Kết nạp đệ tử và chuẩn bị hành trang
Lúc về đến ngã ba đường liên thôn, Mạnh Trí dừng lại và bồi hồi
ngắm nhìn cảnh vật một lúc. Chàng đưa mắt quan sát rất lâu hàng cây bạch đàn chạy
dài tít tắp ra tận phía ngoài cánh đồng chiêm trũng trước mặt. Những ngôi nhà
thấp thoáng hai bên vệ đường mà hầu như chàng đều đã quen mặt, biết tên. Khoảng
sân kho cũ được ngăn lại bởi một dãy nhà cấp bốn lụp xụp như một dãy tường
thành bảo vệ. Cái sân này vốn bỏ không, giờ đây được những hộ dân gần đó tận dụng
làm chỗ để đồ và phơi phóng. Khung cảnh này vốn dĩ đã rất quen thuộc, vì ngày
nào chàng cũng đi qua. Vậy mà chẳng hiểu vì sao, hôm nay chàng lại nhìn chúng rất
kĩ với một vẻ vừa suy tưởng vừa mơ hồ đến thế. Chàng đứng đó, hai tay chắp sau
lưng, ngẩn ngơ như một người khách lạ vừa mới đến đây lần đầu. Cho đến khi một
chiếc công nông chở đá phành phạch chạy qua và cuốn tung cả đám bụi mù, chàng mới
lặng lẽ dời bước và rẽ vào con đường đất quen thuộc để đi về nhà mình.
Trước mặt chàng lúc này là ngôi đình làng, bốn mái vút cong với
những hàng chữ nho trước cổng ngoằn ngoèo như những nét vẽ. Hai con nghê trên
nóc lúc nào cũng há miệng cười ngô nghê, một nụ cười bí ẩn tạc vào muôn thủa.
Những bức tường bám đầy rêu móc, mốc meo như chỉ dấu của thời gian lặng lẽ. Mỗi
lần qua đây, chàng đều cảm nhận được cái vẻ cổ kính và thâm nghiêm của ngôi
đình. Từng đường vân, thớ gỗ trên kèo, trên cột cũng nhắc nhở cho chàng về một
thời quá vãng, xa xưa của mảnh đất mà mình đã từng sinh ra và lớn lên. Ngôi
đình đã ấn tượng và gắn bó với chàng từ thủa còn ấu thơ. Hồi ấy thằng cu Trí chỉ
chừng bảy, tám tuổi gì đó, thường cùng mấy đứa trẻ gần nhà lê la chơi trò nặn
pháo đất và đánh khăng dưới gốc cây muỗm cổ thụ trước sân đình. Cho đến khi trời
tối mịt, nghe thấy tiếng người lớn gọi ý ới thì chúng mới ba chân bốn cẳng chạy
về, mặt mày đứa nào đứa nấy đều lấm lem những bụi đất. Lắm hôm, vì mãi chơi, cu
Trí bị bố cho ăn roi vào mông, vào lưng đau điếng. Ký ức tuổi thơ còn đó, vẫn
hiện về sống động, vậy mà giờ này người bố thân yêu đã khuất núi được mấy
năm rồi. Năm tháng qua mau, cứ như là bóng câu qua cửa sổ ấy. Nghĩ đến đây, Mạnh
Trí bất giác thở dài, nét mặt chàng đượm vẻ mơ màng, bâng khuâng. Chàng đi qua
cái ao bèo tây nằm phía bên trái đường. Hơi nước bốc lên mát rượi, những bông
hoa tím nổi lập lờ trên mặt nước, lờ mờ ẩn sau những cụm lá đã ngả sang màu
xanh thẫm vì ánh hoàng hôn. Có tiếng ếch nhái từ dưới ao vọng lên ồm ộp, râm
ran. “Trời động mưa hay sao mà cái lũ dự báo thời tiết ấy lại tự dưng kêu inh ỏi
như thế không biết?” – Chàng vừa nhanh chân rảo bước vừa lẩm nhẩm một mình như
thế.
Mặt trời đã lặn phía sau luỹ tre cuối làng, phản chiếu những tia
nắng cuối ngày, gắt gỏng và bao trùm lên cảnh vật.
Sau cuộc trò chuyện ở vườn xoài với thầy Mạnh Long, Mạnh trí đã
ra về với những ý nghĩ khai phóng trong lòng. Chú thấy đầu óc mình bổng dưng
sáng láng hẳn lên, như một cái ao bùn quanh năm mọc đầy lau sậy, giờ đây được
những tia nắng mặt trời chiếu rọi xuống tận đáy sâu của hang cùng, ngõ hẻm. Những
ý nghĩ vui tươi lúc này cứ đang nở hoa trong đầu chú. Chú mơ màng nghĩ về chuyến
phiêu lưu sắp tới, về những vùng đất cùng những điều mới mẻ mà hai thấy trò chú
sắp được khám phá và trãi nghiệm. Đối với cái đầu óc hạn hẹp của chú thì những
ý tưởng ấy giống như một sự cách mạng, một chân trời mới đang rạng rỡ, sáng
soi. Chú cảm thấy mình đột nhiên quan trọng hẳn lên, không còn là một anh nông
dân quanh năm đầu tắt mặt tối với ruộng vườn, gà qué nữa. Từ nay, thầy trò chú
chính là những người khai mở nhận thức cho cả cái xã Yên Phong vốn nhỏ bé và
thuần nông này. Họ là những nhân vật mà cho đến một ngày, cả làng, cả xã này phải
nhắc đến với một niềm tự hào và ngưỡng mộ lớn lao. Và cái ngày ấy đã sắp đến, đến
rất gần.
Mãi mê suy nghĩ, Mạnh Trí đã về đến nhà mình lúc nào không hay.
Chàng dừng lại, vừa quan sát vừa đưa tay ẩy nhẹ cánh cổng sắt hoen rỉ, rồi đỉnh
đạc bước vào bên trong. Tiếng bước chân dội đều đều xuống nền gạch, chàng bước
đi, đầu ngẩng cao, cái dáng vẻ khoan thai và đầy tự tin của một ông chủ khi về
đến ngôi nhà thân yêu của mình.
- A! Bố đã về! – Đứa con gái đầu bổng từ xó xỉnh nào đó lao ra
như một cơn lốc. Năm nay nó vừa học lớp một, thấp nhỏ như một cây nấm rơm. Nó
vui mừng níu lấy áo bố, líu lo như chim vành khuyên – Hôm nay mẹ đi làm đồng, bắt
được một con cá gáy to lắm bố ạ. Mẹ đã làm thịt rồi. Con gà trống kiến nhà ta
chọi nhau với gà nhà bác Phương đấy. Gà nhà ta thắng, nó đuổi gà bác Phương chạy
như thế này này…
Nói rồi nó xoè hai tay ra như đôi cánh, nghiêng người chạy lòng
vòng quanh sân như một con gà trống chọi.
Mạnh Trí phải phì cười vì cái sự ngây thơ đáng yêu của con. Chàng
đưa tay, xoa nhẹ lên mái tóc mềm và óng như tơ của nó như một lời động viên,
tán thưởng.
Thấy bố về, thằng con trai ba tuổi cũng từ trong nhà lon ton chạy
ra. Mặt mũi nó nhem nhuốc, trên tay còn cầm cái ô tô đồ chơi bằng nhựa đã rụng
hết bánh xe. Ở nhà chàng vẫn gọi yêu nó là Bê, vì nom nó dễ thương và ngoan
ngoãn như một chú Bê con vậy. Cu Bê nhìn bố, nhe hàm răng trắng loá có những
chiếc răng nhỏ xíu và đều tăm tắp ra cười, rồi bất ngờ, nó quay ngoắt người, bỏ
chạy vào trong để chơi trò trốn tìm. Anh nhanh tay bắt được con ở ngay ngưỡng cửa,
bế bổng lên và hôn tới tấp vào môi, vào mắt nó.
- Ở nhà Bê chơi có ngoan không? Mẹ có thương Bê không?
- Mẹ thương Bê! – Nó vừa nghiêng đầu né tránh những cái hôn chùn
chụt liên hồi của bố vừa cất giọng lảnh lót.
- Chiều nay em Bê làm vỡ bát đấy bố ạ! – Con chị dẩu mỏ lên,
mách.
- Ứ phải! Là chị làm! – Cu Bê ngúng nguẩy cãi lại.
Mạnh Trí âu yếm lau những giọt mồ hôi rịn ra trên trán cho con rồi
nhẹ nhàng đặt lại nó xuống sân.
Chị vợ từ trong bếp đi ra, hai má ửng đỏ vì đun nấu.
- Mình về rồi đấy à? Mình đi rửa chân tay rồi chuẩn bị ăn cơm!
- Ờ…Ờ… Tôi vừa mới về! – Mạnh Trí đáp rồi nghiêng người, nhìn thẳng
vào mắt vợ bằng một ánh mắt đong đầy yêu thương.
Ngửi thấy mùi rượu nồng nặc từ miệng chồng phả ra, chị vợ khựng
lại, chun mũi:
- Mình lại uống rượu rồi phải không. Suốt ngày cứ say sưa như thế
là không tốt đâu. Lỡ hết cả công việc nhà cửa ra đấy.
- Chiều nay vừa uống vài chén với bác Mạnh Long. Thím đi đám cưới,
hai thầy trò buồn tình ngồi nhâm nhi rồi nhân tiện bàn công chuyện làm ăn luôn
thể – Chàng xoè tay, ngượng ngùng phân bua với vợ.
Bữa tối hôm ấy, như thường lệ, cả gia đình Mạnh Trí lại quây quần
bên mâm cơm ấm cúng. Trong lúc ăn, cô vợ gắp bỏ vào bát chồng một miếng cá kho
béo ú ụ và âu yếm nói:
- Mình ăn đi! Công việc ở nhà, lại cả bên thầy Mạnh Long nữa. Cần
phải ăn để có sức mình ạ. Nhỡ lại ốm ra thì khổ!
Ngày thường, Mạnh Trí vẫn nhận được sự quan tâm của vợ, thế
nhưng chẳng hiểu sao hôm nay chàng lại cảm thấy xúc động đến thế. Chàng hấp háy
con mắt, sống mũi cay cay, rồi cứ thế cắm cúi ăn mà chẳng nói nên lời.
Dù không sở hữu những đường nét thanh tú, nhưng Hiền – Người bạn
đời của Mạnh Trí – lại có vẻ đẹp khoẻ mạnh của một người phụ nữ nông thôn đặc
trưng. Thị cao lớn, phốp pháp và làm việc quần quật suốt ngày. Một đức tính
đáng quý nữa ở thị là rất biết chăm sóc và lo lắng cho gia đình, chồng con. Dù
suốt ngày phải đầu tắt mặt tối, nhưng chưa bao giờ người ta thấy thị hé răng
kêu ca hay đòi hỏi lấy một lời. Vậy nên, ở một khía cạnh nào đó, có thể nói
chàng Mạnh Trí nhà ta cũng là một con người có phúc phận trời ban vậy.
Chị vợ ăn xong, buông bát đũa, nói:
- À, này! Ngày kia mình đi chợ phiên mua cho tôi đôi rổ và tấm
lưới mắt cáo nhé! Cần phải quây lũ gà lại, để chúng khỏi ra quấy phá và đào bới
vườn nhà!
- Mình không nhắc thì tôi lại quên mất. Mấy bữa trước tôi cũng
đã nghĩ như vậy rồi đấy – Mạnh Trí gật gù, đáp.
Chàng húp thêm bát canh rồi gác đũa, ngồi thừ ra để suy nghĩ. Đối
với cái gia đình nhỏ này, chàng thật cần thiết và quan trọng biết bao. Người
đàn ông là cột trụ gia đình, như cái nóc nhà để che mưa che nắng. Nếu chàng ra
đi, một người đàn bà và hai đứa con thơ sẽ biết trông cậy vào đâu đây? Đồ đạc
hư hỏng không ai sửa chữa, cây cối đến vụ lấy ai chăm sóc, thu hái? Bấy nhiêu câu
hỏi cứ xoắn lấy chàng, khiến chàng bắt đầu hoài nghi về cuộc phiêu lưu sắp tới.
Xưa nay chàng lại chưa hề sống xa nhà bao giờ, cũng chưa thể hình dung nổi cuộc
sống xa lạ đó ra sao. Lòng chàng lúc này như một cánh cung đang bị kéo căng đột
nhiên chùng hẳn xuống, mất hết đi sức sống và sức chiến đấu. Tình cảm quan tâm
của vợ, sự bìu ríu của hai đứa con thơ đã tác động đến tâm tư chàng ghê gớm. Cứ
như một dòng nước lũ không ngừng vỗ ì oạp và xoáy sâu làm hao mòn thân thể của
con đê kiên cố. Rồi vì tiếc nhớ cảnh đoàn viên, chàng lại lừng chừng mà không
còn muốn theo đuổi chuyến đi như đã hứa với thầy Mạnh Long lúc chiều nữa.
Sáng hôm sau, Mạnh Trí xách nước tưới cho mấy luống rau, giúp vợ
cho hai đứa con ăn sáng xong rồi chơi đùa với chúng một lúc. Sau đó thì chàng lững
thững đi bộ sang nhà thầy Mạnh Long. Trên đường đi, chàng đã chuẩn bị sẵn trong
đầu những lời đối đáp để từ chối chuyến đi. Xưa nay Mạnh Trí vốn rất sợ thầy, vả
lại, chàng cũng không muốn mang tiếng là người thất hứa, nói lời mà chẳng giữ lấy
lời. Vậy nên chàng đã vắt óc, cố nghĩ ra những lý do thật thuyết phục và chính
đáng nhất để khi trình bày sẽ không sợ bị đuối lý. Chàng hiểu rằng, về cái khoản
lý sự, thầy Mạnh Long bao giờ cũng là người diễn đạt hay và lưu loát hơn chàng
rất nhiều.
Bà Lan đi ăn cưới vẫn chưa về, còn chủ chú – Thầy Mạnh Long –
thì đang ngồi đọc sách ở trước thềm. Mạnh Trí húng hắng ho trong cổ họng vài tiếng,
rồi như một người mất hồn, chú bắt đầu thất thểu bước vào trong sân. Cái đầu bù
xù nghiêng hẳn sang một bên, chú lệt sệt lê bước đến trước mặt thầy và cất giọng
thảm thiết:
- Thầy ơi!...
Thầy Mạnh Long hơi ngước lên, hé mắt nhìn anh cháu qua cặp kính
trễ:
- Có chuyện gì thế?
- Con muốn sang thưa với thầy một chuyện!…
- Lại chuyện tiền nong hả? Ta đã nói rồi, anh chỉ việc chuẩn bị
hành lý thôi, còn về tiền bạc cho chuyến đi thì cứ để ta lo hết…
- Dạ không!...Chuyện là… Hôm qua con đã nhỡ nhận lời đi chu du
thiên hạ với thầy. Nhưng về nhà nghĩ lại, con lại thấy…nó hơi mạo hiểm
quá…nên…- Chú định nói liền một mạch, nhưng nhìn vẻ mặt nghiêm nghị của thầy lại
sợ quá nên cứ lắp bắp mãi mà chẳng nói nên lời. Thế là công cốc, bao nhiêu dũng
khí và cả những lời chú đã chuẩn bị sẵn từ trước giờ đây cũng vụt tan như mây
khói.
Thầy Mạnh Long tháo cặp kính đeo mắt, để ngay ngắn lên cuốn sách
trên bàn.
- Nhụt chí, muốn bàn lùi rồi phải không? Lại giở thói nữ nhi thường
tình ra chứ gì? Ta biết ngay mà. Hay là anh đã nói cho vợ biết nên bị nó ngăn cản?
Ta đã dặn là anh không được tiết lộ thiên cơ cho ai biết kia mà? – Thầy xẵng giọng,
nói.
- Không, con không nói cho nhà con biết gì cả. Nhưng…
- Nhưng sao?...
- Về nhà, thấy vợ con bìu ríu. Con không nỡ rời xa mái ấm gia
đình, nên…
Thầy Mạnh Long thở dài, chỉ tay vào chiếc ghế, nói:
- Ta hiểu rồi. Con ngồi xuống đây!
Mạnh Trí xoa xoa hai bàn tay vào nhau, khép nép ngồi xuống.
- Bây giờ thì ta sẽ kể cho con nghe một câu chuyện – Giọng thầy
Mạnh Long chậm rãi – Có một con ếch nọ sống ở trong ao đầm. Suốt ngày nó kêu ộp
oạp, bạn bè của nó cũng chỉ là lũ tôm tép, lươn chạch vây quanh. Tất cả những
gì nó biết không vượt quá giới hạn của bờ ao, ngọn cỏ. Lại có một chú chim đại
bàng sải cánh bay lượn trên cao. Núi non, biển cả, sông hồ lần lượt hiện ra
trong tầm mắt. Trong những chuyến viễn du của mình, Đại Bàng lại biết được bao
nhiêu là chuyện lạ ở những vùng đất mà nó đã bay qua. Lại còn kết giao được với
vô số hảo hán cùng những con người thú vị khác trên đời. Vậy ta hỏi, nhà ngươi
muốn làm một con ếch ở trong ao đầm hay là làm cánh chim Đại Bàng bay lượn trên
cao?...
Được lên dây cót, Mạnh Trí cảm thấy tinh thần hăng hái và hào sảng
trở lại, tâm trạng chú cũng phấn chấn hẳn lên. Tự nhiên chú thấy mình có lỗi với
thầy vì đã tỏ ra tầm thường, kém cỏi. Nghĩ đến chuyện sáng nay mình đã mềm yếu,
mít ướt ra sao, chú đỏ mặt lên vì xấu hổ rồi tự chế diễu mình. Phải rồi, chú là
một nam tử hán đại trượng phu, sức vóc hơn người, đâu thể như cái lũ đàn bà suốt
ngày chỉ biết làm nũng và khóc lóc kia được. Phải cứng cỏi và mạnh mẽ lên, phải
đi ra ngoài để học hỏi và thử sức với đời cho phỉ chí.
Vư tưởng vậy là đã thông, Mạnh Trí gãi đầu, gãi tai:
- Dĩ nhiên là con muốn làm cánh chim Đại Bàng rồi. Chứ cái loại ếch
ngồi đáy giếng thì có gì đáng kể!…
- Vậy là biết cầu tiến. Nhiều khi ta thấy anh cũng là người
thông minh, hoạt bát đấy! – Thầy Mạnh Long hài lòng khen.
Mạnh Trí phổng mũi, đáp:
- Thú thực với thầy. Đó là vì thấy vợ con bìu ríu nên con mới có
chút phân vân đấy thôi. Kỳ thực thì con đang háo hức muốn được cùng thầy đi chu
du thiên hạ lắm. Phải đi ra thì mới biết đó biết đây. Có thế mới đáng mặt một
thằng đàn ông, chứ suốt đời cứ ru rú nơi xó nhà thì biết đến thủa nào mới khôn
ra.
Những lời kia khiến cho thầy Mạnh Long nở mày nở mặt lắm. Thầy
nhìn anh cháu với một ánh mắt vô cùng trìu mến, rồi sau khi đã búng hai ngón
tay xương xẩu đánh tách một cái, thầy cất cao giọng:
- Một, hai, ba…Nào! Bây giờ thì anh hãy quay về nhà và bắt đầu
chuẩn bị ngay đi là vừa. Hãy tập trung và toàn tâm toàn ý vào. Từ giờ đến lúc ấy,
chúng ta sẽ còn rất nhiều việc phải làm đấy. Cố gắng lên!
- Rõ! – Mạnh Trí rập chân, pha trò.
Hai thầy trò cùng cất tiếng cười vang, rồi họ lại từ biệt nhau
trong không khí vui vẻ và kết đoàn.
o0o
Đã là nhà văn thì phải có bút danh, dù đó là tên cúng cơm hay bất
cứ cái tên trời ơi đất hỡi nào mà anh nghĩ ra cũng được, miễn là nó hay và ý
nghĩa. Những hiệp sĩ hành hiệp trượng nghĩa cũng vậy, họ cũng cần phải có một
danh xưng để cho thiết hạ biết mặt, gọi tên. Cũng vì việc này, hảo hán của
chúng ta đã phải mất ba ngày ba đêm liền để suy nghĩ. Dù là lúc đang ở ngoài vườn
hay làm bất cứ công việc gì, ông cũng đều không ngừng nghĩ về nó. Sau cùng, ông
đã quyết định lấy cái tên mà những người bạn tổ tôm vẫn thường gọi mình là “Thất
Sách” để làm danh xưng. Xuất xứ của cái tên này là như vầy: Vốn người ta thấy
ông có dáng điệu gầy gò và ốm nhách giống như quân thất sách trong bộ bài tổ
tôm, bèn nhân đó gọi luôn cho tiện. “Hy vọng, một mai vang danh thiên hạ, người
ta sẽ có tên mà gọi” – Ông vừa xoa cằm vừa lẩm nhẩm một mình trong lúc ngồi bên
cửa sổ như vậy.
Để cho đồng bộ, thầy Thất Sách cũng đặt tên cho người đệ tử ruột
của mình là “Tam Văn”, vốn cũng là tên một quân bài mà ông yêu thích trong bộ
bài tổ tôm bất hủ.
- Tên của ta bây giờ là “Thất Sách”, vậy nên ta cũng đặt tên cho
con là Tam Văn. Hy vọng con sẽ là một trợ thủ đắc lực, luôn ứng xử mềm dẻo và biết
đưa ra những lời khuyên sáng suốt cho ta trên bước đường khó khăn, gập ghềnh
phía trước – Ông nói với đệ tử mình như vậy.
Về phần mình, Mạnh Trí cũng thích cái tên “Tam Văn” này lắm, vì
nó hay và ý nghĩa hơn cái tên của thầy rất nhiều. Tên của chú đọc lên nghe văn
vẻ, còn cái tên “Thất Sách” của thầy thì có vẻ xách mé và buồn cười làm sao ấy.
Nhưng kệ, ông ấy đã chọn thì ông ấy hưởng, còn mình thì cứ vui với cái tên của
mình trước đã.
- Sau này, trước bàn dân thiên hạ, con chỉ được xưng biệt danh
mà thôi. Không được gọi tên cúng cơm nữa, vì như vậy vừa phàm tục, vừa mất đi ý
nghĩa thiêng liêng. Nghe chưa! – Thầy Thất Sách đặc biệt lưu ý thêm.
Kính thưa độc giả! Để chiều lòng thầy Mạnh Long và cũng để tiện
bề theo dõi, từ nay chúng ta sẽ gọi ông là “Thầy Thất Sách” hoặc “Hiệp sĩ Thất
Sách”, còn Mạnh Trí thì sẽ là “Tam Văn”, chứ không còn gọi theo tên tục như trước
đây nữa.
Thế là ngay hôm ấy, dưới tán những cây xoài sum suê, lễ thu nhận
đệ tử đã được diễn ra chóng vánh và trang trọng. Sở dĩ thầy Thất Sách cố ý rút
ngắn chương trình như vậy, vì thầy sợ chẳng may bà vợ mình đi chợ về mà bắt gặp
thì chẳng hề hay ho một chút nào cả. Xưa nay, thầy vốn chúa ghét cái thói tò mò
và hay tọc mạch của cánh đàn bà, con gái mà lại.
Sau khi uống rượu pha tiết gà để ăn thề là đến màn tuyên thệ.
Lúc này, hai thầy trò họ đứng đối diện với nhau. Tam Văn đứng nghiêm, cứng đơ
như tượng gỗ, ánh mắt hấp háy vì cảm động. Thầy Thất Sách thì đặt bàn tay phải
lên trán trò, cất giọng trịnh trọng như tế lễ:
- Kính thưa chư vị thánh thần! Đồng kính cáo anh linh các hiệp
sĩ mọi thời đại! Hôm nay, ngày Tân Tị, tháng Nhâm Thân, năm Giáp Tuất. Tại
"Đạo Nhân Thi Quán”, xã Yên Phong, tôi: Hiệp sĩ Thất Sách, chính thức thu
nhận Tam Văn làm đồ đệ. Thể theo giới luật khắt khe của giới hiệp sĩ, Tam Văn
phải tuyệt đối tuân thủ những quy định sau đây: Một là phải gan dạ, kiên cường.
Hai là không ngại khó, ngại khổ. Ba là phải chiến đấu chống lại mọi cái xấu,
cái ác trên đời. Bốn là không được thoái chí, thối lui. Năm là phải hành hiệp
trượng nghĩa, cứu khốn phò nguy.
Dứt lời, thầy Thất Sách rút tay khỏi trán đồ đệ. Cùng lúc, Tam
Văn cũng nắm chặt bàn tay, vung nắm đấm lên, hô to:
- Xin thề!....Xin thề!...Xin thề!...
Những lời kia vang vọng khắp không gian, lan toả lên những cành
cây, kẽ lá, mặt chú đỏ lên vì quyết tâm, mắt chú rưng rưng vì xúc động.
o0o
Để có tiền trang trãi cho cuộc phiêu lưu, thầy Thất Sách đã phải
bán một con bò mộng và mấy chục con gà trống choai. Lại đúng vụ thu hoạch trái
cây, thầy cũng có thêm một khoản tiền kha khá nữa. Vậy là về mặt tài chính, tạm
thời đã có đủ, không còn phải lo lắng đến nữa. Vấn đề bây giờ là phải chuẩn bị
hành trang để lên đường. Là một người biết nhìn xa trông rộng, để có phương tiện
chỉ dẫn, thầy đã đi ra bưu điện mua một tấm bản đồ đất nước khổ lớn.
Lúc trao bản đồ cho ông, cô thư viện đã móc mỉa:
- Bác mua bản đồ về để xem khoảnh vườn nhà mình nằm ở góc nào đấy
à?
Nhưng thầy Thất Sách đã không hề tự ái. Thay vì nổi trận lôi
đình với kẻ hậu bối vô tri đã dám buông lời miệt thị kia, thầy chỉ nghiêng
mình, nhũn nhặn đáp:
- Cô ạ! Chúng ta sống trên đời cũng phải biết là mình đang ở đâu
chứ. Nếu không thì có khác gì là người mù đâu. Không có cái anh bản đồ này chỉ
dẫn ấy à, có lẽ là tất cả chúng ta đều trở nên lạc lối và mất phương hướng hết
thôi.
Sau khi về đến nhà, thầy Thất Sách lại tiếp tục sắm sửa thêm những
vật dụng thiết yếu khác nữa cho chuyến đi lịch sử này. Nào là thuốc men, băng gạc,
sách kinh dịch để bói quẻ, một cuốn sổ ghi chép nhật ký chuyến đi… rồi thì đủ
thứ linh tinh trên đời mà ông cho rằng cần thiết. Thầy đã phân công rất rõ
ràng: Trong suốt cuộc hành trình, Tam Văn có nhiệm vụ mang vác đồ đạc, giữ tiền
chi tiêu và mua sắm mọi thứ. Tóm lại, anh ta vừa là thủ quỹ vừa là nội trợ.
Ngoài ra còn có một cái điếu cày, được hai thầy trò nảy ra sáng kiến cưa ngắn
đi để bỏ gọn vào cái túi hồ lô của ông cháu. Của phải tội, cả hai thầy trò họ đều
là tín đồ hút thuốc lào mà lại. Đặc biệt nhất là cái radio nhỏ như bàn tay chạy
bằng pin. Hằng ngày thầy Thất Sách có thói quen nghe radio. Lúc nằm ông cũng để
radio bên cạnh để nghe, cho đến tận lúc ngủ thì mới tắt đi. Với một con người
có triết lý sống tối giản như thế, phương tiện hiện đại duy nhất mà ông sở hữu
chính là cái radio nhỏ này. Đã bao năm học tập và công tác xa nhà, sống cuộc đời
độc thân, thầy Thất Sách đã có rất nhiều kinh nghiệm về chuyện này. Tóm lại là
cái túi hồ lô của ông cháu sẽ đựng tất cả những gì là thập cẩm ở trong ấy: Quần
áo của hai thầy trò, đồ ăn thức uống, đèn pin, điếu cày, thuốc lào…; nói theo
ngôn ngữ nhà binh thì chính là quân trang quân dụng. Còn cái túi vải nhẹ của thầy
thì đựng những gì như chúng ta đã nói, bao gồm bốn vật bảo bối bất li thân:
Sách kinh dịch, tấm bản đồ, cuốn sổ ghi chép và cái đài radio nhỏ. Nói chung là
những thứ thuộc về bộ chỉ huy chiến lược. Nó là trung tâm đầu não của chuyến
đi. Mà nếu thiếu nó thì cuộc phiêu lưu không thể thực hiện, chứ đừng nói là đi
xa đến tận nơi chân trời, góc bể được.
Nếu như trước đây, mỗi tuần Tam Văn chỉ đến “Đạo Nhân Thi Quán”
ba ngày để làm vườn thì bây giờ hầu như ngày nào chú cũng đến. Suốt ngày, họ cứ
thậm thụt, lén lút, nhỏ to bàn tính mà chẳng dám cho một ai biết. Cũng may là dịp
này trùng với vụ thu hoạch trái cây, bà Lan chỉ ngỡ hai thầy trò họ đang bàn
công việc mùa màng nên cũng chẳng mảy may nghi ngờ gì cả. Hằng ngày, bà vẫn đi
chợ, nấu ăn và chăm sóc cho cả hai thầy trò một cách cẩn thận và chu đáo như mọi
khi.
Về vũ khí, thầy Thất Sách có một cây gậy độ mét hai, được làm từ
gỗ Lê, tròn và nhẵn bóng. Thầy vẫn quen gọi đó là trường côn. Nhất cử lưỡng tiện,
vì vừa làm gậy chống vừa làm vũ khí khi cần. Học trò Tam Văn thì sử dụng một
con dao làm bếp được làm bằng thép không rỉ, chỉ dài độ 30 cm. Ngoài việc làm bếp
và cắt gọt hoa quả, con dao này cũng có thể dùng làm vũ khí, lại bỏ gọn trong
túi được. Vì là vũ khí của hiệp sĩ, vậy nên con dao cũng phải có tên tuổi hẳn
hoi, thầy Thất Sách đã long trọng gọi nó với một cái tên mĩ miều là: Đoản đao.
Về trang phục: Thầy đi giày vải, quần ka ki, áo sơ mi, đầu đội
mũ lá rộng vành. Ngoài ra, ông còn khoác thêm bên ngoài một chiếc áo ba đờ xuy
màu cứt ngựa. Xưa nay ông chỉ thích khoác hờ chứ không cài cúc hẳn bao giờ, vì
ông cho rằng như thế thì sẽ trông giống như nhung y hay chiến bào của các chiến
tướng thời xưa hơn. Học trò thì mặc quần áo vải bình thường, chân đi dép xăng
đan có quai hậu. Ngoài ra Tam Văn còn đóng vai một chiếc đồng hồ di động, khi
chú vinh hạnh được chủ đeo cho một chiếc đồng hồ Seiko xịn có dạ quang, dù
trong đêm tối vẫn có thể xem giờ được. Trên bước đường phiêu lưu, thời gian là
quan trọng, có chiếc đồng hồ này thì họ có thể vạch cho mình mọi kế hoạch hành
động và xuất hành như ý.
Trước khi đi, hai thầy trò đã cùng nhau ra góc sân để luyện tập
đối kháng, phòng khi hữu sự phải phối hợp chiến đấu trên đường. Hôm ấy là đêm rằm,
trăng sáng lắm, bóng những cây xoài xoã xuống nền sân gạch những khoảng tối nhạt
nhoà. Gió thổi những chùm quả đung đưa lẫn trong tiếng lá xào xạc. Hai thầy
trò, hai cái bóng, một cao, một thấp. Đoản đao đấu với trường côn, kẻ đâm, người
đỡ, loang loáng dưới bóng trăng thanh. Côn quyền đua sức, thật là điêu luyện,
thật là dũng mãnh. Khung cảnh ấy hào hùng xiết bao, thượng võ xiết bao. Thật
đáng để cho lớp lớp hậu thế phải tự hào, phải học hỏi và suy ngẫm. Để cho thế hệ
hậu sinh biết rằng, ngày ấy, cha ông chúng đã sống ra sao, nhiệt huyết thế nào,
tài cao chí cả nhường bao. Chỉ chừng ấy thôi, cũng đủ để thấy cái tiền đồ phía
trước của cả hai thầy trò họ sẽ rực rỡ và sáng lạn như ánh bình minh ngày mới vậy.
Trong lúc hai thầy trò đang mãi mê luyện võ, cánh cửa sổ bất
thình lình mở toang, rồi có tiếng bà Lan hỏi vọng ra:
- Hai thầy trò làm gì ngoài đó mà cứ huỳnh huỵch như bắt trộm thế?
Thầy Thất Sách vội ngừng tay, nhanh trí đáp:
- Chúng tôi đang luyện võ để phòng gian. Đang mùa thu hoạch trái
cây, cũng cần phải phòng bị thật cẩn thận bà ạ!
Bà vợ căng mắt nhìn kỹ, thấy quả đúng là hai thầy trò họ đang luyện
võ thật, bèn không hỏi gì thêm nữa. Bà khép cửa lại rồi yên tâm lên giường đi
nghỉ.
Mấy hôm sau, khi thấy học trò đã khá thuần thục các thế võ cơ bản,
biết là đã có thể dụng binh, thầy Thất Sách bèn quyết định chuẩn bị lên đường.
o0o
Chiều thứ bảy, bổng đâu có tiếng loa vang vang từ bên ngoài vọng
vào “Đạo Nhân Thi Quán”. Thầy Thất Sách nghiêng tai lắng nghe một lúc, rồi hỏi:
- Tiếng loa gì thế?
Tam Văn cúi đầu, thưa:
- Tối nay họ chiếu video ở ngoài sân kho hợp tác. Nghe nói phim
này hay lắm, lại là phim bộ dài tập nữa. Con cũng đã được xem những phim đó vài
lần. Người gì mà cứ bay như chim, đánh võ chí choé rồi bắn ra chưởng xanh chưởng
đỏ. Xem hấp dẫn lắm thầy ạ. Ai cũng thấy thích mắt cả, nhất là cánh thanh, thiếu
niên. Có điều, đã xem thì phải theo dõi hết tập này đến tập khác. Có những bộ
dài đến tận mấy chục tập kia.
Thầy Thất Sách ung dung vuốt râu, giải thích:
- Đó chính là phim chưởng, được chuyển thể từ tiểu thuyết kiếm
hiệp trung quốc đấy. Những bộ phim ấy, ta đều có sách ở đây, đều đã thuộc lòng
cả. Những câu chuyện ấy rất li kỳ và hấp dẫn. Câu chuyện phiêu lưu sắp tới của
thầy trò ta cũng hay không kém đâu. Nếu không muốn nói là cổ tích giữa đời thực
nữa kia.
Thấy thầy mình biết hết, Tam Văn trố mắt ra vì thán phục. Lại
nghe nói mình sẽ là một nhân vật như trong phim kia, chú lại càng tò mò, phấn
khích tợn. Chú đứng nhấp nhổm, chân nọ cứ dẫm vào chân kia vì nóng lòng muốn được
xuất hành ngay tắp lự.
- Vậy khi nào thì thầy trò ta sẽ lên đường hả thầy? – Sau cùng,
vì không thể nhịn được nữa, chú buộc miệng hỏi.
Thầy Thất Sách liếc nhìn học trò, rồi nhíu mày, mím môi suy nghĩ
rất lung. Lát sau, thầy dằn mạnh tay xuống bàn, cất giọng dứt khoát:
- Ngay sáng mai sẽ đi! – Đến đây, ông cúi đầu, miệng mấp máy như
đang suy tính điều gì, rồi nói tiếp – Đây là thời điểm thích hợp nhất. Không thể
chần chừ thêm được nữa! Vậy chứ anh đã chuẩn bị xong chưa nào?
Quá cảm động vì bất ngờ, Tam Văn đứng đơ người ra, đáp:
- Thưa thầy! Đã!
Về phần Tam Văn thì luôn sẵn sàng. Chú nào cần phải chuẩn bị gì
nhiều đâu. Hành trang của chú chỉ là mấy bộ quần áo và một ít vật dụng cá nhân.
Vậy nên chỉ cần chủ có lệnh lúc nào là chú khởi hành ngay lúc ấy thôi. Vật cản
duy nhất của chú là tâm lý quyến luyến gia đình, nhưng vấn đề ấy bây giờ cũng
đã được giải quyết rốt ráo, tư tưởng chú đã hoàn toàn thông thoáng, chẳng còn
gì phải vướng vít nữa cả.
Chiều hôm ấy, trên bộ bàn đá ngoài vườn xoài, hai thầy trò ngồi
chăm chú trước tấm bản đồ tác chiến trãi rộng trước mặt. Thầy đeo kính lấp loá
và cúi rất thấp, trò ngồi chống cằm, mắt không rời khỏi bản đồ như hai vị chỉ
huy tối cao trước khi bước vào trận chiến. Ngón tay trỏ dài ngoẳng của thầy Thất
Sách thận trọng vạch một đường dài dọc theo đường kinh tuyến, đến một vị trí có
đánh dấu sao đỏ thì dừng lại:
- Đây là thành phố Hà Nội. Trước hết ta sẽ đưa trò đi khám phá
và tìm hiểu thủ đô văn hiến ngàn năm. Đánh dấu cho sự khởi đầu cuộc phiêu lưu
vĩ đại của chúng ta.
Tam Văn chẳng hiểu đường kinh tuyến là gì, chú cũng không biết
văn hiến là cái chi, nhưng lòng tò mò và háo hức khiến chú cứ gật đầu lia lịa,
đến nổi chẳng còn nhớ là chủ mình đã nói những gì nữa.
Chiều hôm ấy, lúc Tam Văn về đến nhà, thấy trên cổ tay chú
đeo chiếc đồng hồ Seiko lấp lánh, cô vợ ngắm nghía hồi lâu rồi thấp thỏm hỏi:
- Này, nhà lấy tiền đâu mà mua chiếc đồng hồ đẹp thế?
Tam Văn không muốn lộ chuyện, đành phải nói dối:
- Thu hoạch trái cây vất vả. Thầy Mạnh Long thưởng công cho đấy!
Mắt chị vợ sáng lên, lấp lánh ánh kim tiền:
- Đồng hồ Nhật xịn đấy. Làng này chẳng mấy người có đâu. Phải
bán cả mấy tấn thóc mới mua được một chiếc đồng hồ như thế đấy.
Tam Văn chỉ ậm ừ cho qua chuyện. Rồi vì không muốn để mụ vợ tò
mò thêm, chú tảng lờ đi rồi nhân đó nói lái sang chuyện khác. Giống như thầy của
mình, chú cũng chúa ghét cái thói tọc mạch và lê la của cánh đàn bà lắm chuyện.