà. Ta có để thư lại rồi, họ đọc rồi sẽ hiểu thôi – Thầy Thất Sách vuốt râu, nói.

Tam Văn nghe thầy nói vậy thì cũng đã yên tâm, điều mà chú lo nhất là ở nhà không ai biết tung tích hai thầy trò chú đâu. Vì rằng, sáng nay, họ đã lén lút ra khỏi nhà mà chẳng cho ai biết cả.

Vết thương từ cú đá bồi của gã vô lại lúc trưa bấy giờ lại tái phát, khiến Tam Văn phải oằn mình lên vì đau. Chú nhăn mặt và bất giác bật lên một tiếng rên khe khẽ. Rồi cố nhịn đau, chú nói:

- Con nói chuyện này thầy bỏ quá cho. Thầy nói chuyến phiêu lưu của thầy trò mình là cao cả, vĩ đại. Vĩ đại đâu thì chưa thấy, chỉ thấy cả hai thầy trò bị một trận đòn nhừ tử, thừa sống thiếu chết. Thú thực, lúc ấy con chỉ muốn tự dưng đất nứt ra một lỗ để mà chui xuống cho đỡ ngượng. Thử hỏi mặt mũi nào mà nhìn thấy người ta cứ vây quanh mình mà chỉ trỏ, thương hại như thế kia chứ.

Thầy Thất Sách nghiêm sắc mặt, nói:

- Anh thật chẳng hiểu gì về phiêu lưu, kiếm hiệp cả. Xưa nay, chưa hề có một hiệp sĩ nào mà không trầy da tróc vẩy trước khi vang danh thiên hạ. Nghề hiệp sĩ của chúng ta lập thân bằng chiến trận, bằng lòng dũng cảm vô song và cả những vết thương khắp mình mẩy đến mức chẳng thể nào đếm xuể. Hiệp sĩ không ngồi trên nệm nhung, ghế nỉ để lập công trạng bao giờ cả. Hiệp sĩ là phải phiêu lưu, phải chịu đựng hiểm nguy, gian khổ, phải dãi nắng dầm sương. Không có chuyện ngồi mát ăn bát vàng rồi người ta tìm đến để công kênh anh lên, rồi tung hô anh là anh hùng hiệp sĩ đâu. Càng có nhiều trận chiến, tên tuổi càng bay xa, càng có nhiều chiến công, thanh thế càng lẫy lừng. Trò hiểu chưa?!

Vậy là Tam Văn đã tỉnh ngộ. Từ chỗ xấu hổ vì bị đánh, giờ đây chú lại cảm thấy tự hào vì đã lập được một chiến công hiển hách cho đời. Vả lại, lòng háo hức vì sắp được đi thăm những thắng cảnh thủ đô khiến chú quên khuấy đi hết những chuyện bực mình đã xẩy ra trong ngày. Tính chú xưa nay là vậy, luôn bị những cảm xúc bồng bột điều hướng và chi phối tình cảm cũng như hành động của mình.

- Hôm nay ngươi đã liều mình cứu chủ. Điều đó chứng tỏ lòng trung thành và dũng cảm vô song của ngươi. Thật khá khen! Vậy thì cứ ghi công trạng của ngươi vào đấy. Ta sẽ ban thưởng sau! – Thầy Thất Sách vuốt râu, hài lòng.

Chập tối hôm ấy, hai thầy trò Tam Văn ra quán cơm bình dân trước ngõ ăn xong rồi lại quay trở về phòng trọ nghỉ. Tam Văn đi đun nước, rồi họ vừa pha chè uống vừa bàn tính về chuyện sẽ cùng nhau đi tham quan thành phố vào ngày mai.