Thứ Ba, 23 tháng 9, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương VII)

 

Vượt ngàn dặm, chẳng quản xa xôi

Về đất tổ, hiệp sĩ được vua Hùng báo mộng.

Vùng đất Phú Thọ xưa nay vốn nổi tiếng với những đồi Cọ trập trùng và đẹp như tranh vẽ. Hình tượng cây Cọ ở đây đã đi vào thơ ca, nhạc hoạ và làm say lòng biết bao tao nhân mặc khách bốn phương. Ngã ba Bạch Hạc là nơi hợp lưu của ba con sông lớn là sông Đà, Sông Lô và sông Hồng. “Minh đường tụ thuỷ”, nơi này vừa là đầu mối giao thông đường thuỷ, vừa thuận tiện cho việc phát triển nông nghiệp và quốc kế dân sinh. Có núi cao án ngữ, có sông dài chở che, Phong Châu thật xứng là vùng đất đế đô bền vững muôn đời của các vua Hùng tự ngàn xưa vậy.

Cho nên, đất tổ không chỉ linh thiêng, mà còn là một miền đất vô cùng xinh đẹp và nên thơ.

Một lòng hướng về đất tổ, hai thầy trò Tam Văn vẫn ngày đêm miệt mài rảo bước đi mau. Đồi cao, dốc đứng, núi thẳm, sông dài, chẳng khó khăn, gian khổ nào mà họ chưa từng nếm trãi. Theo bước chân lữ khách, những xóm làng, thôn trang lần lượt hiện ra trước mắt. Những đồi cọ xanh mướt, lá cọ nghiêng che trên đầu như những tán lọng tròn. Gió lộng trên đồi cao, mưa bay nơi đồng vắng, chẳng nơi đâu mà không in hằn những dấu chân của người hiệp khách. Thực là:

Non xanh nước biếc dạt dào

Cõi trần ai biết nơi nao là nhà

Tìm trong trời đất bao la

Tổ tiên nguồn cội ông cha sinh thành

Khi đến khu vực đền Hùng, trời cũng đã bắt đầu nhập nhoạng tối, hai thầy trò bèn tìm thuê một căn nhà trọ để nghỉ ngơi.

Hôm sau, từ sáng tinh mơ, họ đã lo lỏm đi ra phố để sắm lễ. Lễ gồm có đủ sáu món: Hương, hoa, trầu cau, mâm ngũ quả, bánh chưng và bánh dày.

Sau đó họ tắm gội, trai giới rồi đợi đến chiều thì đi lên viếng mộ vua Hùng. Trên con đường hai bên mọc đầy cỏ dại, thầy chống gậy gỗ Lê đi trước, học trò thành kính bưng lễ theo sau.

Đã đến dưới chân núi Nghĩa Lĩnh. Còn mấy tháng nữa mới đến hội, bởi vậy mà quang cảnh hãy còn vắng vẻ, yên bình. Nhưng cũng chính sự cô liêu ấy càng làm toát lên cái vẻ bí ẩn và trang nghiêm của một vùng đất thiêng. Tại đây, họ dừng lại bên một ngôi hàng để chỉnh đốn lại trang phục và sửa sang lễ vật. Sau đó hai thầy trò lại tiếp tục dóng bước để tiến vào đền Hạ.

Đền Hạ có lối kiến trúc kiểu chữ “Vương”, gồm các toà Đại Bái, Tiền Tế và Thượng Cung. Cây cối bao bọc, những tán cây cổ thụ lùm xùm che kín một bên mái ngói cong vút phía trên.

Thầy Thất Sách đỡ lấy mâm ngũ quả từ tay học trò rồi thành kính đặt lên ban thờ trong ngôi điện. Sau khi dâng hương, thầy lùi lại ba bước và khom mình quỳ mọp xuống, bắt đầu rì rầm khấn vái.

Tam Văn cũng chắp tay và im lặng quỳ bên cạnh chủ. Không khí linh thiêng, chú chẳng dám ngẩng mặt nhìn lên, chỉ thấp thoáng nhìn thấy những khói hương nghi ngút và màu sơn son thếp vàng lấp loá trong khoảng không gian tranh tối tranh sáng. Thứ duy nhất mà chú có thể nhìn rõ lúc này là vạt áo khoác Ba Đờ Xuy của chủ. Mỗi khi thầy chú cúi lạy, cái áo ấy lại cọ cọ vào người và phát ra những âm thanh sột soạt đều đều như kéo sợi.

Cứ thế, thầy Thất Sách sì sụp khấn vái hồi lâu, nhỏ to giãi bày tấm lòng thành của một người con xa xứ khi về với đất tổ.

Kết thúc buổi lễ, lúc đứng dậy, hai chân Tam Văn đã cứng đơ và tê dại vì chuột rút. Khi họ vừa ra khỏi đền Hạ thì lại bắt gặp một đoàn năm, sáu người nữa đi vào. Giống như thầy trò chú, những người kia cũng đội mâm ngũ quả trên đầu, tay cầm theo hương, hoa để cúng kiếng. Họ nói năng e dè, đi lại khúm núm, vẻ mặt ai nấy đều lộ vẻ tuân phục, trang nghiêm.

Lúc đi lên, Tam Văn mới bắt đầu dám mở miệng. Chú hỏi:

- Mình vừa dâng hương ở mộ tổ hả thầy?

- Chưa! Đó là đền Hạ, tương truyền là nơi mẹ Âu Cơ đẻ ra bọc trăm trứng, tức là tất cả nòi giống người Việt ta.

- Vậy bây giờ chúng ta sẽ lên mộ tổ chứ?

- Cũng chưa! Bây giờ ta sẽ dâng hương ở Tổ Miếu, gọi là đền Trung.

- Vậy mộ tổ ở đâu?

- Trên đỉnh núi. Nơi giao thoa giữa trời và đất, là nơi cao và linh thiêng nhất, gọi là đền Thượng.

Họ lại dìu nhau leo lên những bậc đá, lối đi này do nhân tạo, hai bên có đắp hai hàng con chạch chạy dài và uốn lượn quanh co. Lúc này mới thấy cây gậy trong tay thầy Thất Sách tỏ ra vô cùng hữu dụng, nó như là một cái chân thứ ba của thầy vậy, giúp cho chủ nhân luôn bước đi vững vàng mà chẳng hề mệt mỏi gì cả.

Đền Trung nằm ở lưng chừng núi, toạ lạc giữa một khoảng đất rộng và bằng phẳng. Phía trước đền có chín tảng đá nom như những cái đôn được xếp thành hình tròn, tảng đá to nhất đặt ở chính giữa. Theo truyền thuyết, nơi đây vua Hùng đã cùng với các Lạc Hầu, Lạc tướng ngồi để bàn việc nước.

Thầy Thất Sách lại dâng lễ, lại khấn vái rồi tiếp tục đi lên đền Thượng.

Leo thêm mấy trăm bậc đá nữa thì bắt gặp một cái cổng tam quan cao lớn. Trước cổng có tượng hai ông tướng cầm đao đứng gác. Trên cổng đắp nổi rồng phượng và có bốn chữ nho rất lớn: “Kính Thiên Lĩnh Điện”.

Bên trong đèn nến sáng choang, hoa cúng chất đầy, long ngai, đồ thờ sơn son thếp vàng rực rỡ. Tượng vua Hùng ngồi uy nghiêm ở chính điện. Một không khí trang nghiêm dễ khiến cho người ta có cảm giác sợ hãi và choáng ngợp.

Vừa nhìn thấy tượng vua Hùng ngồi ngự trên long ngai, thầy Thất Sách đã lập tức cúi người quỳ mọp xuống. Hồi lâu, thầy mới dám ngẩng mặt lên, rồi chắp tay, bắt đầu khấn vái. Trong bài khấn của mình, thầy đã thống thiết xin các vua Hùng phù hộ và cho phép mình được đi chu du thiên hạ để hành hiệp trượng nghĩa, thế thiên hành đạo.

Lễ xong thì cũng đã chiều muộn. Thầy Thất Sách quyết định sẽ ngủ lại một đêm trên núi Nghĩa Lĩnh để hấp thụ linh khí tổ tiên. Bởi vậy mà từ chập tối, hai thầy trò đã trãi chiếu ra một chỗ góc tường để chuẩn bị nghỉ ngơi.

Trong lúc làm, thầy Thất Sách nói:

- Này trò! Con có hiểu vì sao di tích đền Hùng lại phân thành ba khu vực là “Đền Hạ”, “Đền Trung” và “Đền Thượng” hay không?

- Vì người ta gọi tên theo vị trí. Hạ là dưới, trung là ở giữa, còn thượng là trên cùng – Tam Văn vừa giũ tấm ga phần phật, vừa đáp.

- Về lý thuyết thì quả đúng như vậy. Nhưng ở đây còn hàm chứa một ý nghĩa to lớn và sâu xa hơn rất nhiều - Thầy Thất Sách nói - Đền Hạ là nơi tương truyền mẹ Âu Cơ sinh hạ ra bọc trăm trứng. Đó là nơi thấp nhất, giống như một con người khi mới ra đời, nhưng cũng mang tính nền tảng và quan trọng nhất. Có trước thì mới có sau vậy. Đền Trung là nơi vua Hùng bàn việc nước với các Lạc Hầu, Lạc Tướng. Khi con người ta trưởng thành thì sống giữa cuộc đời và cũng phải lo toan việc đời sống. Còn đền Thượng ở trên cùng, nơi đặt mộ tổ. Ý muốn nói, con người ta khi chết đi sẽ bắt đầu sự sống đời đời, sẽ hoá thành khí thiêng sông núi. Cả ba ngôi đền, thượng, trung, hạ tượng trưng cho ba giai đoạn của cuộc đời một con người, từ khi sinh ra cho đến khi trưởng thành và chết đi. Đấy, tổ tiên ta đã gửi gắm cái triết lý sâu xa đến những thế hệ con cháu mai sau như vậy đấy!

Trời bắt đầu sầm sập tối mau. Cái cổng tam quan lừng lững, cả những hình rồng phượng đắp nổi trên đó cũng bắt đầu nhoè dần, chẳng còn nom rõ hình thù gì nữa. Những sơn son thếp vàng cũng vậy, lúc này đã chuyển dần sang màu đen  thẫm, nhạt nhoà. Thị giác đã không còn hoạt động, chỉ còn thính giác là có thể phát huy tác dụng mà thôi. Đã không còn nhìn thấy những tán cây trên cao nữa, thay vào đó, chỉ nghe được những tiếng cành cây cọ vào nhau, tiếng gió thổi rì rào trên tán lá.

Tam Văn quấn khăn quanh người và ngồi thu lu vào một góc, hai con mắt chú dài ra, đầy vẻ lo lắng, sợ hãi. Vốn là người tinh ý, thầy Thất Sách nhìn học trò, hỏi:

- Trò bị làm sao thế?

- Thầy ơi!...Con sợ! - Tam Văn cất giọng run run.

- Trò sợ gì? - Thầy Thất Sách hỏi và đặt tay lên vai học trò. Thấy toàn thân chú đang run lên bần bật như cầy sấy.

- Sợ ma! Thầy xem…trời thì tối, lại chỉ có hai thầy trò ta ở trên đỉnh núi này. Xung quanh toàn là cây cối rậm rì. Lại ở ngay cạnh đền miếu nữa…

Giọng thầy Thất Sách vang lên trong bóng tối:

- Trò nghĩ sai rồi! Ở đây đã có anh linh các vua hùng và các thánh trấn giữ. Làm gì có ma quỷ nào dám bén mảng đến đây để quấy nhiễu thầy trò ta. Vả lại, đã có ta bên cạnh. Con chớ có lo!...

Tam Văn im lặng không đáp. Được thầy trấn an, chú cũng cảm thấy đỡ sợ đi phần nào. Tuy vậy, tiếng chân của những loài thú ăn đêm, tiếng chuột chạy, tiếng loạc xoạc của các loài bò sát trườn trên lớp lá khô, khiến cho chú thần hồn nát thần tính, thi thoảng lại rùng mình mà sởn hết gai ốc.

Gió thổi miên man, như mơn trớn và khơi gợi cơn buồn ngủ. Hai thầy trò đặt mình nằm xuống, và chỉ vài phút sau, họ đã bắt đầu chìm vào giấc điệp mơ màng.

Nửa đêm trong giấc ngủ, thầy Thất Sách mơ thấy từ trong chính điện có một luồng khí xanh bay ra. Luồng khí ấy sáng rực như một ngôi sao trên trời, bay là là qua những mái đền, những tháp, những tán cây cổ thụ um tùm. Luồng khí vụt đến trước mặt thầy Thất Sách, rồi biến thành một người đàn ông tướng mạo khôi vĩ, râu dài, mắt sáng. Người ấy mình mặc triều phục, lưng đeo gươm báu, đầu đội mũ có giắt lông chim thành tua như những tia nắng mặt trời.

Người đó cất giọng vang vang như sấm:

- Hỡi Thất Sách! Ta chính là vua Hùng đời thứ sáu đây! Niệm lời cầu khẩn, nay ta hiện về báo mộng cho con được biết: Nay ta trao cho con sứ mệnh giữ gìn phong tục, dựng lại nền phong hoá non nước tiên rồng. Con hãy đi khắp bốn phương, làm thật nhiều việc nghĩa, lập thật nhiều chiến công. Nhưng hãy nhớ, con phải một lòng vì nước vì dân, trừ gian diệt ác, tuyệt không được lạm sát những người vô tội! Hãy đem hết tài trí của mình ra mà khuông phò chính nghĩa, cứu khốn phò nguy, để cho bá tánh lê dân được yên hưởng thái bình. Khâm thử!

Nói xong, người ấy lại biến thành luồng khí xanh, rồi theo đường cũ, bay vào trong chính điện. Âm thanh từ lời nói trầm hùng ấy vẫn còn vang vọng mãi, hồi lâu mới tan hết.

Thầy Thất Sách giật mình bừng tỉnh, trong lòng muôn phần kinh sợ, mồ hôi khắp người chảy ra ướt đầm như tắm. Lúc này, thần trí thầy cứ bồi hồi, nôn nao như một người vừa mới ốm dậy. Nhìn sang, thấy anh cháu vẫn nằm ngáy pho pho, thầy bèn lay chú dậy:

- Này!... Tam Văn. Dậy đi!...

- Có chuyện gì…vậy thầy!...- Tam Văn quờ tay, ú ớ.

- Vừa rồi nhà ngươi có mơ thấy gì không?

Tam Văn ngồi dậy, ngơ ngác:

- Không! Con có mơ thấy gì đâu!...

Thầy Thất Sách bồi hồi:

- Lạ thật! Ta thì lại mơ thấy…

Tam Văn dụi mắt, vươn vai để cố cưỡng lại cơn buồn ngủ. Chú ngáp dài, nói:

- Có thể hôm qua thầy leo núi mệt. Cho nên tối ngủ mê đấy thôi. Âu đó cũng là sự thường mà!...

- Không! Là ta mơ thấy vua Hùng. Phải! Chính vua Hùng thứ sáu đã báo mộng cho ta đấy!...

Tam Văn sợ quá, tỉnh hẳn cả ngủ.

- Là thầy…nói…sao? – Chú lắp bắp, đảo mắt nhìn quanh, kinh hãi.

Thầy Thất Sách bắt đầu kể lại sự tình trong giấc mơ cho học trò nghe.

Tam Văn ngồi ngẩn ra, hồi lâu mới nói:

- Vậy là lòng thành của thầy đã được các vua Hùng chứng dám rồi đó. Lời nguyện cầu nay đã được linh ứng!…

- Có thể vậy!...

Đêm về khuya, sương rơi dày, lạnh giá. Thầy Thất Sách lục lấy cái áo Ba Đờ Xuy khoác lên người, rồi từ đấy hai thầy trò cứ ngồi nói chuyện để chờ sáng, hầu như không ngủ thêm được phút nào nữa.

Hôm sau, thầy trò Tam Văn thắp hương bái lạy các vua Hùng, rồi cùng đi xuống núi, bùi ngùi tạm biệt đất tổ.

Đi được một thôi đường, họ bắt gặp một đứa trẻ đội nón lá đang lùa đàn bò đi thong dong trên đường. Thầy Thất Sách vẫy nó lại, nói:

- Này, tiểu đồng!…cho ta hỏi…

Đứa bé ngước cặp mắt tròn xoe, ngơ ngác:

- Tiểu đồng là gì ạ?

- À!... cháu bé! Đường đến bến phà đi lối nào vậy?

Đứa bé trỏ roi, nhanh nhảu:

- Bác cứ đi theo lối kia. Đến chỗ cây Đa cổ thụ thì rẽ phải. Men theo bờ sông một đoạn nữa là bến phà đó!

Dọc bờ sông, cây cỏ mọc um tùm, xanh tốt. Những cây dứa dại, cây chùm ngây ken dày và chen chúc nhau như xây luỹ, xây thành. Đã nhìn thấy bến phà phía trước mặt. Dựa lưng vào triền đê, có một ngôi quán làm bằng tre nứa, mái lợp lá cọ, bên trong có chừng hơn chục người khách đang ngồi. Thầy trò Tam Văn, người chống gậy, kẻ vác bao, chậm rãi bước vào. Trong lúc đợi phà, người ta uống nước, hút thuốc và ăn bánh trái. Những người khác thì tỉ tê trò chuyện để giết thời gian và để cho đỡ sốt ruột.

Dòng sông lấp lánh ánh bạc, uốn lượn và lững lờ chảy về chốn xa. Trời mây, non nước một màu, chẳng còn phân biệt được đâu là trời, đâu là nước nữa. Thầy Thất Sách đặc biệt thích cảnh này, vì nó rất giống phong cảnh được miêu tả trong những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp mà ông đã từng được đọc trước đây.

Cách chỗ thầy Thất Sách chừng hai hàng ghế, có một gã đại hán lực lưỡng, đầu cạo trọc lốc đang ngồi bắt chân chữ ngũ. Trên khuôn mặt chữ điền xạm đen của gã, hai hàng lông mày rậm rì xếch lên nom rất dữ tợn. Gã để thanh giới đao bên cạnh (thực ra là một con dao bầu mổ lợn), áo cởi phanh ra cho mát, để lộ bộ ngực nở nang đầy lông lá. “Chẳng hiểu hắn ta thuộc môn phái nào nhỉ? Với một thanh Nhất Đao và sức vóc như thế, nếu hắn nhắm vào mình mà tấn công thì quả thật là nguy hiểm. Chưa kể, nếu hắn luyện cả “Cửu Dương Thần Công” nữa thì vô cùng tai hoạ. Tốt nhất là hãy đề phòng, để nhỡ hắn có tung chiêu thì ít ra mình cũng còn kịp ra tay ứng phó” – Thầy Thất Sách nghĩ thế, rồi bất giác sờ vào thanh trường côn của mình, ánh mắt gườm gườm cảnh giác. Thực ra, gã kia là một tay đồ tể chuyên làm nghề giết mổ thuê. Hôm nay, gã sang sông là để làm thịt trâu cho một đám cưới to ở làng bên cạnh.

Họ phải chờ khá lâu, đã gần nửa tiếng đồng hồ rồi mà vẫn chưa thấy bóng dáng con phà đâu cả. Tam Văn đã bắt đầu tỏ ra bồn chồn, nhiều người khách khác cũng vậy. Nhưng thầy Thất Sách thì chẳng bụng dạ đâu mà sốt ruột, vì thầy còn phải vận dụng hết tâm trí để mà đề phòng đối thủ tiềm tàng của mình là gã đại hán kia.

- Kia rồi! – Một người khách đưa tay chỉ.

Giữa dòng nước bàng bạc như sương khói, chiếc phà xuất hiện như một chiếc lá Đa nổi trôi giữa dòng. Mũi phà hiện ra lớn dần, rõ dần, tiếng máy nổ phành phạch vọng vào bờ. Đã nhìn thấy những người, xe lố nhố đứng, ngồi trên đó.

Mũi phà cập bến, đưa theo những con sóng vỗ ì oạp vào bờ. Hai người đàn ông khoẻ mạnh lôi ra hai tấm ván dài và rộng bản, rồi hò nhau thả xuống để làm cầu tàu. Hành khách, xe cộ lục tục đi xuống. Đợi cho khách xuống hết, những người ngồi đợi lại bắt đầu đi lên phà.

Phà ra giữa dòng, lúc này mới thấy hết cái sự rộng lớn và hùng vĩ của con sông mà khi còn ở trên bờ người ta không thể nào hình dung được. Bờ đất lúc này chỉ còn là một dãi mờ xanh, kéo dài như nét vẽ trong tranh.

Trong lúc ngồi trên phà, thầy Thất Sách vẫn không ngừng nêu cao tinh thần cảnh giác. Thi thoảng, thầy lại liếc nhìn gã đồ tể với một ánh mắt đầy vẻ dè dặt, đề phòng. Thật chẳng khác nào một con hổ vằn đang kình nhau với một con báo đốm khi chúng vô tình chạm mặt nhau trên thảo nguyên bao la vậy.

Phà cập bến, hành khách kéo xuống, rồi mỗi người tản đi một ngả. Sau khi xuống phà, gã đồ tể bước nhanh đến chỗ một chiếc xe máy đang đợi sẵn. Tay trái gã cắp đao, tay phải vịn vai người kia và ngồi lên xe. Chiếc xe nổ máy rồi phóng vụt đi, để lại phía sau một đám khói mỏng mảnh màu trắng nhạt. Thầy Thất Sách nhìn theo, thở phào nhẹ nhõm, rồi giục học trò đỡ lấy hành lý và bắt đầu đi xuống phà.

Lên đến bờ, thầy Thất Sách rỉ tai, nói:

- Này, Tam Văn! Nhà ngươi có biết là lúc nãy chúng ta đã gặp nguy hiểm như thế nào không?

Tam Văn ngơ ngác:

- Phà vẫn chạy bình thường, người lên rồi người xuống. Con có thấy chuyện gì khác thường đâu?

Thầy Thất Sách lắc đầu:

- Nhà ngươi thật là vô tâm như nghé. Hồi nãy, nếu không có ta để ý đề phòng, tên đại ma đầu kia đã ra tay động thủ rồi ném xác hai thầy trò ta xuống sông để làm mồi cho cá rồi cũng nên!

- “Đại ma đầu” nào? – Tam Văn lại càng ngạc nhiên, không hiểu.

- Ngươi có thấy gã đầu trọc ngồi cạnh buồng lái, bên cạnh là một thanh nhất đao sáng loáng hay không?

Tam Văn đưa tay bóp trán, rồi nói:

- À!...Cái gã mặc áo phanh ngực, đầu cạo trọc chứ gì?

- Phải! Chính hắn!

- Đó là một người làm nghề giết mổ. Cái anh cu sứt làm thịt lợn làng mình cũng vậy. Đi đâu cũng mang theo một con dao chọc tiết Lợn như thế đấy!...

Thầy Thất Sách vẫn lắc đầu, quả quyết:

- Ngươi thật chẳng hiểu gì sất. Hắn ta chính là một tên “Đại ma đầu” chính hiệu đấy! Ngươi lầm chứ ta thì không thể nào lầm được đâu!

Với Tam Văn mọi thứ đều bình thường, nhưng với thầy Thất Sách thì câu chuyện lúc nào cũng trở nên nghiêm trọng cả. Nguyên nhân vì chú là người tỉnh táo, còn chủ chú thì lại hoang tưởng và nhìn đời qua lăng kính của những cuốn tiểu thuyết kiếm hiệp. Tất cả đều là do thầy chú tự tưởng tượng ra, chứ thực chất làm gì có gã “Đại ma đầu” nào kia chứ. Thường thì Tam Văn vẫn hay nhường chủ, nhưng lần này chú dám chắc gã kia chỉ là một người làm nghề giết mổ mà thôi, vì vậy mà không ai chịu ai cả. Nhưng để tiếp tục cuộc hành trình, cả hai đều phải cùng nhìn về một hướng. Vì vậy mà Tam Văn đã không tranh cãi nữa, chú quyết định gác lại chuyện bất đồng quan điểm với thầy mình sang một bên.

- Giờ thì chúng ta sẽ đi theo hướng nào, hở thầy? – Tam Văn vác cái túi lên vai, hỏi.

Thầy Thất Sách khoát tay:

- Hãy đi đến bất cứ nơi nào mà đôi chân có thể đưa ta đến. Thầy trò ta sẽ đi đến cùng trời cuối đất, cho đến khi không còn chỗ nào để đi nữa mới thôi. Đôi chân ta dẻo dai, cánh tay ta dũng mãnh, còn trái tim ta thì nóng bỏng và tràn đầy nhiệt huyết. Này Tam Văn! Nhà ngươi đã quên rồi hay sao? Ngay từ khi còn ở “Đạo Nhân Thi Quán” ta đã từng nói, rằng chúng ta ra đi là để tìm kiếm phiêu lưu và để lập nên những chiến công hiển hách kia mà! 

Thứ Năm, 18 tháng 9, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương VI)

 Đi Sà Lan trên sông Hồng

Sau khi rời khỏi nhà trọ, hai thầy trò Tam Văn cùng nhắm hướng hữu ngạn sông Hồng, rảo bước.

Qua nhiều tuyến phố nhằng nhịt như những ô bàn cờ, sau cùng, họ dừng lại trước một cái ngã sáu đông đúc. Tại đây, họ vừa phải né mình tránh những dòng xe cộ đang lao vun vút trên đường, vừa nhanh chóng băng qua bốt hàng Đậu để đi lên cầu Long Biên. Bốt này vốn là một cái tháp hình tròn được xây bằng đá, bề mặt lồi lõm, nom rất đẹp mắt. Trông xa giống như một cái đài quan sát, đồng thời còn đóng vai trò là một lô cốt phòng thủ kiên cố. Bên trên bốt có các ô cửa hình vòm thông ra các hướng như những lỗ châu mai. Khi xây dựng cách nay khoảng một thế kỷ, hẳn là người ta cũng đã có dụng ý đó rồi. Vì cái bốt này án ngữ ngay cửa ngõ cầu Long Biên, kiểm soát toàn bộ lối ra vào quan trọng của thành phố.

Mấy ngày ở Hà Nội, điều khiến Tam Văn cảm thấy khó khăn nhất và cũng không kém phần sợ hãi, ấy là những lúc đi bộ sang đường. Lúc này, xe cộ lao vun vút, chẳng có quy luật gì cả, cứ như là đang sắp đâm thẳng vào người vậy. Những lúc ấy, chú cứ phải nhắm mắt lại, đánh liều mà bước qua đường, mặc cho số phận ra sao thì ra. Sau cùng, chú rút ra một kinh nghiệm, ấy là cứ đi thật chậm rãi, đừng sợ hãi gì cả, cứ để cho xe cộ họ tự tránh mình. Nhưng dù sao, phó mặc sự an nguy của mình cho những người khác khi đang lái xe với tốc độ cao như thế, thì cũng không phải cách mà chú cho là tốt lắm.

Đi qua một đoạn đường vòng cua có hàng rào gắn những con tiện phía dưới, họ đã đặt chân lên cầu Long Biên. Cây cầu giống như một con rồng sắt khổng lồ này được người Pháp xây dựng trong vòng bốn năm (từ 1899 đến 1902), giúp cho việc lưu thông qua lại giữa hai bờ trở nên vô cùng thuận tiện và hữu ích. Ban đầu cầu có tên là Doumer, vốn được đặt theo tên của Toàn quyền Đông Dương lúc bấy giờ là Poul Doumer. Cầu có tổng chiều dài là 1862 mét. Khách bộ hành, xe đạp, xe máy, xe ba gác, tàu hoả đều có thể đi qua được cả. Tàu hoả thì chạy trên đường ray được thiết kế ở giữa, còn người đi bộ và các phương tiện khác thì lưu thông hai bên.

Đến một chỗ có lan can nhô ra, hai thầy trò dừng lại để nghỉ ngơi. Tam Văn đặt hành lý xuống, đứng vịn tay vào thành cầu, ngắm nhìn dòng nước đục ngầu đang không ngừng cuộn chảy phía dưới. Gió thổi lộng, ràn rạt bên tai như có bão, khiến cho đầu tóc chú xổ tung, dựng đứng như lông nhím.

Thầy Thất Sách nói với học trò:

- Mọi nền văn minh đều bắt nguồn bên những dòng sông vậy!

Rồi thầy lại cúi nhìn những con sóng phía dưới, trầm ngâm:  

- Đồng bằng châu thổ sông Hồng vốn là cái nôi của nền văn minh Đại Việt ta. Những dòng luôn sông gắn liền với tiến trình lịch sử nhân loại, nuôi dưỡng các nền văn hóa phát triển rực rỡ. Để rồi cuối cùng có được một xã hội loài người tiến bộ như ngày hôm nay.

Cách chỗ họ đứng không xa, có một cái cù lao nhô ra giữa lòng sông. Người dân ở đây vẫn quen gọi là bãi giữa. Mùa nước cạn thì bãi giữa nổi lên với phù sa màu mỡ, những người nông dân đã trồng trọt các giống cây nông nghiệp ngắn ngày ở đây. Khung cảnh vì vậy mà thêm phần thơ mộng bởi ngô, khoai, lạc, đậu và màu xanh mướt của cây trái. Đến mùa mưa lũ thì bãi giữa lại ngập chìm trong nước, khi ấy thì không còn trồng trọt được gì nữa cả. Khi dòng nước rút đi, để lại một bãi giữa phù sa màu mỡ, chờ đợi con người gieo trồng, chăm bón vụ sau. Trên bãi, những cái lán tạm bằng tranh liếp nằm chênh vênh, xiêu vẹo. Dưới bến, có mấy chiếc thuyền nan đang neo đậu, mỏng mảnh như những chiếc lá tre đang nổi trôi trên dòng nước. Cảnh tượng ấy tạo nên một sự tương phản thú vị, một phương thức canh tác xa xưa hiện diện ngay giữa lòng một thành phố rộng lớn và hiện đại của thời nay.  

Dưới lòng sông, những chiếc phà chở cát và hàng hoá nông sản ngược xuôi qua lại. Đứng từ trên cầu, có thể nhìn thấy những con người đang đi lại nhấp nhô dưới đó, nom bé nhỏ và ngộ nghĩnh như những con búp bê di động.

Giữa khi ấy thì có tiếng rầm rập như cán thép bổng từ đâu dội lại. Tam Văn còn chưa kịp hiểu chuyện gì xẩy ra thì đã thấy một đoàn tàu hoả xình xịch từ đằng xa lao tới. Chưa bao giờ chú thấy tàu hoả chạy gần đến thế, đến nổi chú có thể nhìn thấy được cả những hành khách đang ngồi lố nhố bên trong. Lần đầu đi xa, Tam Văn đã được chứng kiến rất nhiều những cái đầu tiên như thế. Đây là lần đầu tiên chú thấy một cây cầu bằng sắt dài và đẹp như trong phim, lại có cả đường ray để cho tàu hoả chạy được trên đó nữa.

Một thế kỷ tồn tại, cây cầu đã chứng kiến biết bao buồn vui kiếp người, cũng như những thăng trầm của vùng đất nơi đây. Bởi vậy mà trong tâm hồn người Hà Nội, cầu Long Biên có một ý nghĩa lịch sử và văn hóa rất quan trọng, không thể thay thế. 

Qua khỏi cầu Long Biên, Tam Văn hỏi:

- Bây giờ thì chúng ta đi đâu hở thầy?

Thầy Thất Sách không đáp, mà chỉ hỏi:

- Này Tam Văn, trò có biết đạo hồi không?

- Có phải những người đội khăn, mặc áo dài trắng và thường cầu nguyện trong những ngôi nhà thờ có mái vòm thật lớn không thầy?

Thầy Thất Sách gật gù:

- Phải! Chính thế đấy! – Rồi thầy nói tiếp - Có hơn một tỉ tín đồ hồi giáo sống ở trên khắp hành tinh. Và trong suốt cuộc đời mình, ít nhất một lần họ phải hành hương về thánh địa Mecca, nơi đã khai sinh ra đạo hồi. Chúng ta cũng vậy, là con dân nước Việt, mỗi một người cũng cần ít nhất một lần trong đời phải đến viếng thăm đền Hùng.

- Ý thầy muốn nói?...

- Phải! Hai thầy trò ta sẽ hành hương về Phú Thọ, viếng mộ các vua Hùng.

Tam Văn tỏ ra rất háo hức, nét mặt rạng ngời, vì đây là lần đầu tiên chú được đi đền Hùng.

- Bây giờ chúng ta sẽ đến bến xe chứ? – Tam Văn lại hỏi.

- Không! Chúng ta sẽ không đi bằng đường bộ, không đi ô tô!

- Vậy thì đi bằng gì?

- Chúng ta sẽ đi phà. Đi đường thuỷ!

- Vì sao lại không đi ô tô hở thầy?

- Vì nếu thế thì tầm thường quá. Ta muốn ra mắt các vua Hùng theo một cách độc đáo và ấn tượng nhất có thể. Có trãi qua những khó khăn, vất vả thì mới chứng tỏ được lòng thành, cuộc viếng thăm mới có ý nghĩa trò ạ. Hơn nữa, đi phà trên sông vừa thi vị, vừa là một trãi nghiệm có một không hai vậy.

Tam Văn à lên một tiếng đầy thú vị. Thật không hổ danh, thầy chú bao giờ cũng là người nghĩ cao, nghĩ xa hơn chú rất nhiều. Rồi trong cơn mơ màng vì ảo ảnh, chú hỏi:

- Con xem phim chưởng, thấy có những cao thủ võ lâm có thể khinh công đi trên mặt nước như đi trên bộ ấy. Như vậy thì cần gì phải thuyền bè nữa thầy nhỉ?

Được khơi đúng mạch, thầy Thất Sách phấn chấn hẳn lên:

- Đúng là có thể làm như vậy. Nhưng chỉ với khoảng cách ngắn thôi. Ví như từ bờ bên này sang bờ bên kia chẳng hạn. Chứ không thể khinh công trên mặt nước suốt cả chặng đường dài hàng trăm cây số như thế này được.

Trao đổi xong, họ lại dắt díu nhau đi dọc theo bờ bắc sông Hồng. Đến một cái bến, nơi có những đống cát chất cao như núi, thầy Thất Sách dừng lại, nói:

- Chúng ta sẽ xuống đây để xin quá giang!

Có bốn người phu đang xúc cát đổ lên một chiếc xà lan đỗ ở sát mé sông. Họ cắm cúi làm việc, cho nên chẳng ai để ý là hai thầy trò Tam Văn đang tiến lại gần. Có vẻ như công việc cũng sắp hoàn thành, vì cát ở dưới boong đã đầy ắp, chiếc xà lan cứ dập dềnh lên xuống một cách nặng nhọc như một lời cảnh báo là trọng tải đã đạt đến mức giới hạn.

Quả vậy, vừa khi ấy thì bốn người kia cũng dừng tay mà không làm nữa. Họ ném những cái xẻng lên trên thành boong, rồi cùng xoãi chân, ngồi bệt xuống vạt cỏ gần đấy để nghỉ. Rồi họ lại lấy thuốc lá ra hút và bắt đầu trò chuyện rì rầm.

- Chào các anh! – Thầy Thất Sách chống gậy bước tới, nói.

Đám người kia ngạc nhiên, quay lại nhìn.

- Phiền cho hỏi, thuyền này xuôi về đâu vậy? – Thầy Thất Sách nói tiếp.

- Chúng tôi về Phú Thọ! – Một người đáp với thái độ thờ ơ, rồi bật lửa châm thuốc hút.

Thầy Thất Sách cả mừng:

- Ôi! Quý hoá quá. Thật là ông trời run rủi. Chúng tôi cũng đang định xin quá giang về Phú Thọ đây!…

Mấy người kia im lặng, họ chỉ tò mò nhìn hai thầy trò Tam Văn từ đầu đến chân với một thái độ dè dặt mà chẳng có vẻ gì là thân thiện cả.

Sau khi đã trao đổi với nhau những gì không rõ, một gã quay nhìn thầy Thất Sách, hỏi:

- Hai người làm cái nghề này lâu chưa vậy?

- Nghề gì? – Thầy Thất Sách hỏi lại.

Gã kia tặc lưỡi:

- Thì cái nghề…bị gậy ấy! (Nghề bị gậy, một cách gọi khác của nghề ăn mày).

Thầy Thất Sách giận dữ, ấn mạnh cây gậy, khiến cho đầu gậy lún sâu xuống mặt đất mềm đến cỡ vài phân.

Tam Văn vội tiến lên, nói:

- Ấy!...Là các anh hiểu nhầm rồi. Chúng tôi không phải đến để ăn xin đâu!...

Một gã râu quai nón nhếch mép:

- Không ăn xin thì cũng là đệ tử ruột cái bang chứ chẳng sai!

Một tràng cười khả ố lập tức rộ lên, giọng điệu đầy mỉa mai, châm chọc. Tam Văn kinh hãi, sợ thầy mình lại nổi trận lôi đình thì khốn. Nhưng chú đã nhầm, tuy nóng tính, nhưng thầy của chú luôn là một người biết tuỳ cơ ứng biến, chứ đâu cố chấp, bảo thủ như những phường thất phu.

Mặc dù ý nghĩa hai từ “Đệ tử Cái Bang” và “Nghề bị gậy” chẳng có gì khác nhau, rõ ràng là họ đã có ý xúc phạm mình. Nhưng vì đại cục, lần này thầy Thất Sách đã đổi giận làm vui:

- Anh nói phải lắm. Cái Bang chính là bang phái mà tôi đây rất yêu thích và ngưỡng mộ đấy!...

Đám phu cát kia lại càng ngơ ngác, nhìn nhau mà chẳng hiểu gì cả.

Từ phía dưới triền sông có một người đàn ông đang đi lên. Người ấy mặc một bộ đồ ka ki đã cũ, dáng người cao lớn lực lưỡng. Thấy Thầy Thất Sách cùng mấy người phu cát đang tranh cãi ồn ào, anh ta liền cất tiếng oang oang:

- Có chuyện gì vậy?

- Hai người này muốn đi nhờ về Phú Thọ - Một gã mặc áo phông đen trỏ tay vào hai thầy trò Tam Văn, đáp.

- Đấy, ông muốn gì thì cứ nói với người này. Ông ấy là chủ sà lan đấy! – Gã râu quai nón nói với thầy Thất Sách.

- Ông đi Phú Thọ có việc gì? – Người mới đến nhìn thầy Thất Sách, hỏi.

- Chẳng dấu gì anh. Chúng tôi đi viếng đền Hùng. Phiền anh cho chúng tôi đi nhờ!… Chúng tôi sẽ thanh toán tiền đầy đủ! – Giọng thầy Thất Sách kéo dài ra, khẩn khoản.

Nhắc đến vua Hùng thì ai mà chẳng vị nể muôn phần, huống chi anh ta lại là người đất tổ nữa. Vì vậy mà sau vài giây suy nghĩ, người kia đáp:

- Vậy thì được! Nhưng là cho đi nhờ thôi. Chẳng phải tiền nong gì đâu. Có thêm hai người, xà lan của chúng tôi cũng có bị chìm đâu mà sợ - Anh ta pha trò. Mọi người ở đấy cùng cười vui vẻ.

- Vậy thì cảm ơn anh lắm! – Thầy Thất Sách mừng quýnh. Rồi thầy vẫy tay – Tam Văn! Mau mang hành lý lên đi con.

Tam Văn khệ nệ vác cái túi to đùng của mình để đi lên boong tàu. Cầu tàu tròng trành, khiến chú cứ ngả nghiêng như đang làm xiếc trên dây, suýt nữa thì rơi tỏm xuống sông.

Trên sà lan lúc này gồm có chủ tàu và bốn người công nhân kia, cộng với thầy trò Tam Văn nữa, vị chi tất cả là bảy người.

Người chủ tàu bắc chân, rồi bám vào lan can và leo lên buồng lái. Máy nổ xành xạch, vang động cả một khúc sông. Chiếc sà lan tròng trành rời khỏi bến.

Hai thầy trò Thất Sách đứng ở đầu mũi, vịn vào thành lan can để ngắm nhìn sông nước. Những người phu cát thì đã quen cảnh, họ tập trung vào một góc ngồi đánh bài để giết thời gian, chờ cho sà lan cập bến.

Lúc sau, ngắm cảnh mãi cũng chán, Tam Văn bèn bỏ vào để xem mấy người kia chơi bài. Ở mũi tàu lúc này chỉ còn mỗi mình thầy Thất Sách đứng thơ thẩn, sông dài gió lộng, tha hồ mà đắm mình với non nước, trời mây.

Hai bên bờ sông, nhà cửa, phố xá san sát. Xa xa, bãi giữa sông Hồng nhấp nhô trên sóng nước, xanh rì những bờ bãi, ngô khoai. Hơi nước từ dưới mặt sông bốc lên thành đám, mờ mờ như sương. Cảnh tượng ấy như ảo ảnh, như thực, như mơ. Thực là:

Nhác trông sóng lặng cây bày

Bãi xa mơn mởn xanh dày cỏ non

Quê hương khuất bóng hoàng hôn

Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.

Thấy thầy Thất Sách cứ thơ thẩn trên boong, khi chau mày, lúc lại trỏ tay mà lẩm nhẩm những gì không rõ, mấy người phu cát thi thoảng lại liếc nhìn nhau, mỉm cười một cách tùng đảng.

Một gã đánh cằm về phía hiệp sĩ của chúng ta, nói:

- Đố ai đoán được ông ta đang làm gì đấy?

- Chắc là đang làm thơ! – Gã áo phông vuốt ria, tủm tỉm.

- Hay là ông ta đang tìm luồng cá? – Gã râu quai nón tếu.

Một tràng cười hô hố vang lên đầy sảng khoái.

Tam Văn thấy đám người kia coi thường chủ mình thì tỏ ra khó chịu. Chú cựa mình, nói:

- Là các anh không biết con người thầy tôi đấy thôi. Ông ấy vừa là thi sĩ, vừa triết gia, lại vừa là một võ sĩ nữa kia đấy – Tam Văn giơ ngón tay, quả quyết – Một võ sĩ đích thực thật đấy. Chỉ với một cây gậy trong tay, ông ấy có thể hạ một lúc ba, bốn tên cường địch chỉ trong vòng chớp mắt chứ chẳng chơi.

Mấy gã kia nghe vậy há hốc mồm vì kinh ngạc. Khi biết thầy Thất Sách còn là một võ sĩ thì họ lại càng có ý kinh sợ hơn. Từ đấy, thái độ của họ cũng trở nên dè dặt chứ không dám xấc láo như trước nữa. Họ không nể thi sĩ hay triết gia, mà chỉ nể cái con người võ sĩ của thầy Thất Sách mà thôi. Những người có sức mạnh cơ bắp là vậy. Họ không sợ những người có tri thức, mà chỉ sợ những kẻ mạnh hơn mình.

Nếu như khi ở trên phố tấp nập bao nhiêu, thì bấy giờ khung cảnh trên sông lại vắng lặng, đìu hiu bấy nhiêu. Thi thoảng mới lại bắt gặp một, vài chiếc phà hay sà lan trôi ngược chiều. Nhưng khác với sà lan của họ, những chiếc kia trên boong còn nhẹ, cứ lướt sóng băng băng, thoáng cái đã lùi xa phía sau.

Tàu chạy ra giữa dòng, khung cảnh hai bên bờ chỉ còn là những dải xanh xanh, lờ mờ, thấp thoáng.

Lúc này, mấy người phu cát đã không còn chơi bài nữa. Vài người trong số họ nằm lăn ra boong tàu để nghỉ, người khác thì ngồi bó gối nhìn ra sông nước mịt mù, ánh mắt lơ đãng, xa xăm. Sóng đánh dập dờn, có cảm giác như đang ngồi trên một chiếc đệm hơi khổng lồ. Tam Văn cảm thấy buồn ngủ, chú bèn ngồi tựa lưng vào thành tàu, chống cằm, ngủ gà ngủ gật.

Mũi tàu vẫn đạp sóng lướt tới, cần mẫn như một mũi khoan xuyên vào lòng nước. Thầy Thất Sách vẫn đứng vịn lan can, khi khoẻ thì đứng, lúc mệt lại ngồi, ánh mắt vẫn không rời khỏi mặt sông với những dòng suy tưởng bất tận.

Sông Hồng đoạn chảy qua tỉnh Phú Thọ có tên gọi là sông Thao, một cái tên cũng đã đi vào thơ ca của những con người vùng đất này. Đến khi chảy qua địa phận Hà Nội thì mới gọi là Nhị Hà hoặc Nhĩ Hà. Sông Hồng là cái tên mà người ta dựa vào màu phù sa đặc trưng của nó để đặt, vì vậy khi gọi lên, ta nghe được sự dân dã cũng như gần gũi trong đó. Với chiều dài và quang cảnh hùng vĩ của mình, dòng sông Hồng đã chuyên chở biết bao số phận con người, nuôi dưỡng những vùng đất và làng mạc mà nó chảy qua. Trước hết là một nền văn minh nông nghiệp được hình thành và phát triển dọc đôi bờ con sông vĩ đại này.

Từ xa xưa, ở đây người ta đã trồng lúa nước và cây ăn trái, rồi nuôi tằm, dệt vải. Dọc hai bên bờ sông Hồng, những làng nghề cũng mọc lên san sát, nào là làng giấy, làng dệt vải, làng hoa, làng gốm sứ…; Khi lượng sản phẩm mà con người làm ra đã nhiều thì dòng sông lại là nơi chuyên chở, lưu thông để trao đổi hàng hóa giữa các vùng miền. Vì thế mà sự giao thương đã trở nên phát đạt với hình ảnh tấp nập trên bến dưới thuyền, phố xá san sát, phồn thịnh.

Một quần thể di tích dày đặc ven sông Hồng cũng đủ để cho thấy chiều dày lịch sử của vùng đất địa linh lâu đời này. Thành Cổ Loa với truyền thuyết Mỵ Châu – Trọng Thuỷ nổi tiếng, làng cổ Đường Lâm là đất của hai vị vua Phùng Hưng và Ngô Vương Quyền, Đền thờ Tản Viên Sơn Thánh ở Ba Vì, đền Hát Môn ở Phú Thọ, đền Dầm, đình Chèm, đền Ghềnh, đền Rừng, đền Gióng ở Hà Nội…

Trong lúc thầy Thất Sách vẫn còn đang đắm mình trong những địa danh lịch sử thì chợt nghe có tiếng gọi:

- Này! Hai người về đền Hùng phải không?

Nhìn ra thì thấy người râu quai nón đang hướng về phía thầy, hỏi.

- Phải! – Thầy Thất Sách vội đứng lên, đáp.

- Vậy thì xuống ở đây. Sà Lan sẽ ghé vào bờ. Chúng tôi thì còn phải chạy tiếp vài chục cây số nữa kia.

Được thầy đánh thức, Tam Văn giật mình tỉnh dậy. Chú giơ tay nhìn đồng hồ: Sà lan đã khởi hành được bốn tiếng. Đó cũng là khoảng thời gian mà hai thầy trò chú đã lênh đênh trên sóng nước sông Hồng.

Sà Lan chạy chậm lại, rồi ghé vào bờ. Chủ và khách bịn rịn chia tay nhau.

- Cảm ơn anh nhiều nhé! Chúng tôi thật chẳng biết lấy gì để đền ơn! – Thầy Thất Sách cứ nắm lấy bàn tay người chủ Sà Lan mà lắc lắc một cách nồng nhiệt.

- Tạm biệt!

- Hẹn ngày tái ngộ!

- Lên đến bờ, cứ hỏi đường đến đền Hùng là người ta sẽ chỉ cho! – Người chủ sà lan nói vọng theo.

Vậy là hai thầy trò họ đã đặt chân lên đất tổ. Từ khi lên bờ, thầy Thất Sách tỏ ra vô cùng xúc động. Thầy đi đứng chậm rãi, mọi cử chỉ, lời nói đều e dè, cẩn trọng. Thầy quay sang nói với học trò:

- Vậy là chúng ta đã hành hương về đến đất tổ. Nơi in dấu bóng dáng tiền nhân, từng tấc đất, từng cành cây ngọn cỏ ở đây đều thấm đẫm sự oai linh, huyền thoại. Phút giây này thật trọng đại xiết bao, ý nghĩa xiết bao!

Suốt nhiều giờ phải lên đênh sông nước, giờ này lên đất liền, Tam Văn những muốn vung vẫy tay chân cho thoải mái. Nhưng thấy thầy mình thành kính như vậy, chú cũng chỉ dám khép nép đi theo mà chẳng dám gây sự ồn ào gì cả.

Đi được chừng cây số, họ bắt gặp một ngôi làng độ vài chục nóc nhà lớn nhỏ. Nhìn thấy dưới gốc cây Thị sum suê phía trước có một ngôi quán nhỏ, hai thầy trò bèn dắt nhau vào nghỉ.

Một cụ già mặc bộ đồ nâu đang ngồi bán hàng. Thấy có khách, cụ mở ấm tích và rót ra hai cốc nước chè nóng.

- Hai bác uống nước đi! Chè mới ủ đấy. Thơm lắm!

Rồi cụ lại ẩy nải chuối mật chín mẩy về phía khách:

- Hai bác ăn chuối nhé!

- Vâng! Cụ cứ để mặc chúng tôi! – Thầy Thất Sách lịch sự đáp.

Chủ quán, một cụ già quắc thước và vẫn còn khoẻ mạnh, da nâu như màu đồng hun. Thấy hai thầy trò họ là người lạ, cụ hỏi:

- Chẳng hay hai ông khách đi đâu bây giờ?

- Chúng con đi viếng đền Hùng – Tam Văn nhanh miệng đáp.

Cụ già nhấp một ngụm nước, hỏi:

- Có lẽ là khách mới đến đây lần đầu?

- Thưa phải! – Thầy Thất Sách đáp.

Cụ già trầm ngâm một lúc, rồi nói:

- Như thế cũng phải! Hễ là người Việt Nam, chúng ta ai cũng nên một lần đến viếng mộ các vua Hùng, để anh linh các ngài ấy phù hộ cho!

Sau khi được cụ già chỉ dẫn đường đi cặn kẽ, Tam Văn hỏi:

- Đến ngày giỗ tổ, hẳn là ở đây đông người lắm cụ nhỉ?

Cụ già đáp:

- Hẳn rồi. Giỗ tổ mà. Người cả nước tìm về. Khi ấy thì cả biển người như sóng cuộn, triều dâng. Đứng từ xa trông lại, trang phục sặc sỡ đủ màu sắc, dòng người cứ như không bao giờ dứt ấy.

Rồi cụ đọc:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày giỗ tổ mùng mười tháng ba

Thầy Thất Sách chắp tay, nói:

- Mong rằng anh linh các vua Hùng sẽ phù hộ cho con cháu và đất nước muôn đời!

Cụ già nói:

- Phải rồi! Các ngài anh linh lắm!

Rồi cụ bắt đầu miên man kể:

- Mỗi năm gần đến ngày giỗ vua, tức là lễ hội đền Hùng ấy, vẫn thường xẩy ra những hiện tượng lạ như một điềm báo trước. Năm ngoái, ngay ở khúc sông này, nổi lên một con Giao Long thật lớn. Con Giao Long ấy khắp mình vảy vàng óng ánh, mắt sáng như sao, trên đầu lại còn có mào đỏ như lửa. Giao Long quẫy đuôi, phun nước mù trời như đang làm mưa. Những thuyền bè qua lại khi ấy đều nhìn thấy cả. Cảnh tượng như thế diễn ra trong khoảng vài phút thì con giao long ấy lặn xuống nước rồi biến mất. Có năm thì lại có những đám mây ngũ sắc hiện lên trên đỉnh núi Nghĩa Lĩnh. Đến khi người ta làm lễ tế thì mới tan…

Những câu chuyện huyền hoặc của ông lão đã thu hút sự chú ý đặc biệt của hai thầy trò Tam Văn. Khiến họ cảm nhận được cái không khí huyền sử, ngay khi vừa mới đặt chân lên miền đất tổ huyền thoại và linh thiêng.