Thứ Năm, 17 tháng 7, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương II)

     Khởi Sự  

    Nam nhi chí tại bốn phương. Do ảnh hưởng bởi tiểu thuyết kiếm hiệp, từ lâu, trong đầu thầy Mạnh Long đã nung nấu ý tưởng về một ngày nào đó, mình sẽ từ bỏ tất cả để đi chu du thiên hạ. Thầy muốn mình cũng giống như người xưa, mình mặc chiến bào, vai đeo cung báu, vung gươm, nép mình trên lưng ngựa để rượt chém quân thù. Với ý chí sắt đá, thầy tin rằng, bằng lòng can đảm và hai cánh tay dũng mãnh vô song, thầy sẽ lập nên những chiến công hiển hách để tên tuổi mình lưu danh thiên cổ. Người anh hùng ấy là thầy, sẽ đạp bằng ngang trái, xoá bỏ bất công, thiết lập nên một xã hội công bằng, tự do, bác ái. Có trời cao chứng giám, giấc mơ hào sảng ấy chưa bao giờ phai nhạt, ngược lại, cùng với thời gian, ngày càng mãnh liệt và trở thành động lực thôi thúc thầy mãi không thôi.

Tuy nhiên, thầy cũng hiểu rằng, con đường giang hồ gập ghềnh khó bước, luôn hiểm nguy và đầy rẫy những chông gai. Bởi vậy mà thầy cần phải tìm cho mình một đệ tử trung thành, một cộng sự kề vai sát cánh, sẽ cùng với thầy chiến đấu và chiến thắng mọi thế lực hắc ám ở trên đời.

Sau nhiều đêm trằn trọc nằm vắt tay lên trán suy nghĩ, cuối cùng thầy nhận ra rằng, đứa cháu họ Mạnh Trí chính là một người bạn đồng hành lý tưởng và không thể thiếu cho những cuộc phiêu lưu của mình sau này. Sẽ là không hổ danh, vì Mạnh Trí đáp ứng đủ mọi điều kiện: Khoẻ mạnh, siêng năng và trung thực. Giữa hai bác cháu lại có tình thân kết nối và rất hiểu rõ tính nết cũng như con người của nhau. Thế là chỉ sau một cái tặc lưỡi, thầy đã quyết định chọn nó làm đệ tử, một sự lựa chọn định mệnh khó lòng khác được. Thậm chí, thầy còn tin rằng, họ ứng với hai vì tinh tú ở trên trời. Trong đó thầy là ngôi sao chính vị, còn Mạnh Trí chính là vệ tinh vây quanh. Hai vì tinh tú ấy lung linh và chói sáng khắp giải thiên hà, được thượng đế phái xuống hạ dưới, trong một sứ mệnh thực thi kế hoạch cải tạo vũ trụ vĩ đại.

Lúc bật ra ý tưởng tuyệt vời ấy đang là nửa đêm. Vì không thể kìm được xúc động, thầy đã vỗ mạnh tay vào trán rồi bật ngay dậy mà rằng:

- Hỡi thế nhân! Ta muốn nói cùng ngươi!...Lịch sử chính là đây!...Sứ mệnh cũng là đây!...

Cũng may là lúc ấy thầy đang nằm dưới nhà ngang một mình, nếu không thì bà vợ yêu quý đã không khỏi bị một phen hú vía bởi những tiếng thét dữ dội ấy.

Thế nhưng con người ta sống trên đời, ai cũng phải vướng bận gia đình cũng như những mối quan hệ khác. Ngay cả Mạnh Trí cũng vậy, chàng ta cũng chỉ là một người phàm, dễ gì mà dứt được thói thường kia chứ? Đâu cứ nói bỏ là bỏ, đi là đi ngay được đâu. Vậy nên, đắn đo mãi, cuối cùng thầy vẫn chưa thể tìm được cơ hội nào thuận tiện để mở lời.

Cùng với chứng tự kỉ ám thị nặng, thầy Mạnh Long đinh ninh rằng, mình chính là vị hiệp sĩ vĩ đại mà thượng đế đã lựa chọn kia. Rằng cuộc đời cần có thầy, xã hội không thể thiếu thầy. Thầy cho rằng, nếu công lý luôn được thực thi thì đâu cần đến sự xuất hiện của các hiệp sĩ. Nếu đã có sự hiện diện của vị thần tự do, thì dân chúng đâu còn mỏi mắt trông chờ thầy như con dại trông cha? Với đôi vai nặng gánh sơn hà, thầy chính là cán cân tạo hoá nâng đỡ cả đôi vầng nhật nguyệt, thiết lập sự cân bằng vũ trụ, mang lại lẽ công bằng và hạnh phúc cho muôn dân.

o0o

Gió thổi khu vườn xào xạc, trên cành, những trái xoài căng mọng, đung đưa. Nắng chiều xuyên qua kẽ lá, rọi xuống mặt đất những tia vàng óng ánh, lấp loá đến chói mắt. Dù ngoài trời đang nắng to, nhưng bên trong khu vườn, không gian vẫn râm mát vì được phủ kín bởi những tán cây rậm rạp, ken dày như tán lọng tròn. Dưới ao, lũ cá móng nước lủm bủm, những cái miệng há ra đớp đớp không khí khiến cho mặt nước nhấp nháy, xao động. Đám cá trắm, cá mè lững lờ bơi lượn, để lộ ra những sống lưng bèn bẹt nổi lập lờ trên mặt nước trong xanh màu lục bảo.

Ở một góc vườn, Mạnh Trí đang lom khom kéo những cành cây khô để gọn vào khoảng sân rộng. Trời nóng, chàng ta chỉ mặc độc một cái quần cộc, để lộ thân hình cuồn cuộn cơ bắp, bóng nhẫy và nhớp nháp những mồ hôi. Những cành cây này, chú đã đốn xuống từ vài tuần trước rồi chất đống, phơi khô. Sau khi đã chặt ngắn thành củi, chú sẽ chất lên chiếc xe Kiến An rồi kéo về nhà mình để tận dụng làm chất đốt cho gia đình.

Thầy Mạnh Long từ trên thềm bước xuống, khuỳnh tay đứng chống nạnh ở mép sân. Ông mặc trên mình một chiếc áo phông cổ bẻ, quần dài kẻ sọc kiểu pijama. Đợi cho anh cháu tiến lại gần, ông khẽ hất hàm, hỏi:

- Này! Đã gần xong chưa vậy?

- Vẫn còn vài đống. Làm một lúc nữa thì xong thầy ạ.

- Thôi, cứ để đó hẵng! Kéo nốt chuyến này rồi quay lại đây ta bảo.

- Có việc gì vậy thầy? – Mạnh Trí đưa tay quệt những giọt mồ hôi lăn dài trên gò má rám nắng, ngơ ngác hỏi.

Nhưng thay vì đáp lại, thầy Mạnh Long chỉ phẩy tay:

- Lát nữa khắc biết!

Mạnh Trí lại tiếp tục gò lưng kéo những cành khô xào xạc, đám bụi phía sau cuộn mù và bốc lên hanh hao như một làn khói trắng. Sau khi để gọn củi vào chỗ, chú bắt đầu lững thững quay lại. Từ xa, chú đã nhìn thấy chủ mình đang chắp tay sau lưng, vẻ mặt nghiêm nghị, đi đi lại lại với một vẻ sốt ruột lộ rõ. Nhìn dáng điệu ông gầy gò, thất thểu như Vạc ăn sương, trong lòng chú chợt dâng lên một niềm thương cảm.

Mạnh Trí bước đến bên thầy, hỏi:

- Thầy bảo gì con vậy?

Thầy Mạnh Long dừng bước, nhìn chằm chằm vào cái ấn đường rất rộng của anh cháu như thôi miên, đoạn chỉ tay về phía chuồng gà, nói:

- Anh đi ra đó. Bắt con gà vào đây làm thịt để hai thầy trò ta uống rượu!

Lại được nghỉ ngơi và đánh chén. Điếc tai cày chứ ai điếc tai họ bao giờ. Gì chứ chuyện này thì Mạnh Trí đồng ý ngay tắp lự, chú sẵn sàng biểu quyết bằng cả hai tay lẫn hai chân ấy chứ lị. Với một động tác vui nhộn đến tức cười, chú rập chân kiểu nhà binh đánh cộp:

- Rõ!

Thầy Mạnh Long ngoác cái miệng rộng, vỗ vỗ bàn tay lên vai Mạnh Trí mà cười khà khà. Một nụ cười độ lượng, bao dung mà chú vẫn thường thấy ở chủ mình xưa nay.

Đi được vài bước thì như sực nhớ ra điều gì, Mạnh Trí ngoảnh lại, hỏi:

- Trống hay mái hả thầy?

- Gà trống! Mà phải trống tơ đấy nhé!

Không phải khoe, chứ thầy Mạnh Long nhà ta chế biến món ăn hết sẩy, ngon và hấp dẫn chẳng kém gì các quán nhậu trên phố cả. Bởi thế mà thầy thường hay than phiền với học trò rằng: “Thiên hạ cứ cho rằng công việc nội trợ là của đàn bà. Thực ra sai bét hết. Chính cánh đàn ông chúng ta mới là những tay đầu bếp tài giỏi và cừ khôi nhất trên đời”. Bản thân Mạnh Trí cũng phải công nhận như thế. Không phải vì bênh thầy, mà vì chú đã được hân hạnh thưởng thức những món ăn do chính tay thầy mình nấu khá nhiều. Ở nhà mình, Mạnh Trí cũng là đầu bếp chính. Vợ chú thô kệch, quê mùa, khoản nội trợ lại càng kém so với chú. Cỗ bàn, công buổi gì ở nhà cũng đều do một tay chú bày biện và đảm đương cả. Vậy nên, nói về ưu điểm, hai thầy trò họ cũng có không phải là ít.

Lát sau, Mạnh Trí mang gà vào trong bếp và bắt đầu làm thịt. Chú gà trống tơ lông vàng bị túm ngược chân, vừa kêu quang quác vừa vỗ cánh phần phật, khiến chú phải nheo một mắt mà loạng quạng bước vào trong bếp như một người say rượu.

Bữa nay bà Lan đi dự đám cưới con người chị gái. Buổi tối bà sẽ ở lại bên đó để lo công chuyện, đến tận ngày mai mới về. “Vắng chủ nhà gà mọc đuôi tôm”. Như chim sổ lồng, hai thầy trò Mạnh Trí tha hồ tự tung tự tác và tổ chức ăn nhậu mà chẳng hề sợ bị ai phiền nhiễu gì cả. Tại sao lại nói bà Lan là chủ nhà, còn thầy trò Mạnh Long chỉ là gà mọc đuôi tôm? Nguyên do là, trên thực tế, người quán xuyến “Đạo nhân thi quán” chính là bà Lan chứ không phải thầy Mạnh Long. Thêm nữa, với đức khiêm cung thường thấy ở một con người vĩ đại, xưa nay thầy Mạnh Long vẫn tự hạ thấp mình, nhường ngôi vị chủ nhà cho vợ để theo đuổi niềm đam mê văn học. Cho nên cái này là do thầy tự nguyện, chứ không phải do ép uổng hay bị soán ngôi gì cả.

Lúc này thầy Mạnh Long từ ngoài vườn đi vào, trên tay ôm một đẫy những xoài xanh và dưa chuột. Ông để tất cả những thứ trái cây vừa hái được vào trong một cái rổ nhựa. Rồi trong khi đứa cháu loay hoay làm thịt gà, ông bắt đầu gọt hoa quả bày vào đĩa, chuẩn bị muối ớt và lá chanh thái nhuyễn.

Khi gà đã được luộc xong, Mạnh Trí chặt và bày ra một cái đĩa lớn. Trong căn bếp ấm cúng quen thuộc, tiếng chặt thịt gà lách cách, rộn ràng nghe vui tai. Mạnh Trí làm cỗ đã quen nên chặt thịt rất thạo. Chú sắp thịt gà ra đĩa thành những miếng đều nhau, rồi lấy một cái đĩa khác úp vào, lật ngược lại. Vậy là được một đĩa thịt gà tròn trịa như đĩa thịt đông ngày tết, nom đến là đẹp mắt. Xong việc, chú hít hà một hơi thật sâu, mùi thịt gà béo ngậy quyện với mùi lá chanh thơm thơm xộc vào mũi nghe thật hấp dẫn và mời gọi.

Bữa tiệc đã được bày biện xong ở bộ bàn đá ngoài vườn xoài. Một đĩa thịt gà luộc, một đĩa xoài xanh, dưa chuột vừa hái từ trên cây xuống, một đĩa muối có ớt tiêu và lá chanh thái nhuyễn. Một chai rượu trắng, hai bộ  bát đũa và hai cái chén hạt mít để uống rượu. Tiệc rượu của hai thầy trò diễn ra giữa trời cao, gió lộng, thật là tự do, tự tại biết bao. Ở đây có tiếng gió thổi rì rào, tiếng cá quẫy đuôi dưới ao, và cả những chùm quả treo lủng lẳng trên cành nhắc nhở về sự giàu đẹp của thiên nhiên với hoa thơm trái ngọt.

Sau màn cụng li, thầy Mạnh Long tay vẫn nâng chén rượu, mắt nhìn xa xăm suy tưởng, trong khi Mạnh Trí thì chỉ cắm cúi gặm thịt gà. Chú khôn hơn chủ mình ở chỗ ấy. Chủ chú uống nhiều ăn ít, còn chú lại uống ít ăn nhiều. Chú cho rằng, cứ ăn đã, có cái vào bụng thì mới uống rượu được, nếu không lại say bò ra thì khốn. Rượu uống vào khắc say, có ai thánh tướng gì với rượu được đâu. Vậy nên mỗi lần uống rượu, mặc cho chủ mình tha hồ trầm tư mặc tưởng, còn chú thì cứ việc chén đẫy.

Rượu vào, chí khí lại càng hăng. Vẻ mặt phừng phừng, thầy Mạnh Long cầm đũa gõ gõ vào bát để lấy nhịp, đoạn cao hứng ngâm:

 “Bình vàng, rượu quý đáng tiền vạn

Mâm ngọc, thức ngon giá mười ngàn.

Dằn chén ném đũa nuốt không được

Vung gươm bốn phía lòng mênh mang”.

Dứt lời, ông dằn mạnh chén xuống bàn, khiến cho rượu sóng sánh cả ra ngoài. Rồi bắt chước tiền nhân, ông cũng vung tay ném đũa.

Thấy chủ mình đột nhiên có cử chỉ điên rồ như thế, Mạnh Trí cũng giật mình phát hoảng.

- Thầy ơi! Thầy bị làm sao thế? – Anh học trò hốt hoảng kêu lên.

Thầy Mạnh Long xua tay, ánh mắt lạc thần như người bị ma nhập:

- Không! Ta không sao!... Chỉ là ta hơi bị xúc động thôi!...

Mạnh Trí thở phào, cúi nhặt đôi đũa lên, để lại lên bát ngay ngắn. Đoạn chú chọn một miếng thịt gà thật béo, thật mềm gắp bỏ vào bát cho chủ:

- Thầy ăn đi! Uống mà không ăn là dễ bị rượu nó hành lắm. Phát điên, phát cuồng lên chứ chẳng chơi…

Nhưng thầy Mạnh Long chỉ nhón tay cầm một miếng dưa chuột đưa lên miệng nhai rau ráu và nói:

- Cái thứ này mát và giã rượu hơn món thịt gà của anh nhiều đấy!

Mạnh Trí ngẩn mặt ra, đáp:

- Vâng!... Cái hạng phàm phu tục tử như con thì biết gì. Cứ lấy việc no bụng làm mục đích sống thôi.

Rồi anh chàng rót đầy rượu vào hai cái chén, nâng lên:

- Chén rượu này con kính thầy! Xin thầy hãy uống đi cho kịp hoàn hồn…

Không nửa lời, thầy Mạnh Long nâng chén rượu tu cạn, dứt khoát và khảng khái như một trang hảo hán giang hồ thực thụ. Thần trí thầy bấy giờ đã tỉnh táo hơn, da dẻ cũng hồng hào trở lại, nét mặt lộ vẻ ôn hoà, thư thái.

- Nhà ngươi có hiểu nội dung bài thơ trên không? – Thầy Mạnh Long ôn tồn hỏi.

- Học trò dốt nát. Chịu không biết được! – Mạnh Trí thật thà đáp.

Thầy Mạnh Long vung cái cẳng tay khẳng khiu như ống sậy lên, giảng giải:

- Bài thơ này là của thi nhân Lý Bạch đời nhà Đường. Ngày xưa, ông uống rượu ở chốn cung đình, toàn sơn hào hải vị, bát vàng chén ngọc mà còn ném đi. Huống chi là ta. “Phú quý bất năng dâm”. Thế mới biết cái chí giang hồ của người xưa lớn lao lắm thay, khảng khái lắm thay. Ta thật chưa thể nào bằng được.

Rồi ông chống một tay lên đùi, dáng ngồi hơi nghiêng, cặp mắt hơi lồi xếch lên nom rất dữ tợn. Mạnh Trí cúi gằm mặt, không dám nhìn thẳng vào mắt thầy, vì chú rất sợ cái khí vũ hiên ngang đằng đằng sát khí ấy của thầy lúc này. Chú có cảm tưởng, cái dáng ngồi ấy nom chẳng khác nào một gã tướng cướp đang ngồi trên chiếc ghế chủ sơn trại mà chú đã được xem trong phim.

- Này! Ta hỏi thật!…Nhà ngươi có muốn cùng ta đi chu du thiên hạ chăng? – Ông thầy bất giác nhìn thẳng vào mắt học trò, hỏi.

Câu hỏi khiến cho Mạnh Trí bị bất ngờ. Chú nghe xong thì cứ ngớ người ra mà chẳng hiểu gì cả.

- Thưa thầy! Chu du…thiên…hạ…là gì ạ? – Chú mở to mắt, lắp bắp hỏi.

Thầy Mạnh Long ngồi thẳng người lên, vuốt râu:

- À! Có nghĩa là ngao du sơn thuỷ. Nói theo ngôn ngữ thời nay chính là đi du lịch đấy.

“Chu du thiên hạ” thì Mạnh Trí không rõ lắm, nhưng du lịch thì chú hiểu. Thi thoảng, chú vẫn bắt gặp những chuyến xe khách chở đầy ắp những đoàn người ăn mặc lịch sự, trước xe có tấm băng rôn ghi rõ là đoàn xe du lịch, tham quan gì gì đó. Nếu thế thì oách thật chứ chẳng chơi. Phải có điều kiện thì mới đi du lịch được chứ bộ. Nhưng chú chắc mẩm rằng, mụ vợ keo kiệt của mình sẽ chẳng chịu bỏ ra một đồng xu nhỏ nào để cho chồng đi du lịch, dù chỉ là một ngày đâu.

- Đi như thế thì chắc là tốn kém lắm? Học trò thì chẳng có tiền. Chịu thôi! – Mạnh Trí lắc đầu, tiếc rẻ nói.

Thầy Mạnh Long đặt mạnh tay lên vai chú, trấn an:

- Tiền nong ta sẽ lo hết. Anh chỉ việc xách túi đi theo mà chẳng phải lo mất một đồng xu nhỏ nào cả. Kể cả tiền lộ phí, tiền ăn, tiền ở, tiền chi tiêu cũng vậy.

Mạnh Trí thở phào sung sướng. Vậy là cái mối bận tâm nhất trong lòng chú đã được giải toả. Mắt chú sáng lên, hồn nhiên như đứa trẻ:

- Thật vậy hả thầy?

- Thật chứ! Thế nhà ngươi đã thấy ta nói đùa bao giờ chưa nào?

Đúng vậy, thầy Mạnh Long nhà ta chưa hề đùa bao giờ cả. Đối với bất cứ việc gì, dù lớn hay nhỏ thầy đều rất nghiêm túc và có trách nhiệm. Điều này thì Mạnh Trí rất hiểu. Vì vậy mà xưa nay, chú vẫn hoàn toàn yên tâm và tin tưởng tuyệt đối vào chủ của mình.

Lúc này, với vẻ mặt đầy trầm tư, thầy Mạnh Long tiếp tục trãi lòng:

- Thú thật với nhà ngươi. Từ lâu, ta đây đã chán ngấy với cuộc sống tẻ nhạt, suốt ngày quẩn quanh với vườn cây, ao cá rồi. Vậy nên ta muốn đi ra là để biết thiên hạ bao la và rộng lớn ra sao. Có như vậy thì cuộc sống mới đáng gọi là sống chứ. Nhưng thầy trò ta sẽ không du lịch theo kiểu tầm thường. Không đi theo đoàn vài ba hôm rồi quay về như thường thấy. Vì như thế thì khác nào cưỡi ngựa xem hoa, bõ bèn gì.

Mạnh Trí chống cằm chăm chú lắng nghe thầy nói, rồi gật đầu lia lịa:

- Thầy nói phải. Du lịch là cứ phải dài ngày thì mới thoã.

Thầy Mạnh Long rung đùi và nở một nụ cười mãn nguyện. Thầy đã không phải thất vọng về đứa cháu của mình. Vậy là ý nguyện của thầy đã đạt được, thầy đã chọn đúng người.

- Thế bao giờ thì thầy trò ta sẽ ra đi? – Mạnh Trí sốt ruột hỏi.

- Từ bây giờ chúng ta sẽ bắt đầu chuẩn bị. Khi mọi thứ xong xuôi thì sẽ khởi hành ngay.

Rồi thầy giơ ngón tay lên, dặn:

- Chuyện này chỉ hai thầy trò ta biết thôi. Tuyệt nhiên không được nói với ai nghe chưa!

Mạnh Trí ngạc nhiên:

- Cả bác gái, cả vợ con cũng vậy ư?

- Phải!

- Tại sao lại phải vậy thầy?

- Vì họ sẽ cản trở và phá hỏng kế hoạch của chúng ta. Chẳng ai trong số họ sẽ đồng ý về một chuyến đi mà không hẹn trước ngày về như vậy cả.

Mạnh Trí đã hiểu, nhưng chú vẫn chưa hết thắc mắc. Sau khi nhấp một ngụm rượu cay nồng, chú lại hỏi:

- Nhưng chúng ta cũng phải dự định đi trong thời gian bao lâu để còn có kế hoạch chứ?

- Không thể hẹn trước được. Chúng ta chu du khắp thiên hạ, bao giờ công thành danh toại thì mới về!

- Công thành danh toại gì hở thầy? – Mạnh Trí tò mò. Vì quả thực, chú vẫn chưa thể hiểu hết được dụng ý của thầy.

- Cái này thì anh không cần phải hỏi. Phật pháp không thể diễn tả, chỉ có thể dựa vào ngộ mới đắc được. Đến lúc ấy ắt sẽ nghiệm thấy. Anh chỉ cần biết rằng, đó không phải là một chuyến du lịch tầm thường chỉ để chụp hình hay bàng quan ngắm cảnh. Mà chúng ta sẽ sống, sẽ đi vào thực tế, để từ đó thay đổi và cải tạo cuộc sống này. Tất cả ý nghĩa của nó sẽ là to lớn và cao cả vô cùng. Nhà ngươi đã nghe đến câu “Thế thiên hành đạo”…hay “Cứu khốn phò nguy” bao giờ chưa? Ấy đấy!… Đại khái là cũng như thế đấy!…

Vừa khi ấy thì có tiếng dép lệt sệt đi vào trong sân. Ai thế nhỉ? Ai mà lại đến không đúng lúc thế nhỉ? Mạnh Trí ngồi thẳng người lên, dỏng tai nghe ngóng, cảnh giác. Thầy Mạnh Long thì nhíu mày, tỏ vẻ bực mình, khó chịu.

- Suỵt! – Ông thầy đưa ngón tay lên miệng, nói – Tạm thời sẽ không nhắc đến chuyện này nữa nhé!

Có giọng sang sảng và quen thuộc của ông hàng xóm vang lên:

- Ông Mạnh Long có nhà không đấy?

Thầy Mạnh Long lớn tiếng đáp:

- Ông Thái phải không?... Ra đây!…Chúng tôi ở ngoài này kia mà!...

Ông hàng xóm đi qua khoảng sân, men theo lối mòn hai bên mọc đầy những cây cối xay và cỏ mực nở hoa trắng muốt để đi ra vườn.

- À! Hai bác cháu đây rồi. Chuyện gì mà có vẻ tiệc tùng tợn thế này! – Ông Thái đưa cặp mắt linh động và và hum húp như hai đồng xu nhìn lướt qua bàn nhậu một lượt, nói.

- Làm việc xong, chúng tôi làm mấy chén rượu để giải khuây thôi! Mời ông ngồi! – Thầy Mạnh Long chìa tay, nói.

Ông Thái đặt lưng ngồi đối diện với chủ nhà. Mạnh Trí đứng lên, đi vào bếp và mang thêm ra một bộ bát đũa, một cái chén hạt mít nữa.

Ông Thái là một người đàn ông to béo, đầu vuông, miệng rộng, mắt sáng như tướng hùm beo. Ông ăn to nói lớn, trong lúc nói chuyện, hễ gặp điều gì tâm đắc thì phá lên cười ha hả, xa đến cả trăm mét cũng nghe thấy. Cái tướng mạo phương phi, béo tốt ấy đối lập với dáng vẻ gầy gò, khắc khổ của thầy Mạnh Long nhà ta. Thế nhưng trái lại, giữa họ lại là những người láng giềng tốt, tối lửa tắt đèn có nhau.

Thầy Mạnh Long rót rượu cho người hàng xóm, rồi nâng ly:

- Chúc sức khoẻ ông bạn láng giềng!

Hai người cạn ly. Thầy Mạnh Long chép miệng, nói:

- Khà!...Bây giờ thì ông hãy nói cho tôi biết chuyện thu hoạch trái cây năm nay như thế nào nào.

Gió vẫn thổi xào xạc lên vườn cây, làm dịu đi cái oi bức của tiết trời cuối thu. Dưới những tán cây râm mát, bên chén rượu nồng, chủ và khách cùng nhau cao hứng chuyện trò, kể lể. Cái cảnh tượng nông nhàn nơi thôn dã kể cũng thật lãng mạn và thống khoái làm sao. Con người ta, nếu như không vì những tham vọng cá nhân, cũng như không bị những lo toan đời thường xoắn xít, thì cuộc sống ấy kể cũng không cần mong gì hơn lắm nữa.

Ông Thái đưa tay vuốt vuốt chòm ria ướt đẫm những rượu, nói:

- Cây trái năm nay nói chung là được mùa, nhất là giống Xoài Tượng ấy. Chiều qua tôi ra vườn, thấy Xoài rụng đầy dưới gốc cây. Tôi nhặt được ba bao tải. Chỉ cần ủ mấy ngày nữa là chín, có thể mang ra chợ bán được rồi.

Thầy Mạnh Long xoa cằm, trầm ngâm:

- Tôi thì dự là sẽ gọi cho thương lái để họ đến tận nhà mua. Giá thấp hơn một chút nhưng đỡ phải mang đi chợ bán. Lũ con gái đi lấy chồng cả rồi, nhà bây giờ neo người.

Ông Thái gật gù:

- Chưa thấy năm nào trái cây được mùa như năm nay bác ạ. Na, ổi nhà tôi cũng nhiều trái lắm. Cứ gọi là trĩu cành. Đến lúc thu hoạch, có khi phải huy động hết nhân lực cả nhà mới xuể! Nhà tôi có mười gốc nhãn. Tiền từ bán nhãn, tôi dành dụm cho thằng út học đại học. Cây nhãn đã nuôi nó học hết mấy năm đại học đấy. Cây cối cũng ân nghĩa với con người lắm, nó cho ta cuộc sống, cho ta tri thức…

- Ờ!..ờ!...- Thầy Mạnh Long lơ đãng đáp. Kỳ thực, trong thâm tâm, thầy chỉ mong sao ông hàng xóm lắm chuyện mau ra về để thầy trò họ còn bàn tiếp câu chuyện đại sự còn dang dở.

Nhưng ông Thái đâu hiểu tâm tư của thầy Mạnh Long lúc này. Ông tợp thêm một ngụm rượu nữa, rồi lim dim mắt, nói:

- Tôi chỉ ngại, cái điệp khúc “Được mùa mất giá” lại tiếp tục thôi!...Cứ như ý tôi, cần phải có một “Hiệp hội nhà nông”, chí ít thì cũng là “Hiệp hội trái cây” gì gì đó để bảo vệ quyền lợi cho những người làm nông như chúng ta thì mới được ông ạ!...

- Nhưng vấn đề là cái hiệp hội đó phải đích thân nhà nông thành lập và bầu cử kia! Có như vậy thì họ mới toàn tâm toàn ý mà bảo vệ quyền lợi cho nông dân được. Ăn cây nào thì người ta mới rào cây ấy chứ – Thầy Mạnh Long góp ý.

- “Dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh” (Dân là trọng hơn cả, xã tắc đứng đằng sau, vua còn nhẹ hơn). Hơn hai ngàn năm trước, thầy Mạnh Tử đã có tư tưởng tiến bộ như vậy rồi kia mà. Dân có giàu thì nước mới mạnh. Như vậy chính là trọng dân, là lấy dân làm gốc đấy! – Ông Thái bổ sung.

Thầy Mạnh Long bóp trán, nói:

- Nhưng mà, “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân”. Những nhà nông như chúng ta, muốn có quyền lợi tốt, trước hết phải là người lên tiếng trước đã. Nếu không thì tự dưng ai ban phát quyền lợi cho?

- Ông nói cũng phải!

Ông Thái đáp rồi phá lên cười ha hả. Tiếng cười của ông vang qua khu vườn xoài, lan đến cả những bụi hoa hồng dại phía ngoài cổng, khiến cho lũ gà con đang lích rích bới tìm thức ăn dưới gốc cây bưởi gần đó phải giật mình bỏ chạy toán loạn, lúc sau mới hoàn hồn.

Mạnh Trí nghe nói đến chuyện mùa màng thì ngồi cúi đầu, những nếp nhăn hằn sâu trên trán chú cứ nhíu lại rồi giãn ra đầy đăm chiêu. Nghĩ đến việc hai thầy trò sắp bỏ nhà ra đi, tự nhiên chú thấy luyến tiếc cuộc sống an cư lạc nghiệp bấy lâu nay. Những công việc ấy đã thành nếp quen, ăn sâu bén rễ trong sinh hoạt thường ngày của chú. Sáng mở mắt ra, chú tưới nước cho rau, chiều cắt cành, tỉa trái. Khi mệt thì ngồi nghỉ hút thuốc lào, hứng lên thì làm thịt gà, mổ cá để nhắm rượu, ăn uống phũ phê. Cuộc sống đó thật ổn thoả và vui thú biết bao. Sự tiếc nuối khiến chú ta ngồi ngẩn ra hồi lâu. Rồi không kìm được, chú bất giác thở dài.

- Những việc mà bác Thái vừa nói, từ giờ, đối với hai thầy trò chúng tôi có lẽ cũng chẳng còn ý nghĩa gì lắm nữa đâu!...Chúng tôi sắp…- Mạnh Trí xoay xoay cây đũa đặt trên chiếc bát, nói.

Thầy Mạnh Long đang ung dung ruốt râu, nghe thấy thế thì giật mình đánh thót, một bên đầu gối va vào mép bàn đau điếng. Ông nhăn mặt, cố nén đau, rồi vội lừ mắt để ngăn không cho đứa cháu buộc miệng tiết lộ thiên cơ thêm nữa. Con người Mạnh Trí mọi thứ đều tốt, điều duy nhất khiến bác khổ tâm và lo lắng là chú ta hay lỡ lời. Thành ra tất cả những gì bác muốn dấu đều bị ông cháu quý hoá phơi bày ra cho bàn dân thiên hạ biết hết cả. Cái tật xấu này bác đã dặn dò và uốn nắn nhiều lần, nhưng vì đãng trí nên nó vẫn cứ quên luôn. Về phần mình, Mạnh Trí cũng biết mình lỡ lời, liền đưa tay lên bịt miệng, rồi từ đó cứ ngồi im như thóc mà không dám nói thêm câu nào nữa.

Nhìn thái độ lén lút và có phần bí ẩn của hai thầy trò, từ đầu ông hàng xóm đã sinh nghi. Thêm lần này nữa, khiến ông càng dám chắc đến bảy, tám phần. Mặc dù chẳng lạ gì cái đức tính kỳ quặc của thầy Mạnh Long, nhưng chưa bao giờ ông thấy bác ta tỏ ra thậm thụt như vậy cả. “Hai thầy trò nhà này có chuyện gì mà bí mật thế nhỉ?” – Ông nghĩ thầm trong bụng. Để dò ý tứ, ông đưa mắt hết nhìn thầy Mạnh Long rồi lại quay sang nhìn Mạnh Trí, thế nhưng họ vẫn làm ra vẻ tự nhiên như không. Mặc dù rất tò mò, nhưng vì phép lịch sự, ông cũng không tiện hỏi han gì thêm. Ông Thái ngồi chơi một lúc nữa, uống thêm vài chén rượu rồi đứng lên chào từ biệt hai thầy trò Mạnh Long để ra về.

Thứ Tư, 9 tháng 7, 2025

HIỆP SĨ TRỨ DANH (Chương I)

 

PHẦN I: CHÂN DUNG HIỆP SĨ

 Đạo Nhân Thi Quán

Nếu có dịp đi qua xã Yên Phong, đến lối rẽ có nhiều cây Nhãn cổ thụ mọc um tùm, quý khách sẽ bắt gặp một cái cổng gỗ sập sệ, bên trên có dòng chữ  “Đạo Nhân Thi Quán” được viết bằng sơn đen. Khách qua đường, dù là người khó tính đến mấy, khi nhìn lên cũng phải gật gù mà tấm tắc khen rằng, cái tên ấy thật hay, thật đẹp và có một vẻ gì đó hoài cổ. Có thể nhiều người còn vô tâm chưa biết, nhưng đây chính là trang trại và cũng là nơi ở của vị cao nhân ẩn dật “Toạ Long” trứ danh. Theo tiếng Hán Việt, “Toạ” là ngồi, còn “Long” có nghĩa là rồng, cũng là tên riêng của chủ nhân vậy. Hiểu nôm na là rồng ngồi. Ngày lại ngày, con rồng gầy gò ấy lại chống cây gậy gỗ Lê ra ngồi trên chiếc ghế đá ngoài vườn, vừa đưa tay vuốt nhẹ chòm râu lưa thưa, vừa ung dung nhìn cây, ngắm cá. Cũng giống như các cao nhân ẩn dật xưa, bác ta sống khép kín và nhìn đời bằng một ánh mắt lơ đãng, bàng quan. Vốn bản tính xem nhẹ công danh, bác coi thế sự ngoài kia như mây bay, khói toả, mặc cho ngày tháng dần trôi mà chẳng chút bận lòng. Thật đúng như cảnh:

…Thu ăn măng trúc, đông ăn giá

Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

Rượu đến gốc cây ta sẽ nhắp

Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

 Tọa lạc trong khuôn viên rộng chừng vài mẫu ta, “Đạo nhân thi quán” như một thế giới riêng tĩnh lặng với ngút ngàn màu xanh cây trái. Về địa giới hành chính thì phía tây giáp cánh đồng làng, hai mặt đông bắc giáp với nhà người ta. Còn phía nam thì nối liền với đường cái bằng một con ngõ chạy quanh co, hai bên được trồng đầy những bụi hoa hồng dại. Ngoài ra còn có một cái ao rộng để nuôi cá mè, cá trắm và rô phi. Ngoài cây ăn trái, vườn còn trồng thêm rau củ, đậu lạc, mùa nào thức nấy xanh tươi. Ở góc đông nam khu vườn, chủ nhân còn cho xây thêm một dãy chuồng gà lợp mái fibro xi măng uốn lượn, ước chừng có thể chứa đến vài trăm con cả trống lẫn mái.

Một bức tường thấp lấm tấm rêu xanh, được xây để ngăn cách khoảng sân và khu vườn với nhau. Dọc phía trên bờ tường, những chậu cảnh bằng sứ được chăm sóc tỉ mỉ đặt ngay ngắn.  Tùng phụ tử ôm ấp, cây lớn vươn cao tựa như đang chở che, bao bọc lấy thân cây con phía dưới. Cạnh đó là cây Thường Xuân xanh tốt, rồi đến hoa Lan Ý trắng muốt, ý nhị phô ra từ đám lá xanh rì, như đang muốn đua sắc cùng với những đóa hồng đỏ thắm rung rinh.

 Ở vị trí trung tâm, căn nhà lớn (người miền quê gọi là nhà trên) nằm quay mặt hướng đông, gồm ba gian, trần gỗ và mái được lợp mái ngói âm dương kín kẽ. Dãy nhà ngang thì ngoảnh về hướng nam, đầu hồi còn có một cái chái nhô ra để làm bếp. Hồi hai cô con gái còn chưa đi lấy chồng, căn nhà luôn ấm cúng và không ngừng vang lên những tiếng nói cười trong trẻo. Giờ này, chỉ còn hai ông bà ở với nhau, căn nhà bổng trở nên trống vắng và thênh thang đến lạ thường. Không còn người ở, dãy nhà ngang cũng được biến thành nhà kho để chứa nông cụ và đồ đạc. Bên trong được kê một cái giường cá nhân, năm thì mười hoạ, vào mùa thu hoạch cây trái, anh người ở mới ngủ lại đây để tiện bề trông nom công việc. Ngoài ra còn có một bộ bàn ghế nhỏ, một cái tủ đứng hai ngăn kê ở góc nhà được làm bằng gỗ Săng Lẻ cũ kĩ.

Với một cơ ngơi rộng lớn như thế, dĩ nhiên là cần phải có người quản lý và trông coi. Vì vậy mà hai ông bà đã thuê đứa cháu họ đến để giúp việc. Người cháu ấy tên Mạnh Trí, năm nay 33 tuổi, đã có vợ con và cũng ở ngay trong xóm này. Đó là một anh chàng lực điền, dáng người thấp đậm với cơ thể cường tráng, cơ bắp. Cứ một tuần ba bữa, Mạnh Trí lại đến đây để chăm sóc gà vịt và cây trái trong vườn. Ngày thường đã nhiều việc, đến mùa thu hoạch thì anh ta lại càng bận tíu  tít, phải làm lụng suốt ngày mà chẳng mấy khi được ngơi tay. Thực lòng mà nói, bố mẹ đặt tên là Mạnh Trí nhưng trí chẳng mạnh chút nào, ở nhà anh chàng thường xuyên bị vợ rầy la vì chậm hiểu và vô dụng. Chỉ vì thương nó hiền lành mà ông tận tình chỉ bảo, rồi hai bác cháu cứ thế quấn quýt như thầy trò từ lúc nào không hay. Tuy Mạnh Trí tối dạ, có gì nói nấy, nhưng được cái cần mẫn siêng năng, vả lại đó cũng là một đức tính tốt vậy.

Tuy không gọi là giàu có, nhưng cơ ngơi của “Toạ Long” tiên sinh cũng được coi là thường thường bậc trung trong vùng.

Thầy Mạnh Long - chủ nhân của “Đạo Nhân Thi Quán” - vốn dòng thi thư, năm nay đã 55 tuổi. Bác ta trước đây là công chức, nhưng vì sức khoẻ yếu cho nên xin về nghỉ mất sức đã mấy năm nay. Về sau này, mỗi khi nghĩ lại, bác đều cho rằng đó là một quyết định đúng đắn và hợp thời vụ nhất mà mình đã từng làm trong đời. Nhờ thế mà bác có nhiều thời gian để theo đuổi những công việc mà mình tâm đắc, như làm vườn hay trồng cây cảnh chẳng hạn. Quan trọng hơn cả là tha hồ đọc sách, cái thú mà bác vốn đam mê nhất đời. Với vóc người cao dong dỏng, nhân vật của chúng ta nom giống như một thi nhân hơn là hảo hán giang hồ. Tuy nhiên, phong cách sống của bác lại hao hao như các anh hùng trong những bộ tiểu thuyết kiếm hiệp xưa. Mỗi lần gặp chuyện bất bình là thầy Mạnh Long đều ra tay cứu giúp, bênh vực người yếu thế, trừng trị những kẻ gian tham. Nhìn chính diện, khuôn mặt bác ta nom khắc khổ, mũi gồ, trán thấp và có nhiều nếp nhăn. Theo tướng học, đây là kiểu trán của những người thông minh và có trí tuệ sắc sảo tuyệt vời. Đó cũng là lý do vì sao bác nhớ hết nội dung và tên tuổi nhân vật trong tất cả những cuốn sách mà mình đã từng đọc, dù mới chỉ là lần đầu.

Bà vợ bác tên Lan, mỏng mảnh và hiền dịu như một đoá Lan rừng. Ông bà cưới nhau từ thủa đôi mươi, có hai đứa con gái nay đều đã ra cửa nhà. Mối quan hệ xã hội của gia đình họ khá đơn giản, chẳng mấy khi nằm ngoài những nhân vật quen biết vốn đã thân thuộc từ lâu. Ngoài các bạn tổ tôm, khách hay đến chơi nhà còn có bác Lâm trưởng tộc và ông hàng xóm tốt bụng nữa.

Những khi rảnh rỗi, thi thoảng thầy Mạnh Long cũng có làm thơ, phần lớn là nói về lũ chó, gà trong vườn nhà, ngoài ra còn có một số bài tức cảnh và cảm thán thời cuộc. Bởi vậy mà gọi là “Thi quán” thì cũng không có gì là quá đáng cả. Lâu lâu lại có vài người bạn thơ đến họp mặt, uống rượu ngâm thơ rồi nói cười hỉ hả. Đúng như câu “Khi xem hoa nở, khi chờ trăng lên” vậy. Là người hoài cổ, nên ngoài tủ sách quý, ở chính giữa nhà bác còn kê một bộ sập gụ tủ chè, hai bên cánh tủ được khảm tỉ mỉ những tích cũ như “Lưỡng Long chầu Nguyệt”, “Ngư, tiều, canh, mục” nom khá cầu kỳ. Gần cửa sổ là góc mà bác ưa thích nhất, ở đó được kê một bộ trường kỷ đã nhẵn bóng bởi thời gian. Từ đây chủ nhân có thể ngồi một mình hàng giờ mà nhìn ra vườn, ngắm những khóm hoa nở ngoài đó, rồi nhâm nhi li rượu để đạt đến cảnh giới thăng hoa tư tưởng. Những vần thơ bất hủ của bác được dân làng truyền tụng và nghêu ngao đọc cũng xuất phát ý tưởng từ chính nơi bộ trường kỷ này đây.

 Vốn là người đam mê văn học cổ điển Tàu đến độ cuồng, các tác phẩm ấy hầu như Mạnh Long tiên sinh đều thuộc lòng cả, hỏi đến đâu kể đến đó. Nào là Tam quốc diễn nghĩa, Thủy hử, Hồng Lâu Mộng, Sử ký Tư Mã Thiên, cho đến Tứ Thư, Ngũ Kinh. Các đại thi hào như Đỗ Phủ, Lý Bạch, Bạch Cư Dị…cũng được bác để tâm mà nghiên cứu kỹ lưỡng. Đặc biệt là các tiểu thuyết kiếm hiệp như: Ỷ Thiên Đồ Long Ký, Anh hùng xạ điêu, Thiên Long Bát Bộ, Tiếu Ngạo Giang Hồ của Kim Dung. Song Kiếm của Hà Tả. Chiến thần biến của Tiểu Đao Phong Lợi. Ma Thiên Ký của Vong Ngữ. Phong Vân của Mã Vinh Thành, Đan Thanh…

Mỗi khi đến chơi “Đạo nhân thi quán”, khách đều nhìn thấy ngay cái tủ sách lớn kê ở phòng ngoài. Bên trong bày đủ những thể loại kim cổ đông tây, đặc biệt là các tác phẩm văn học cổ điển của Trung Quốc. Để có được một tủ sách phong phú như thế, bác đã phải dành tâm huyết cả đời để mà sưu tầm không biết mệt mỏi. Có một tủ sách lớn như thế, vốn là niềm tự hào to lớn của những người có học vấn lúc bấy giờ vậy.

 Thầy Mạnh Long sinh ra đúng vào thời kỳ Nho học suy tàn để nhường chỗ cho Tây học. Người ta cho rằng thầy là người “Sinh bất phùng thời”. Vì nếu là ở thời thịnh Nho, với tài học của mình, ắt hẳn thầy sẽ đỗ đạt làm quan to, chí ít cũng là một đồ Nho uyên thâm, đào tạo ra những học trò là trạng nguyên, bảng nhãn để làm rạng danh cho quê hương, xứ sở chứ chẳng đùa.

Về phong cách, thầy Mạnh Long nhà ta sống đúng theo kiểu “Bảy thực, ba hư”. Có nghĩa là bảy phần tỉnh, ba phần mê. Những lúc tỉnh táo, chuyện đối nhân xử thế của bác không có gì đáng để phàn nàn, nếu không muốn nói là còn có phần lịch thiệp và dễ mến nữa là khác. Nhưng hễ mà khi tiểu thuyết kiếm hiệp, dã sử nhập vào người, bác ta lại bắt đầu hoa chân múa tay mà nói năng như mê sảng. Ngôn từ lúc bấy giờ cũng trở nên khác hẳn, giống hệt như trong các sách ấy vậy. Nào là: Cô nương, tiểu thư, tráng sĩ, hiệp sĩ, hảo hán, cái bang, chưởng môn, kiếm pháp, võ công, vận khí, khinh công, thiên hạ vô địch, bí kíp võ công, lục đại môn phái…; Khiến cho những người nghe không khỏi ngạc nhiên, thậm chí không thể nhịn được cười vì cái sự ngộ nghĩnh và kỳ khôi ấy của bác. Ở bác, thế giới trong sách và đời thực nhập nhằng với nhau, thời xưa và thời nay đôi lúc hoà làm một, cho nên người ta khó mà phân biệt cho rõ nét được. Người khéo tưởng tượng thì cho rằng, bác chính là một nhân vật du hành thời gian sống ở thời kỳ trung cổ. Chính vì ghét sự gian tà, bác ta tự vỗ ngực nhận mình thuộc dòng danh môn chánh phái. Nhưng theo chúng tôi nghĩ, với dáng dấp, trang phục cũng như vũ khí là trường côn (thực ra là một cây gậy) như thế, bác ta nom giống như một đệ tử của cái bang thì đúng hơn. Trong tiểu thuyết kiếm hiệp, Cái Bang được coi là môn phái lớn nhất, là tập hợp của những người ăn mày lang thang và hành hiệp trượng nghĩa. Xuất xứ ăn xin của đệ tử môn phái này tuy không được vẻ vang cho lắm, nhưng cái sự yêu chuộng nghĩa khí thì bác ta lại rất thích. Vậy nên, nếu nói bác là đệ tử của Cái Bang thì cũng xứng đáng, chẳng có gì phải nhục mệnh lắm vậy.

Thầy Mạnh Long sống một cuộc đời giản dị và điều độ. Ông sinh hoạt lành mạnh, yêu văn học và có tư tưởng lạc quan. Về chuyện ăn uống cũng vậy, chẳng có gì gọi là khó tính, vì con người ông vốn đơn giản. Ngày ba bữa cơm đạm bạc, đúng hơn là hai bữa trưa và chiều, còn thì buổi sáng nhiều lúc ông cũng chẳng buồn ăn nữa, chỉ cần một li cà phê đường (Đôi chi cho thêm ít sữa) để trí óc được tỉnh táo là đủ rồi. Vì sáng ra là ông đã vùi đầu vào sách ngay, đọc say mê đến độ quên cả thời gian. Mùa hè ông ra ngồi ở bộ bàn đá ngoài vườn xoài, đọc sách cho đến khi ánh nắng chiếu xuyên qua kẽ lá và rọi thẳng vào mắt mới đứng dậy, vào nhà cất sách rồi sau đó mới làm gì thì làm. Mùa đông, để tránh rét, ông ngồi trong nhà, trên chiếc trường kỷ nhẵn bóng cạnh cửa sổ, nơi có những khóm mẫu đơn bốn mùa đơm hoa.

Tóm lại, niên biểu sống của thầy Mạnh Long khá đơn giản: Thường ngày ngâm thơ, uống rượu và luận bàn văn học. Những khi cao hứng thì đi đánh bài tổ tôm với các cụ già trong xóm. Còn thì phần lớn thời gian bác giành ra để đọc sách. Rảnh nữa thì xắn tay áo lên giúp vợ làm vườn, cho cá, cho gà ăn như một lão nông thực thụ.

Khoản lương hưu ít ỏi, có bao nhiêu ông đều bỏ ra để mua sách hết. Bởi vậy mà không có gì lạ, khi ông là khách quen và nhẵn mặt của thư viện. Mỗi khi nhìn thấy cái dáng cao gầy của ông hấp tấp bước vào, cô thủ thư xinh đẹp liền ngẩng đầu lên, nói ngay:

- Hôm nay có sách mới đấy bác. Hay lắm! Để cháu lấy bác xem nhé!

Rồi trước sự háo hức của ông, cô mang sách đến, mỉm cười và nhẹ nhàng đặt lên mặt quày.

Ông đeo kính vào, đưa những ngón tay gầy gò như của một triết gia, cẩn thận lật dở từng trang sách rồi đọc lướt qua. Nếu thấy thích, ông sẽ không ngần ngại mà bỏ tiền ra mua ngay tắp lự. Thầy Mạnh Long không giàu, nhưng với sách thì ông là người hào phóng, không bao giờ tiếc tiền. Thành thử thầy chính là khách sộp của cái hiệu sách nhỏ này vậy. Ở cái xã con con này, người quan tâm đến sách đã ít, nói gì đến đam mê và không ngại bỏ tiền ra để mua sách như thế.

Thiên hạ đồn rằng, thầy Mạnh Long vì đọc nhiều nên đã thuộc hết mặt chữ, đến nỗi, cho dù có sơ ý mà cầm ngược sách thì thầy vẫn cứ đọc được như thường mà chẳng hề gặp phải chút khó khăn nào cả.

Danh ngôn có câu: “Phía sau sự thành công của một người đàn ông bao giờ cũng có bóng dáng của một người phụ nữ”. Câu nói trên càng đúng đối với trường hợp của thầy Mạnh Long ta đây vậy. Bà Lan vợ bác, vốn là một người phụ nữ tốt tính và rất mực yêu thương chồng. Một mình bà quán xuyến hết việc nhà và chăm lo kinh tế, để cho ông dành toàn thời gian, tâm sức mà theo đuổi đam mê văn học. Bà mặc cho ông làm gì tuỳ thích, kể cả những khi ông lên cơn mê sảng mà thao thao bất tuyệt về tiểu thuyết kiếm hiệp thì bà cũng bịt mắt, bưng tai mà chẳng bao giờ hé răng cãi lấy một lời.

Như đã nói ở trên, cũng vì cái tính hảo hán, thích hành hiệp trượng nghĩa ấy mà thầy Mạnh Long thường xuyên gây phiền phức cho bà vợ vốn hiền lành của mình. Mỗi lần nghe tin bác ta gây sự ở đâu đó là bà lại hốt hoảng cùng với bác trưởng tộc hoặc ông hàng xóm tốt bụng tìm đến để hoà giải và xin chuộc chồng về.

Nói phải tội, bà vợ cũng vì cái đức tính kỳ quái, thất thường ấy của ông chồng mà trở nên héo hon, gầy mòn. Vì rằng, chiều chuộng được bác đã khó, chứ đừng nói chi đến khuyên nhủ. Nào ai có thể can ngăn được một trang hảo hán, đầu đội trời chân đạp đất như bác kia chứ. Nhưng để công bằng, cũng phải nói thêm, ngoài cái tật hay gây rắc rối khiến cho vợ lúc nào cũng phải khổ tâm ấy, còn lại thì đức tính nào của bác ta cũng đều tốt và đáng để học hỏi cả.